CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về ung thư tuyến giáp thể biệt hóa kháng i-ốt phóng xạ: Ung thư tuyến giáp (UTTG) là bệnh ung thư chiếm tỷ lệ 3% trong các bệnh ung thư nói chung nhưng là bệnh ác tính phổ biến nhất của tuyến nội tiết chiếm 90%. Năm 2017 tại Mỹ ước tính có khoảng 56.870 trường hợp UTTG mới được chẩn đoán và 2.010 ca tử vong do UTTG. Bệnh nhân UTTG có nhiều thể mô bệnh học, tuy nhiên UTTG biệt hóa chiếm khoảng 80-85% số bệnh nhân UTTG bao gồm 3 thể mô bệnh học: thể nhú, thể nang và thể tế bào Hurthle.
Hiện nay người ta chưa tìm thấy nguyên nhân rõ ràng nào sinh bệnh ung thư tuyến giáp. Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ đưa ra các yếu tố nguy cơ cao dễ mắc bệnh. Hiệp hội các nhà ung thư Hoa Kỳ đã đưa ra 1 số yếu tố nguy cơ hay gặp như sau5: (i)Tiền sử xạ trị vùng cổ hoặc tiền sử tiếp xúc, chiếu tia X hay các tia liên quan tới máy chụp cắt lớp vi tính; (ii) Chế độ ăn thiếu i-ốt làm tăng nguy cơ mắc các bướu giáp đơn thuần cũng như ung thư tuyến giáp thể nang; (iii) Tiền sử mắc các bệnh tuyến giáp mạn tính như viêm tuyến giáp mạn tính Hashimoto hoặc viêm tuyến giáp bán cấp De Quervain…có nguy cơ cao mắc ung thư tuyến giáp; (iiii) Yếu tố di truyền và nguồn gốc gen3. Trong hơn 50 năm qua, i-ốt phóng xạ được sử dụng để điều trị ung thư tuyến giáp (UTTG) biệt hóa sau phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp và vét hạch cổ.
Theo nghiên cứu hồi cứu và phân tích đa biến, hấp thụ 131I có thể giảm nguy cơ bệnh tái phát lên đến 50% và nguy cơ di căn thấp hơn 3%, giảm tỷ lệ tử vong10. Theo số liệu công bố tại Mỹ, trong số 2.936 bệnh nhân (BN) UTTG thể biệt hóa có 2.204 BN, chiếm 75% khỏi bệnh sau khi cắt toàn bộ hoặc gần toàn bộ tuyến giáp, điều trị i-ốt phóng xạ và dùng hormone tuyến giáp bổ sung. Trong những BN được xem như khỏi bệnh sau điều trị ban đầu thì 10% bệnh tái phát trung bình sau 1,5 năm, 71% tái phát tại chỗ, di căn hạch vùng và 18% có di căn xa11. Tác dụng điều trị của 131I rất hiệu quả, kể cả trên các bệnh nhân UTTG biệt hóa có di căn xa, đặc biệt là di căn phổi, thường thấy ở các tổn thương bắt i-ốt phóng xạ mức độ cao.
Các trường hợp 4 hiệu quả điều trị tốt thường thấy ở các bệnh nhân trẻ, UTTG thể nhú, biệt hóa cao. Trên các bệnh nhân này, i-ốt phóng xạ tạo ra được sự đáp ứng tốt tại các tổn thương dẫn tới bệnh ổn định và thời gian sống thêm rất dài12. Tuy nhiên, điều trị bằng i-ốt phóng xạ thường ít hiệu quả hơn trên các bệnh nhân lớn tuổi, những bệnh nhân có thể tích khối u còn lại lớn và độ biệt hóa của tế bào khối u kém. Các trường hợp này thường bắt i-ốt phóng xạ kém và hiệu quả điều trị 131I không cao.
Hơn nữa, điều trị bằng 131I nhiều lần sẽ dẫn tới giảm hiệu quả điều trị vì các tổn thương của khối u sẽ mất dần khả năng bắt i-ốt phóng xạ13. Với phần lớn bệnh nhân UTTG biệt hóa thì các phương pháp điều trị nói trên cho hiệu quả cao và tỉ lệ sống thêm 5 năm khoảng 83-98% ở các bệnh nhân dưới 80 tuổi. Tuyến giáp hấp thu i-ốt phóng xạ và tia beta của 131I sẽ tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại tại vị trí khối u sau phẫu thuật, vì vậy, điều trị bằng i-ốt phóng xạ là phương pháp điều trị chủ yếu sau phẫu thuật. Tuy nhiên, có khoảng 5-15% số bệnh nhân không đáp ứng với 131I và có tiên lượng khá xấu.
Trong khoảng 10 năm gần đây, các nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm UTTG biệt hóa kháng iot phóng xạ (Radioactive idodine Refractory - RAI refractory). Có nhiều định nghĩ và tiêu chuẩn khác nhau, tuy nhiên, định nghĩa về kháng 131I được chấp nhận rộng rãi trên lâm sàng là tổn thương ác tính không bắt phóng xạ trên xạ hình sau khi được điều trị liều 131I lớn hơn 30 mCi hoặc tổn thương không bắt 131I qua nhiều lần làm XHTT chẩn đoán5. Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sống thêm 5 năm ở các bệnh nhân UTTG biệt hóa không bắt 131I là 66% và tỉ lệ sống thêm 10 năm là khoảng 10%. Thời gian sống thêm của các bệnh nhân UTTG biệt hóa kháng 131I và có di căn xa trung bình khoảng 2,5-3,5 năm6.
Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng và chẩn đoán ung thư tuyến giáp biệt hoá kháng i-ốt phóng xạ 1. Triệu chứng lâm sàng - Triệu chứng cơ năng: + Với các bệnh nhân giai đoạn đầu, triệu chứng thường nghèo nàn, ít có giá 5 trị, BN có thể sờ thấy khối u tái phát hay các hạch di căn. + Ở giai muộn, BN có thể các triệu chứng thấy khàn tiếng, khó thở, đau lưng hay đau tại các vị trí di căn xương … + Tuy nhiên, phần lớn BN được phát hiện tái phát, di căn khi theo dõi định kỳ. - Triệu chứng thực thể: + Hạch cổ: đa số cùng bên (có thể có hạch cổ đối bên hoặc hai bên), hạch cảnh, thượng đòn, dưới hàm, hạch gai với đặc điểm hạch rắn, di động không đau.
Các trường hợp giai đoạn muộn, khối u, hạch có thể lớn, chiếm hết vùng cổ, chèn ép khí quản gây khó thở, có tiếng rít thanh- khí quản, gây đau. + Một số BN theo dõi phát hiện di căn xa, vị trí di căn xa thường gặp là phổi, xương, trung thất, não. Các phương pháp chẩn đoán ung thư tuyến giáp biệt hoá kháng i-ốt phóng xạ 1. Xét nghiệm Thyroglobulin huyết thanh Thyroglobulin (Tg), một glycopeptide có khối lượng phân tử khoảng 670 kDa, là một protein được sản xuất chủ yếu ở các tế bào nang tuyến giáp, sự tổng hợp của nó được tăng cường bởi TSH.
Sau khi được tổng hợp, Tg bị biến đổi do sự gắn của i-ốt vào các tyrosine tồn dư (mỗi phân tử Tg có khoảng 120 tyrosine tồn dư), sau đó các tyrosine này được tái tổ hợp lại để tạo nên các iodothyronine, đặc biệt là thyroxine (T4) và một phần thyronine (T3). Tg cũng có thể bị biến đổi bởi sự glycat hóa hoặc sulfat hóa. Bình thường, chỉ một lượng nhỏ Tg nguyên vẹn tương ứng với khối lượng mô giáp vào được tuần hoàn. Người ta ước tính rằng 1 gam mô giáp làm tăng nồng độ Tg huyết thanh 1 ng/ml dưới sự kích thích bình thường của TSH và 0,5 ng/ml khi TSH bị ức chế.
Nồng độ Tg tham khảo ở những người có hấp thu i-ốt bình thường từ 3-40 ng/ml. Tăng nồng độ Tg huyết thanh có thể do phản ứng với tình trạng viêm như trong viêm tuyến giáp. Các yếu tố khác làm tăng nồng độ Tg huyết thanh bao gồm chế độ ăn nghèo i-ốt, chấn thương tuyến giáp (ví dụ chọc hút bằng 6 kim nhỏ) và hút thuốc lá. Sau phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp và điều trị xóa mô giáp còn lại bằng i-ốt phóng xạ, nồng độ Tg huyết thanh phải ở dưới ngưỡng phát hiện của phương pháp xét nghiệm.
Đây là cơ sở cho việc sử dụng Tg như một dấu ấn để phát hiện UTTG biệt hóa tái phát và di căn sau điều trị3. Giá trị của Tg khi bị ức chế bởi TSH (định lượng khi bệnh nhân đang uống hormone tuyến giáp - Tg ức chế): Sau khi phẫu thuật cắt giáp toàn bộ, nồng độ Tg giảm với thời gian bán hủy 65 giờ và xuống đến mức không phát hiện được sau khoảng 1 tháng. Khi TSH bị ức chế dưới ngưỡng bình thường do BN đang sử dụng hormone tuyến giáp, sự sản xuất Tg chứng tỏ vẫn còn UTTG tồn dư sau phẫu thuật hoặc UTTG đã di căn với độ đặc hiệu cao15. Một vài nghiên cứu đã cho thấy hầu hết những BN phát hiện được Tg khi TSH đang bị ức chế đều có tổn thương ung thư còn sót lại và sẽ dự báo BN nào có khả năng bệnh tái phát.
Xét nghiệm Tg ít có giá trị trong trường hợp BN không được phẫu cắt giáp toàn bộ16. Nồng độ Tg huyết thanh < 1ng/ml được coi là thấp, không cần điều trị 131I ở BN UTTG biệt hóa nguy cơ tái phát thấp đã phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp, đang uống hormone tuyến giáp. Thời điểm xét nghiệm Tg là 6-12 tuần sau phẫu thuật17. Giá trị của Tg khi được TSH kích thích (định lượng khi bệnh nhân có chỉ số TSH ≥ 30µIU/ml-Tg kích thích): phương pháp nhạy nhất để phát hiện UTTG còn sót lại là định lượng Tg khi được TSH kích thích.
Điều này đặc biệt quan trọng ở các BN UTTG biệt hóa có nguy cơ thấp, những BN này cần một xét nghiệm có độ nhạy cao để phân loại, phát hiện một số ít các BN cần được tiếp tục điều trị18,19. Một số nghiên cứu đã cho thấy khoảng 20-25% BN có Tg không phát hiện được khi TSH bị ức chế sẽ có nồng độ Tg tăng lên đến mức 2 ng/ml hoặc cao hơn khi được TSH kích thích. Kích thích bằng TSH có thể tạo ra bởi việc dừng sử dụng hormone tuyến giáp để gây ra tình trạng nhược giáp hoặc sử dụng TSH tái tổ hợp (recombinant human TSH). Nồng độ Tg huyết thanh khi được TSH kích thích có giá trị lớn trong đánh giá nguy cơ tái phát của UTTG biệt hóa.
Tg cao trước thời điểm điều trị 131I lần đầu (6-12 tuần sau phẫu thuật) là yếu tố đánh giá bệnh nhân có nguy cơ tái phát cao, ngưỡng giá trị Tg khoảng 30ng/ml18,19. 7 Tóm lại, Tg là một dấu ấn rất có giá trị trong theo dõi phát hiện tái phát và di căn ở BN UTTG biệt hóa sau phẫu thuật cắt giáp toàn bộ và điều trị xóa mô giáp bằng 131I. Hướng dẫn của Hội tuyến giáp Mỹ năm 2015 khuyến cáo nên xét nghiệm nồng độ Tg huyết thanh mỗi 6-12 tháng bằng phương pháp định lượng miễn dịch. Lý tưởng nhất khi nồng độ Tg huyết thanh được đánh giá trong cùng một phòng thí nghiệm và sử dụng cùng một phương pháp trong quá trình theo dõi BN UTTG biệt hóa sau khi được phẫu thuật cắt giáp toàn bộ có hoặc không điều trị xóa mô giáp.
Nên định lượng kháng thể của Tg cùng với định lượng Tg (khuyến cáo mức A)5. Giá trị Tg có thể thay đổi phụ thuộc vào phương pháp định lượng và giới hạn tham chiếu của từng phòng xét nghiệm. Tg cần được xét nghiệm cùng với TSH trước khi điều trị UTTG để xác định xem liệu UTTG có đang sản xuất Tg hay không. Nếu có, cần xét nghiệm Tg định kỳ theo thời gian sau khi điều trị để theo dõi tái phát, di căn.