Tổng quan nghiên cứu

Viêm xoang mạn tính là một trong mười bệnh lý phổ biến nhất tại các phòng khám chuyên khoa Tai Mũi Họng trên toàn cầu, ảnh hưởng đến khoảng 33,7 triệu người mỗi năm tại Hoa Kỳ và chiếm tỷ lệ từ 2% đến 5% dân số tại Việt Nam theo số liệu từ Viện Tai Mũi Họng Trung ương. Bệnh lý này có diễn biến phức tạp, dai dẳng và dễ tái phát do sự kết hợp của nhiều yếu tố như biến đổi cấu trúc giải phẫu, nhiễm vi nấm, bệnh lý cuống răng hàm trên và các tổn thương dạng u. Những đợt viêm kéo dài không chỉ gây tổn hại cấu trúc niêm mạc mà còn làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Luận văn chuyên khoa Chẩn đoán hình ảnh của tác giả Phạm Thúy Vy tập trung nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi và xác định giá trị thực tiễn của chụp cắt lớp vi tính trong việc chẩn đoán các nhóm nguyên nhân gây viêm xoang mạn tính. Đề tài được triển khai thực hiện trên 150 bệnh nhân tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ và Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ trong giai đoạn từ tháng 05 năm 2020 đến tháng 07 năm 2022.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi xây dựng bản đồ giải phẫu chi tiết cho từng cá thể, giúp bác sĩ phẫu thuật định hướng chính xác vị trí bít tắc và mức độ xâm lấn của tổn thương trước khi tiến hành phẫu thuật nội soi chức năng mũi xoang. Điều này góp phần nâng cao tỷ lệ thành công của các ca phẫu thuật, giảm thiểu tối đa các biến chứng xâm lấn vào nền sọ và hốc mắt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết bệnh sinh viêm xoang hiện đại và thuyết dẫn lưu vùng phức hợp lỗ ngách được khởi xướng bởi Zinreich và Kennedy. Theo mô hình này, phức hợp lỗ ngách tại khe mũi giữa đóng vai trò then chốt trong việc duy trì sự thông khí và dẫn lưu dịch sinh lý của hệ thống xoang hàm, xoang trán và xoang sàng trước. Bất kỳ sự cản trở cơ học hay viêm nhiễm nào tại khu vực này đều dẫn đến ứ đọng dịch nhầy, thiếu oxy cục bộ và chuyển hóa niêm mạc thành ổ viêm mạn tính.

Luận văn vận dụng tiêu chuẩn chẩn đoán viêm xoang mạn tính của Hội Tai Mũi Họng và Phẫu thuật Đầu Mặt Cổ Hoa Kỳ năm 2015, yêu cầu sự hiện diện liên tục của từ hai triệu chứng lâm sàng trở lên kéo dài trên 12 tuần kết hợp với bằng chứng khách quan trên nội soi hoặc phim chụp cắt lớp vi tính. Đồng thời, tác giả áp dụng phân loại viêm xoang do nấm của Glienser D thành hai nhóm thể bệnh chính là xâm lấn và không xâm lấn. Các khái niệm bệnh học quan trọng được làm rõ bao gồm khí hóa cuốn giữa, quá phát mỏm móc, tế bào Haller, polyp mũi xoang thoái hóa và u nhú đảo ngược.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế tiến cứu, mô tả cắt ngang trên cỡ mẫu gồm 150 bệnh nhân được chẩn đoán viêm xoang mạn tính có chỉ định phẫu thuật nội soi và kiểm tra mô bệnh học. Cỡ mẫu được tính toán chặt chẽ dựa trên công thức ước lượng một tỷ lệ với mức tin cậy 95%, hệ số Z bằng 1,96, sai số tuyệt đối d bằng 0,025 và tỷ lệ chính xác kỳ vọng của chụp cắt lớp vi tính đạt 97,5% theo các y văn chuẩn mực. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng cho toàn bộ người bệnh đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu trong thời gian từ tháng 05/2020 đến tháng 07/2022.

Quy trình thu thập dữ liệu sử dụng máy chụp cắt lớp vi tính đa dãy Philip Brilliance 16 lát cắt và Siemens Somatom 16 lát cắt với độ dày lát cắt 2mm, chụp theo mặt phẳng cắt ngang và tái tạo đa mặt phẳng đứng ngang và đứng dọc trên cửa sổ xương không tiêm thuốc cản quang. Dữ liệu hình ảnh được đối chiếu trực tiếp với kết quả quan sát trong phẫu thuật nội soi và kết quả xét nghiệm mô bệnh học vi thể. Toàn bộ số liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS 25.0 và Microsoft Excel 2013, sử dụng các thuật toán thống kê y học như kiểm định Chi-square, Fisher's exact test với mức ý nghĩa p dưới 0,05 và lập bảng ma trận 2x2 để tính toán độ nhạy, độ đặc hiệu cùng độ chính xác tổng thể.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát trên 150 đối tượng nghiên cứu ghi nhận độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 40,06 ± 14,97 tuổi. Nhóm tuổi lao động từ 31 đến 45 tuổi chiếm tỷ lệ mắc bệnh cao nhất với 34,0% (51 trường hợp), trong khi nhóm trên 60 tuổi chỉ chiếm 8,7% (13 trường hợp). Tỷ lệ nam giới mắc bệnh là 56,0% (84 trường hợp), cao hơn nữ giới với 44,0% (66 trường hợp).

Về mặt lâm sàng, triệu chứng cơ năng xuất hiện phổ biến nhất là chảy mũi chiếm 97,3% (146 bệnh nhân) và nghẹt mũi chiếm 96,0% (144 bệnh nhân), trong đó mức độ nghẹt mũi vừa được ghi nhận ở 60,4% trường hợp khi đo bằng gương Glatzel. Triệu chứng đau căng nặng mặt chiếm 78,7% và rối loạn khứu giác chiếm 52,0%. Lý do vào viện hàng đầu là nghẹt mũi chiếm 52,0% và chảy mũi chiếm 35,3%. Trên nội soi mũi xoang, niêm mạc phù nề và sung huyết xuất hiện ở 65,3% trường hợp, dịch nhầy đục tại khe giữa chiếm 41,3% và dị hình vách ngăn chiếm 40,7%.

Phân bố tổn thương các xoang trên phim chụp cắt lớp vi tính (N = 150)

Trên phim chụp cắt lớp vi tính, tổn thương một bên chiếm ưu thế với 65,3% so với tổn thương hai bên là 34,7%. Tình trạng bít tắc phức hợp lỗ ngách xảy ra ở 75,3% bệnh nhân (113 trường hợp). Về vị trí xoang, xoang hàm có tỷ lệ tổn thương cao nhất đạt 95,3% (trong đó tổn thương không hoàn toàn chiếm 87,3%), tiếp theo là xoang sàng chiếm 51,3%, xoang bướm chiếm 17,3% và xoang trán chiếm 10,6%.

Các bất thường giải phẫu được phát hiện gồm dị hình vách ngăn chiếm 45,3% (68 trường hợp), khí hóa cuốn giữa chiếm 15,3% (23 trường hợp), quá phát cuốn dưới chiếm 10,0% và tổn thương chân răng thông lên xoang hàm chiếm 8,7%. Về phân loại căn nguyên, dị hình cấu trúc là nguyên nhân hàng đầu chiếm 52,0%, kế đến là polyp mũi xoang chiếm 22,7%, do nấm chiếm 21,3%, do bệnh lý răng chiếm 12,0% và do khối u chiếm 10,0%.

Thảo luận kết quả

Khi đối chiếu giữa chẩn đoán hình ảnh cắt lớp vi tính với kết quả phẫu thuật và mô bệnh học, nghiên cứu ghi nhận sự tương đồng gần như tuyệt đối. Tỷ lệ chẩn đoán viêm xoang do nấm trên cắt lớp vi tính là 21,3% so với 20,7% trên phẫu thuật; nguyên nhân do polyp là 22,7% so với 22,0%; nguyên nhân do răng là 12,0% so với 11,3%; và nguyên nhân dị hình giải phẫu đạt sự thống nhất 52,0% ở cả hai phương pháp.

Biểu đồ phân bố nguyên nhân cho thấy sự kết hợp đa dạng giữa dị hình giải phẫu với các tổn thương thứ phát, điển hình như dị hình kết hợp polyp chiếm 7,3% hay dị hình kết hợp nấm xoang chiếm 6,0%. Sự bít tắc phức hợp lỗ ngách ghi nhận ở 75,3% bệnh nhân là cơ chế sinh bệnh học chính, làm giảm thông khí và tạo điều kiện cho vi nấm dạng sợi Aspergillus phát triển thành đám vôi hóa cản quang đặc trưng trên phim cắt lớp.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu trong nước và quốc tế của các tác giả như Nitin, Meng và Tăng Xuân Hải, khẳng định rằng chụp cắt lớp vi tính là phương tiện cận lâm sàng tối ưu, vượt trội hơn hẳn nội soi trong việc đánh giá các cấu trúc nằm sâu như tế bào Haller, mỏm móc khí hóa và mối tương quan đáy xoang hàm với chân răng.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Chuẩn hóa chỉ định chụp cắt lớp vi tính đa dãy lát mỏng (2mm): Bác sĩ chuyên khoa Tai Mũi Họng tại các cơ sở y tế tuyến tỉnh và trung ương cần chỉ định chụp cắt lớp vi tính 100% cho bệnh nhân viêm xoang mạn tính thất bại với điều trị nội khoa trên 12 tuần trước khi can thiệp phẫu thuật, lộ trình triển khai áp dụng ngay trong 3 tháng tới.
  2. Áp dụng bảng kiểm giải phẫu trước phẫu thuật nội soi: Khoa Phẫu thuật Tai Mũi Họng cần thiết lập quy trình đối chiếu bảng kiểm giải phẫu nhằm nhận diện 100% các biến thể cấu trúc nguy cơ cao như tế bào đê mũi quá phát, vách ngăn gai lệch chạm cuốn giữa và chân răng trồi đáy xoang trước khi mổ, mục tiêu giảm tỷ lệ tai biến xuống dưới 0,5% trong năm 2023.
  3. Tăng cường phối hợp liên chuyên khoa Răng Hàm Mặt và Tai Mũi Họng: Các bệnh viện cần xây dựng phác đồ hội chẩn liên chuyên khoa đối với các trường hợp tổn thương xoang hàm một bên có triệu chứng chảy mủ hôi (chiếm 12% nguyên nhân do răng), thực hiện xử lý triệt để ổ nhiễm trùng cuống răng nhằm đạt tỷ lệ khỏi bệnh dứt điểm trên 95% trong 6 tháng.
  4. Đào tạo liên tục về kỹ năng đọc phim cắt lớp vi tính xoang: Bộ môn Chẩn đoán hình ảnh và các hiệp hội nghề nghiệp cần tổ chức các khóa tập huấn định kỳ 6 tháng một lần cho đội ngũ bác sĩ tuyến cơ sở, nâng cao năng lực phát hiện sớm các dấu hiệu u nhú đảo ngược và nấm xoang xâm lấn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Bác sĩ chuyên khoa Tai Mũi Họng: Nắm bắt chi tiết các mốc giải phẫu phức hợp lỗ ngách, biến thể cấu trúc cuốn mũi và định hình chiến lược phẫu thuật nội soi can thiệp tối thiểu an toàn, hiệu quả.
  • Bác sĩ Chẩn đoán hình ảnh: Tham khảo nguồn tư liệu chuẩn xác để phân tích đặc điểm đậm độ mô mềm, dấu hiệu vi vôi hóa của nấm và tiêu hủy xương trong các bệnh lý u xoang.
  • Bác sĩ chuyên khoa Răng Hàm Mặt: Hiểu rõ mối liên quan giải phẫu giữa chóp răng hàm trên với sàn xoang hàm, từ đó thận trọng trong các thủ thuật nhổ răng, cấy ghép implant và điều trị tủy.
  • Học viên sau đại học và sinh viên y khoa: Sử dụng làm tài liệu học tập chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu lâm sàng kết hợp chẩn đoán hình ảnh và kỹ thuật phân tích số liệu y học.

Câu hỏi thường gặp

Chụp cắt lớp vi tính có vai trò gì vượt trội hơn so với nội soi mũi xoang thông thường?

Nội soi mũi xoang chỉ quan sát được bề mặt niêm mạc và các tổn thương lộ diện trong hốc mũi. Trong khi đó, chụp cắt lớp vi tính cho phép đánh giá toàn diện các xoang nằm sâu, mức độ dày niêm mạc, tình trạng tiêu xương, độ bít tắc phức hợp lỗ ngách và các biến thể giải phẫu mà đầu dò nội soi không thể tiếp cận được.

Dị hình giải phẫu nào là nguyên nhân phổ biến nhất dẫn đến viêm xoang mạn tính?

Dị hình vách ngăn mũi là bất thường phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ 45,3% trên hình ảnh cắt lớp vi tính trong nghiên cứu. Tình trạng vẹo, gai hoặc mào vách ngăn chèn ép trực tiếp vào cuốn giữa gây hẹp khe mũi, dẫn đến tắc nghẽn đường dẫn lưu tự nhiên của hệ thống xoang.

Hình ảnh viêm xoang mạn do nấm trên phim chụp cắt lớp vi tính có đặc điểm gì đặc trưng?

Viêm xoang do nấm thường biểu hiện tổn thương khu trú một bên xoang hàm hoặc xoang bướm, với hình ảnh khối tăng đậm độ mô mềm không đồng nhất kèm theo các nốt vôi hóa dạng chấm lốm đốm cản quang cao bên trong lòng xoang và hiện tượng dày màng xương phản ứng xung quanh.

Tại sao bệnh lý ở răng hàm trên lại gây viêm xoang hàm mạn tính một bên?

Chân các răng hàm nhỏ và răng cối lớn hàm trên nằm sát hoặc đội vào lòng sàn xoang hàm, chỉ ngăn cách bởi một bản xương mỏng. Khi các răng này bị sâu, viêm quanh cuống hoặc biến chứng sau nhổ răng, vi khuẩn yếm khí dễ dàng xâm nhập trực tiếp lên biểu mô xoang hàm gây viêm mủ một bên có mùi thối đặc trưng.

Khi nào người bệnh viêm xoang mạn tính cần được can thiệp bằng phẫu thuật nội soi?

Bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật nội soi chức năng mũi xoang khi các triệu chứng viêm xoang kéo dài trên 12 tuần đã điều trị nội khoa tích cực đúng phác đồ nhưng không thuyên giảm, kèm theo bằng chứng bít tắc phức hợp lỗ ngách, xuất hiện polyp, khối nấm hoặc có dị hình giải phẫu cản trở dẫn lưu xoang trên phim chụp cắt lớp vi tính.

Kết luận

  • Luận văn đã xác định rõ đặc điểm dịch tễ của bệnh nhân viêm xoang mạn tính với độ tuổi trung bình là 40,06 tuổi, tập trung cao nhất ở nhóm 31-45 tuổi (34,0%) và nam giới chiếm đa số (56,0%).
  • Chảy mũi (97,3%) và nghẹt mũi (96,0%) là hai triệu chứng lâm sàng nổi bật nhất; xoang hàm là vị trí tổn thương thường gặp nhất chiếm 95,3% và phức hợp lỗ ngách bị bít tắc ở 75,3% trường hợp.
  • Dị hình giải phẫu mũi xoang chiếm tỷ lệ căn nguyên cao nhất với 52,0%, tiếp theo là polyp mũi xoang (22,7%), nấm xoang (21,3%) và bệnh lý răng miệng (12,0%).
  • Chụp cắt lớp vi tính chứng minh giá trị chẩn đoán vượt trội với độ tương đồng rất cao so với kết quả phẫu thuật nội soi và xét nghiệm giải phẫu bệnh, khẳng định vai trò là bản đồ dẫn đường bắt buộc trước mổ.
  • Đề tài đóng góp cơ sở khoa học vững chắc giúp chuẩn hóa quy trình chẩn đoán hình ảnh và nâng cao chất lượng điều trị phẫu thuật nội soi mũi xoang tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Bạn đọc và các đồng nghiệp y khoa quan tâm có thể tiếp tục tra cứu toàn văn luận văn tại thư viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ để ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn khám chữa bệnh lâm sàng.