ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư (UT) là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới, bệnh có xu hướng ngày càng gia tăng. Dựa trên ước tính tình hình UT toàn cầu năm 2008 (GLOBOCAN 2008), trên thế giới có khoảng 12.000 trường hợp UT và 7.000 trường hợp tử vong do UT trong năm 2008 [75]. Ung thư đại trực tràng (UTĐTT) là nguyên nhân gây tử vong cao hàng thứ 3 trong các tử vong do UT nói chung. Theo Hiệp hội phòng chống UT quốc tế (Union for International Cancer Control - UICC), ước tính trên thế giới mỗi năm có khoảng 1.000 trường hợp UTĐTT mới được phát hiện và khoảng hơn 500.000 người chết vì căn bệnh này [36].
Tỉ lệ mắc bệnh giữa các vùng miền, các châu lục có sự khác nhau. Ở Việt Nam, UTĐTT đứng thứ 5 sau các UT của dạ dày, phổi, vú và vòm họng. Trong UT đường tiêu hóa thì UTĐTT đứng thứ 2, sau UT dạ dày. Theo thống kê của Bệnh viện K Hà Nội, tỉ lệ mắc UTĐTT là 9% tổng số bệnh nhân (BN) UT nói chung.
Tuy nhiên, so với các UT của đường tiêu hóa thì UTĐTT là loại có tiên lượng tốt nhất [1], [8], [18], [19]. Cơ chế hình thành và phát triển của UTĐTT là do biến đổi và tích lũy các gen trong tế bào của niêm mạc đại trực tràng (ĐTT). Sự tích lũy dần các biến dị di truyền thường phải trải qua nhiều năm (từ 10 - 20 năm), và điều này phù hợp với các nghiên cứu dịch tễ học di truyền về diễn biến của UTĐTT trải qua nhiều bước [32], [76]. Sự phát triển vượt bậc của ngành Công nghệ y sinh, hiện nay đã cho phép xác định tương đối chính xác, đầy đủ và nhanh hầu như tất cả các dạng đột biến quan trọng trong những dòng tế bào UT phổ biến như UT phổi, u lympho ác tính, UTĐTT….
Điều đáng ngạc nhiên là mặc dù mang nhiều đột 3 biến nhưng khả năng phát triển của tế bào UT dường như lại lệ thuộc chủ yếu vào nguồn tín hiệu sinh trưởng của một hoặc một nhóm gen sinh UT (oncogene) nhất định. Những oncogene này mã hóa các protein đóng vai trò mắt xích trong các con đường tín hiệu nội bào. Những đột biến này làm cho các tế bào UT có khả năng tăng sinh vô hạn, liên tục phân chia và thực hiện quá trình xâm lấn, di căn… Tuy nhiên, chính đặc điểm này cũng làm phơi bày “gót chân Achilles” của tế bào UT. Bằng việc “đánh sập” các oncogene chủ chốt như HER2, K-RAS, β-catenin, cyclin E, B-Raf… bằng công nghệ iRNA, các nhà khoa học đã thành công trong việc ức chế sự phát triển của nhiều loại tế bào UT in vitro [49].
Những nghiên cứu trên mô hình chuột biến đổi gen tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của các gen đích trong nhiều bệnh UT, trong đó có oncogene K-ras trong UTĐTT [74]. Từ những bằng chứng trên, một thế hệ mới các thuốc điều trị UT có khả năng tác động chính xác tới các đích tiềm năng trong tế bào UT đã ra đời - đó là liệu pháp điều trị đích. Ở Việt Nam, cũng đã có nhiều nghiên cứu về UTĐTT, nhưng chủ yếu là về đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi và mô bệnh học (MBH), còn ít thấy có những nghiên cứu về đột biến gen trong UT nói chung và trong UTĐTT nói riêng. Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu đột biến gen K-RAS và mối liên quan với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ung thư đại trực tràng” được tiến hành nhằm 2 mục tiêu chính sau: 1.
Nghiên cứu tình trạng đột biến gen K-RAS ở bệnh nhân ung thư biểu mô đại trực tràng. Tìm hiểu mối liên quan giữa đột biến gen K-RAS với một số đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi, giải phẫu bệnh và nồng độ CEA ở bệnh nhân ung thư biểu mô đại trực tràng. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Gen và ung thƣ đại trực tràng Từ những nghiên cứu về cơ chế phát sinh và phát triển UTĐTT có sự liên quan đến sự biến đổi các gen tham gia vào sự chuyển dạng từ tế bào lành sang tế bào UT.
Các gen này được chia thành 3 nhóm: gen UT, gen ức chế UT và các gen sửa chữa DNA [49]. Để hình thành UT phải có sự đột biến ở cả 2 nhóm gen UT và gen ức chế UT. Khi gen tiền UT bị đột biến thành gen UT và gen ức chế UT bị bất hoạt hoặc bị tổn thương, lúc đó các tín hiệu cho tế bào phát triển vượt quá các tín hiệu điều hòa thì sự phát triển của tế bào sẽ nhanh chóng vượt khỏi tầm kiểm soát và UT hình thành [2], [29], [93]. Các gen ung thư Gen UT (oncogene) được định nghĩa là các gen đột biến mà các biến đổi của chúng gây ra nguy cơ UT hoặc thúc đẩy quá trình UT.
Bình thường các gen UT ở trạng thái gen tiền UT có vai trò trong sự điều hòa chu trình tế bào, phát triển và biệt hóa tế bào [49]. Khi bị đột biến các gen tiền UT sẽ biểu hiện quá mức các tín hiệu phân chia tế bào làm các tế bào tăng sinh thừa thãi, trở thành những gen UT (oncogene) [140]. Một số gen UT được cho là có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển UTĐTT đó là: 1. Gen RAS Các gen UT được khẳng định có liên quan đến UTĐTT là họ gen RAS bao gồm H-RAS, K-RAS, N-RAS, mã hóa cho một protein 21-kDa.
Protein RAS có vai trò trong việc truyền tín hiệu từ bề mặt tế bào vào trong nhân, điều hòa khung xương tế bào và phân chia tế bào. Dạng đột biến gen RAS, 5 gây hoạt hóa một loạt các protein kinase thành làn sóng, gây ra phosphoryl các phân tử protein truyền tín hiệu nhân. Chức năng gen RAS bị hoạt hóa cũng liên quan đến yếu tố sinh mạch và chết tế bào theo chương trình (apoptosis) [38], [144]. Đột biến K-RAS2 được phát hiện từ 37 - 41% tất cả các UTĐTT.
Đột biến gen K-RAS và N-RAS cũng được tìm thấy trong 50% các khối u ĐTT [50]. Tần số đột biến tăng theo kích thước và độ loạn sản của polype, tuy nhiên tần số này không tăng khi chuyển từ polype sang UT. Các u tuyến với đường kính > 1cm có tần số đột biến gen K-RAS là 50% [48], tương tự như đột biến gặp trong UT. Ngược lại, u tuyến có đường kính nhỏ (< 1cm) chỉ có < 10% gen RAS bị đột biến, chứng tỏ đột biến gen RAS là đột biến mắc phải trong quá trình u tuyến phát sinh, đột biến gen RAS dường như có vai trò tiên phong trong u tuyến [50].
Giảm methyl hóa DNA Methyl hóa DNA có vai trò phức tạp trong phát triển UT. Giảm methyl hóa do Bodmer, Bishop và Karran đưa ra năm 1994, liên quan đến tăng biểu hiện gen và có thể đóng vai trò hoạt hóa các gen UT như K-RAS. Tương tự như sự tăng hoạt hóa DNA có thể xảy ra đồng thời với giảm methyl hóa tại vùng khác của bộ gen trong nhiều loại UT [49], [50]. Gen C-MYC Gen MYC (Myelocytomatosis) mã hóa cho các yếu tố phiên mã trực tiếp liên quan đến sự phát triển khối u.
Sản phẩm protein mã hóa bởi gen MYC có cấu trúc bình thường, nhưng gia tăng về số lượng, hậu quả sự hoạt hóa gen MYC là tăng biểu hiện gen. Các gen MYC đôi khi cũng được coi là gen tiền UT, các tế bào mang gen tiền ung thư MYC được gọi là C-MYC [49], [50], [132]. Các gen áp chế ung thư Gen áp chế UT (tumor suppressor gene) là một loại gen UT được tạo ra do sự đột biến làm mất chức năng. Bình thường các gen này liên quan đến kiểm soát hoặc ức chế phân chia tế bào, biệt hóa tế bào hoặc mã hóa tế bào chết theo chương trình.
Sự mất hoạt tính của các gen này gây ra mất khả năng kiểm soát sự phát triển bình thường của tế bào, làm biến đổi tế bào lành thành tế bào ác tính [52]. Gen APC Sự phát hiện ra sự biến đổi di truyền trong bệnh đa polype tuyến gia đình (Familial adenomatous polyposis - FAP) là cơ sở cho sự phát minh gen đa polype tuyến ĐT (Adenomatous polyposis Coli - APC). Gen APC nằm trên 5q21, mã hóa cho một protein gồm 2843 axit amin, gen APC có chức năng ức chế UT [50]. APC là một gen đích quan trọng nhất trong sự phát triển UTĐTT và được coi là gen giữ cổng (gatekeeper) [50], giúp kiểm soát sự phát triển của tế bào theo một số cơ chế khác nhau, bao gồm điều hòa kết dính tế bào, xử lý con đường truyền tín hiệu, duy trì khung xương tế bào, phân chia tế bào và chết tế bào theo chương trình.
Mất hoặc bất hoạt gen APC dẫn đến mất cân bằng phân chia tế bào, sự chết của tế bào và rối loạn phát triển của tế bào. Đột biến gen APC gặp trong 70% tất cả các UTĐTT, các nghiên cứu đều thống nhất là sự bất hoạt chức năng gen APC tạo ra một làn sóng ban đầu cho sự lan tràn dòng tế bào tiền UT. Gen APC dường như có liên quan đến khởi phát của polype tuyến [71]. Gen P53 Protein p53 được Lane D.
phát hiện vào năm 1979. Gen P53 mã hóa cho protein p53 chứa 393 axít amin, là một gen ức chế UT [50]. Gen P53 có chức năng chủ yếu đáp ứng lại các tổn thương DNA, trong pha 7 (G1), kích thích sửa chữa DNA và thúc đẩy chết tế bào theo chương trình, gen P53 đóng vai trò chủ đạo trong việc duy trì tính ổn định của DNA nên nó được coi là “người trông giữ bộ gen” [56], [118]. Khi gen P53 bị đột biến, cơ chế này bị mất đi và các dòng tế bào có thể có thêm các đột biến khác để tiến triển UT.
Trong quá trình phát triển UTĐTT, đột biến gen P53 có thể xảy ra do sự mất đi của nhiễm sắc thể hoặc do mất tính dị hợp tử. Đột biến gen P53 gặp ở 50% trong các UT ở người và hơn 50% trong các ung thư biểu mô tuyến (UTBMT) ĐTT. Nhưng đột biến gen P53 rất hiếm gặp trong polyp tuyến [50], [73]. Như vậy, bất hoạt gen P53 có liên quan đến quá trình chuyển từ polyp tuyến lành tính sang UT.
Gen MCC Gen MCC (mutated in colon cancer), nằm trên 5q2, gần gen FAP. Gen MCC mã hóa cho một protein gồm 829 axít amin, gần giống với cấu trúc protein APC. Dường như có liên quan về vai trò của gen này với gen APC nhưng chưa được rõ [49]. Gen DCC Gen DCC (deleted in colon cancer) nằm trên vai dài nhiễm sắc thể 18 (18q21), là gen ức chế UT.