Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về bệnh ung thư vú 1. Dịch tễ học UTV Theo thống kê của Viện ung thư Quốc gia Hoa Kỳ, có khoảng 124,9/100.000 phụ nữ mắc mới và 21,2/100.000 phụ nữ tử vong do UTV mỗi năm. Tỷ lệ mắc bệnh này vẫn đang có xu hướng tăng dần trong những năm gần đây.
Phân bố tỷ lệ mắc UTV trên thế giới (Nguồn: http://globocan.fr) Tỷ lệ mắc bệnh thay đổi giữa các vùng miền trên thế giới với tỷ lệ mắc cao nhất là ở Tây Âu (96/100.000), còn tỷ lệ thấp nhất ở Trung Phi (27/100.000) và Nam Trung Á (28/100. Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc ung thư vú đã tăng lên đều đặn trong các thập kỷ qua với tỷ lệ 13,8/100.000 phụ nữ năm 2000, đến năm 2010, tỉ lệ này là 28,1/100. Theo hiệp hội nghiên cứu ung thư thế giới GLOBOCAN, tính tới năm 2018, số ca mắc ung thư vú trên cả nước là 15229 với 6103 ca tử vong [1]. Luan van 4 Luan van 5 1.
Các yếu tố nguy cơ 1.1 Hoàn cảnh gây nên rối loạn phóng noãn - Dậy thì sớm dưới 11 tuổi. - Mãn kinh muộn trên 51 tuổi. - Không lập gia đình. - Dùng nhiều thuốc an thần.2 Các nguyên nhân gây mất thăng bằng estrogen – progesteron.
- Béo bệu sau mãn kinh. - Dùng quá nhiều estrogen, uống thuốc tránh thai kéo dài. - Sinh đẻ ít, đẻ con đầu lòng muộn. - Kinh nguyệt rối loạn [10].3 Tuổi Hiếm gặp bệnh nhân UTV ở tuổi 20-30.
UTV bắt đầu tăng nhanh ở độ tuổi 35 và đạt tỷ lệ cao nhất ở độ tuổi trước và sau mãn kinh (45- 54 tuổi) rồi sau đó có xu hướng giảm xuống [11].4 Các yếu tố môi trường Khi tiếp xúc với những bức xạ ion hoá làm tăng nguy cơ phát triển UTV, có mối liên quan giữa liều lượng, tuổi tiếp xúc bức xạ ion với nguy cơ bị UTV [3].7 Gen BRCA1 nằm ở nhánh dài nhiễm sắc thể 17, là gen ức chế tạo u, có chức năng ngăn ngừa sự phát triển và phân chia nhanh chóng hoặc không kiểm soát được của các tế bào. Mặt khác, gen BRCA1 còn sản sinh ra một loại protein tham ra trực tiếp vào việc sửa chữa trong quá trình tái bản DNA. Người mang gen BRCA1 đột biến có nguy cơ ung thư vú tới 85%, ung thư buồng trứng 45% vào tuổi 85 Gen BRCA2 ở nhánh dài NST13. có vai trò giống gen BRCA1, có chức năng kìm hãm sự phát triển khối u, sửa chữa DNA trong quá Luan van 6 trình tái bản.
Gen BRCA2 chiếm khoảng 35-40% UTV mang tính di truyền và đã tìm thấy trong những gia đình bị UTV. Việc phát hiện đột biến gen BRCA1 và BRCA2 cho phép xác định những cá thể mang gen đột biến của bệnh ung thư vú có tính chất gia đình [12]. Gen p53 là gen ức chế khối u nằm trên nhánh ngắn NST 17 tham gia vào quá trình điều hoà chu kỳ tế bào và ức chế sự chết theo chương trình của tế bào (appotosis). Đột biến gen p53 gây hậu quả ác tính ở rất nhiều UT, trong đó có UTV.
Gen HER2 nằm trên NST 17, sự khuếch đại gen này dẫn đến sự tăng biểu hiện thụ thể HER2 trên bề mặt tế bào UTV. Biểu hiện quá mức HER2 có thể biến đổi tế bào thành dạng ác tính và làm tăng quá trình hình thành khối u. Theo nhiều nghiên cứu gần đây, khoảng 25-30% bệnh nhân UTV có sự khuếch đại gen HER2 hoặc biểu hiện quá mức gen này trong các tế bào ung thư. Phân loại ung thư biểu mô tuyến vú.
Phân loại theo tổ chức y tế thế giới 2003 U biểu mô: Tại chỗ Ung thư ống tại chỗ Ung thư tủy tại chỗ Xâm nhập Carcinoma ống xâm nhập không phải loại đặc biệt Carcinoma hỗn hợp Carcinoma đa hình Carcinoma với tế bào khổng lồ dạng hủy cốt bào Carcinoma với hình ảnh carcinoma màng đệm Carcinoma với hình ảnh u hắc tố Luan van 7 Carcinoma tiểu thùy xâm nhập Carcinoma ống nhỏ Carcinoma mặt sàng xâm nhập Carcinoma tủy Carcinoma nhầy và các u chế nhầy khác U thần kinh nội tiết Carcinoma nhú xâm nhập Carcinoma vi nhú xâm nhập Carcinoma bán hủy Carcinoma dị sản Carcinoma giàu lipid Carcinoma chế tiết Carcinoma tế bào toan Carcinoma dạng tuyến nang Carcinoma tế bào túi Carcinoma tế bào sang giàu glycogen Carcinoma tuyến bã Carcinoma viêm 1. Các dấu ấn sinh học trong chẩn đoán và theo dõi điều trị UTV CA 15-3 (Carbohydrat Antigen15-3): bản chất là một glycoprotein, là chỉ điểm ung thư lựa chọn đầu tiên của UTV nhưng không đặc hiệu. Bình thường có trong huyết thanh người với nồng độ < 30 U/ml, CA 15-3 > 50 U/ml là nghi ngờ có di căn. Với những bệnh nhân đã phẫu thuật UTV, sau 6 tuần nên làm xét nghiệm CA 15-3, theo dõi định kì 6 tháng/lần trong 3 năm.
Khi CA 15-3 tăng > 50% bình thường có khả năng tái phát hoặc di căn ung thư. CEA (Carcino Embryonic Antigen) có bản chất là glycoprotein, chỉ tồn Luan van 8 tại với hàm lượng rất ít trong huyết thanh của người bình thường và tăng cao trong một số loại UT như ung thư đại tràng, đường tiêu hóa, phổi. Trong ung thư vú, nồng độ CEA không tăng ở giai đoạn sớm, khi khối u còn khu trú. Nồng độ CEA tăng cao sau điều trị là cơ sở nghĩ đến sự tiến triển của khối u hay di căn.
Thụ thể estrogen và progesteron (ER và PR): Các ER và PR được định lượng trong lâm sàng để xác định các bệnh nhân bị UTV có thể đáp ứng điều trị với hormon. Có khoảng 50-80% các khối u nguyên phát và 45- 55% các u di căn có ER dương tính. Có nhiều nghiên cứu cho thấy giảm tỷ lệ tử vong và tái phát từ 20-30% ở những người có ER (+) được điều trị nội tiết bổ trợ. Khi cả ER và PR (+) khoảng 80% trường hợp u sẽ đáp ứng với phương pháp điều trị nội tiết.
Những u càng biệt hoá cao thì tỷ lệ dương tính với ER và PR có tiên lượng tốt hơn so với những u âm tính với hai thụ thể này. Thụ thể yếu tố sinh trưởng biểu mô (Epidermal Growth Factor Receptor- EGFR): là thụ thể của các yếu tố sinh trưởng biểu mô (EGF) và yếu tố biến đổi sinh trưởng tế bào α (Transforming Growth Factor α TGF- α). Họ thụ thể của các yếu tố sinh trưởng gồm các thụ thể: EGFR (ErbB-1), HER2/neu (ErbB-2), HER3/neu (ErrbB-3), HER3/neu (ErbB-4). Nồng độ cao của các thụ thể có liên quan đến sự tái phát khối u và sự sống sót của bệnh nhân UTV.Chẩn đoán ung thư vú 1.
Chẩn đoán xác định Trên thực tế, UTV thường được chẩn đoán dựa vào 3 phương pháp kinh điển: Lâm sàng: - Bệnh nhân đau vùng vú, chảy dịch đầu vú. Luan van 9 - Khám thấy khối u vú chắc, cứng, ranh giới không rõ, có thể dính da, cơ. - Có hạch nách cùng bên: giai đoạn muộn thấy hạch nách to, cứng chắc, di động hạn chế. - Giai đoạn muộn thấy: tại chỗ có thể có xâm lấn gây lở loét, hoại tử ra ngoài da gây chảy dịch, xâm lấn thành ngực gây đau nhiều.
Có thể di căn xa như xương, não, phổi… Chụp XQ tuyến vú: - Các hình ảnh ung thư vú trên phim: Đám mờ bờ không đều với đuôi sao, co kéo tổ chức xung quanh, vi lắng đọng canxi. Tế bào học: - Chọc hút khối u, hạch nách bằng kim nhỏ hoặc lấy dịch tiết núm vú tìm tế bào ác tính. Nếu một trong ba yếu tố này có kết quả nghi ngờ hoặc âm tính thì bệnh nhân sẽ được tiến hành làm sinh thiết khối u để chẩn đoán xác định bằng mô bệnh học. Mô bệnh học: Là phương pháp quyết định để chẩn đoán xác định bệnh ung thư vú.
Phương pháp nhuộm hóa mô miễn dịch cho biết tình trạng thụ thể nội tiết và mức độ bộc lộ Her-2/neu và Ki-67 giúp cho tiên lượng và điều trị. Chẩn đoán TNM và nhóm giai đoạn (AJCC 2010) T: U nguyên phát Tx: Không xác định được u nguyên phát. T0: Không có dấu hiệu u nguyên phát. Tis: UTBM tại chỗ: UTBM nội ống, UTBM tiểu thuỳ tại chỗ, bệnh Paget núm vú không có u.
T1: U có đường kính ≤ 2cm T2: 2 < đường kính u ≤ 5cm Luan van 10 T3: U có đường kính > 5cm T4: U xâm lấn trực tiếp tới thành ngực hoặc da bất kể kích thước (thành ngực gồm xương sườn, cơ gian sườn, cơ răng trước, không tính cơ ngực lớn). T4a: U xâm lấn tới thành ngực. T4b: Thâm nhiễm sần da cam, loét da vú hoặc có nhiều u nhỏ dạng vệ tinh ở vú cùng bên. T4c: Bao gồm cả T4a và T4b.
T4d: UTV dạng viêm. N: Hạch vùng Nx: Không xác định được hạch vùng. N0: Không di căn hạch vùng. N1: Di căn hạch nách cùng bên di động.
N2: Di căn hạch nách cùng bên nhưng hạch dính vào nhau hoặc dính vào mô xung quanh hoặc lâm sàng có di căn hạch vú trong cùng bên nhưng không có di căn hạch nách: N2a: Di căn hạch nách cùng bên nhưng hạch dính vào nhau hoặc dính vào mô xung quanh. N2b: Lâm sàng có di căn hạch vú trong cùng bên nhưng không có di căn hạch nách. N3: Di căn hạch hạ đòn hoặc di căn hạch nách cùng với hạch vú trong cùng bên hoặc di căn hạch thượng đòn: N3a: Di căn hạch hạ đòn. N3b: Di căn hạch nách cùng với hạch vú trong cùng bên.
N3c: Di căn hạch thượng đòn cùng bên. M: Di căn xa Mx: Không xác định được di căn xa ở thời điểm chẩn đoán. M0: Không di căn xa. Luan van 11 M1: Di căn xa.
Nhóm giai đoạn U Hạch vùng Di căn xa Giai đoạn 0: Tis N0 M0 Giai đoạn I: T1 N0 M0 Giai đoạn IIA: T0,1 N1 M0 T2 N0 M0 Giai đoạn IIB: T2 N1 M0 T3 N0 M0 Giai đoạn IIIA: T0,1,2 N2 M0 T3 N1,2 M0 Giai đoạn IIIB: T4 N0,1,2 M0 Giai đoạn IIIC: T bất kỳ N3 M0 Giai đoạn IV: T bất kỳ N bất kỳ M1 1. Điều trị UTV Cho tới nay, việc nghiên cứu điều trị UTV vẫn đang được tiếp tục và ngày càng hoàn thiện. Điều trị UTV là sự phối hợp điển hình giữa phương pháp điều trị tại chỗ (phẫu thuật, tia xạ) và điều trị toàn thân (hoá chất, nội tiết miễn dịch). Trên thực tế lâm sàng, trước khi quyết định phương pháp điều trị các thầy thuốc căn cứ vào nhiều yếu tố bao gồm giai đoạn bệnh, thể mô học, độ mô học, tuổi và một số yếu tố khác.
Giai đoạn bệnh là yếu tố chính quyết định việc lựa chọn phương pháp điều trị [13]. Tổng quan về gen XRCC3 ở người 1.