Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và đánh giá kết quả sớm phẫu thuật mở cắt gần toàn bộ tuyến giáp điều trị bướu giáp đa nhân hai thùy tại bệnh viện quân y 121

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả phẫu thuật cắt gần toàn bộ tuyến giáp điều trị bướu giáp đa nhân tại bệnh viện quân y 121.

Chuyên ngành

Ngoại khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Chuyên Khoa Cấp II

2019

94
5
1

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Đặc điểm giải phẫu tuyến giáp

2.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bướu lành tuyến giáp

2.3. Lịch sử phẫu thuật bướu giáp

2.4. Điều trị bướu giáp đa nhân đơn thuần

2.5. Điều trị ngoại khoa bướu giáp đa nhân đơn thuần

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.3. Đạo đức trong nghiên cứu

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Đặc điểm chung

4.2. Cận lâm sàng. Đánh giá kết quả phẫu thuật

4.2.1. Theo dõi hậu phẫu

4.2.2. Theo dõi tái khám sau mổ 1 tuần

4.2.3. Theo dõi tái khám sau mổ 3 tháng

4.3. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.4. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

4.5. Phẫu thuật và kết quả ở giai đoạn sớm sau mổ. Kết quả sau khi xuất viện

4.6. Tái khám sau mổ 1 tuần

4.7. Tái khám sau 3 tháng

4.8. Đánh giá kết quả phẫu thuật

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Bướu Giáp Đa Nhân Nguyên Nhân và Tác Động

Bướu giáp đa nhân là tình trạng tuyến giáp phì đại, có thể lan tỏa hoặc cục bộ, không do ung thư. Tỷ lệ mắc bệnh dao động tùy theo khu vực, từ 4% ở đồng bằng sông Cửu Long đến 20% ở miền núi Tây Nguyên. Việc chẩn đoán bướu giáp đa nhân ngày càng phổ biến nhờ sự phát triển của siêu âm tuyến giáp. Bệnh thường gặp ở nữ giới hơn nam giới, liên quan đến các giai đoạn thay đổi sinh lý như dậy thì, thai sản, mãn kinh. Bướu giáp có thể gây chèn ép khí quản, thực quản, hoặc trung thất trên, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Điều trị bướu giáp đa nhân bao gồm nội khoa và ngoại khoa, trong đó phẫu thuật đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết triệt để tình trạng bệnh. Theo thống kê của bệnh viện Bình Dân thành phố Hồ Chí Minh hàng năm có hơn 1000 trường hợp được phẫu thuật bệnh lý tuyến giáp.

1.1. Dịch Tễ Học Bướu Giáp Đa Nhân Tỷ Lệ Mắc Bệnh và Phân Bố

Tỷ lệ mắc bệnh bướu giáp đơn thuần chiếm 4,6% dân số, với 6,4% ở nữ và 1,5% ở nam. Ước tính hơn 10% dân số toàn cầu bị bướu giáp và phổ biến nhất là bướu giáp nhân. Ở Việt Nam, số người bị bướu giáp tăng dần tùy theo vùng sinh sống, từ 4% ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đến 20% các tỉnh miền núi Tây Nguyên.

1.2. Triệu Chứng Lâm Sàng Bướu Giáp Đa Nhân Dấu Hiệu Nhận Biết

Dấu hiệu lâm sàng chủ yếu của bệnh là bướu tuyến giáp to dần được bệnh nhân phát hiện tình cờ, hoặc do người xung quanh, hoặc khi khám sức khoẻ nói chung. Bướu to có thể gây chèn ép vào khí quản, thực quản. Nếu tuyến giáp to nằm ở sau xương ức có thể chèn ép trung thất trên với dấu hiệu phù áo khoác ở mặt, chóng mặt, ngất (dấu hiệu Pemberton).

II. Thách Thức Trong Chẩn Đoán và Điều Trị Bướu Giáp Đa Nhân

Chẩn đoán bướu giáp đa nhân đòi hỏi sự kết hợp giữa khám lâm sàng, xét nghiệm chức năng tuyến giáp và chẩn đoán hình ảnh. Siêu âm tuyến giáp là phương pháp hiệu quả để đánh giá hình thái bướu giáp, phát hiện các hạt giáp nhỏ và hướng dẫn sinh thiết. Tuy nhiên, việc phân biệt giữa bướu giáp lành tính và ác tính vẫn là một thách thức. Điều trị bướu giáp đa nhân cần cá thể hóa, dựa trên kích thước bướu, triệu chứng chèn ép, chức năng tuyến giáp và nguy cơ ung thư. Phẫu thuật bướu giáp có thể gây ra các biến chứng như chảy máu, khàn tiếng, suy giáp và tái phát bướu giáp. Mỗi năm các bệnh viện trong thành phố Cần Thơ tiến hành phẫu thuật điều trị cho hàng trăm trường hợp bướu giáp.

2.1. Phân Biệt Bướu Giáp Lành Tính và Ác Tính Các Tiêu Chí Quan Trọng

Nếu bệnh nhân có biểu hiện gợi ý liệt dây thanh âm như nói khàn hoặc nói khó cần phải nghĩ đến ung thư. Chảy máu cấp tính vào các nang tuyến giáp gây đau, sưng nề vùng cổ và xuất hiện các dấu hiệu do chèn ép. Da trên bề mặt bướu bình thường, sờ không đau, mặt có thể nhẵn (nếu là bướu lan toả) hoặc gồ (nếu là đơn nhân hoặc đa nhân).

2.2. Biến Chứng Phẫu Thuật Bướu Giáp Nguy Cơ và Cách Phòng Ngừa

Tuy nhiên,điều trị phẫu thuật bướu giáp thể nhân là một phẫu thuật thông thường và ngày nay hầu như không có tử vong nhưng các biến chứng như:chảy máu sau mổ,khàn tiếng hoặc mất tiếng sau mổ, tetani sau mổ,suy hô hấp sau mổ,nhiễm trùng vết mổ.Các biến chứng xa sau mổ có thể gặp là suy giáp do cắt bỏ quá nhiều tuyến giáp và bướu giáp tái phát thường gặp sau mổ bướu giáp thể hỗn hợp vẫn là vấn đề cần quan tâm.

III. Phương Pháp Phẫu Thuật Bướu Giáp Đa Nhân Cắt Gần Toàn Bộ

Phẫu thuật cắt gần toàn bộ tuyến giáp là một phương pháp điều trị hiệu quả cho bướu giáp đa nhân hai thùy. Kỹ thuật này giúp loại bỏ phần lớn mô tuyến giáp, giảm nguy cơ tái phát bướu giáp và ung thư. Tuy nhiên, phẫu thuật cắt gần toàn bộ tuyến giáp cũng có thể gây ra các biến chứng như suy giáp, cần phải bổ sung hormone tuyến giáp sau phẫu thuật. Việc lựa chọn phương pháp phẫu thuật phù hợp cần dựa trên đánh giá toàn diện về tình trạng bệnh nhân và kinh nghiệm của phẫu thuật viên. Guillaume Deputren, phẫu thuật viên đầu tiên thực hiện cắt tuyến giáp toàn phần vào năm 1808 tại Paris-Pháp.

3.1. Ưu Điểm Của Phẫu Thuật Cắt Gần Toàn Bộ Tuyến Giáp

Sau đó năm 1935 cắt tuyến giáp gần toàn bộ trở thành phẫu thuật tiêu chuẩn trên toàn thế giới cho các bệnh lý lành tính của tuyến giáp, MayoClinic báo cáo 37.668 trường hợp. Tuy nhiên, tỉ lệ tái phát cao nên khuynh hướng phẫu thuật đã thay đổi.

3.2. Kỹ Thuật Phẫu Thuật Cắt Gần Toàn Bộ Tuyến Giáp Chi Tiết Các Bước

Cuối thế kỷ 20, cắt giáp toàn bộ trở thành phẫu thuật tiêu chuẩn cho bệnh lý phình giáp đa hạt, bệnh Graves và ung thư tuyến giáp ngoại trừ các trường hợp ung thư tuyến giáp có nguy cơ rất thấp.

IV. Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng Bướu Giáp Tại Bệnh Viện 121

Nghiên cứu tại Bệnh viện Quân Y 121 tập trung vào việc xác định đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân bướu giáp đa nhân hai thùy. Mục tiêu là đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật mở cắt gần toàn bộ tuyến giáp. Nghiên cứu này cung cấp thông tin quan trọng về tình hình điều trị bướu giáp tại bệnh viện, giúp cải thiện chất lượng chăm sóc bệnh nhân. Hiện tại bệnh viện chúng tôi chưa có đề tài nghiên cứu về kết quả phẫu thuật bướu giáp.

4.1. Mục Tiêu Nghiên Cứu Xác Định Đặc Điểm Bệnh Nhân Bướu Giáp

Vì vậy,muốn đúc kết những kinh nghiệm trong thời gian qua về điều trị phẫu thuật bệnh lý bướu giáp đa nhân hai thùy tại Bệnh viện Quân y 121, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả sớm phẫu thuật mở cắt gần toàn bộ tuyến giáp điều trị bướu giáp đa nhân hai thùy tại bệnh viện Quân Y 121” nhằm mục tiêu:

4.2. Phương Pháp Nghiên Cứu Thu Thập và Phân Tích Dữ Liệu

Xác định đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân bướu giáp đa nhân hai thùy đến khám và được phẫu thuật mở cắt gần toàn bộ tuyến giáp tại bệnh viện Quân Y 121. Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật mở cắt gần toàn bộ tuyến giáp điều trị bướu giáp đa nhân hai thùy tại bệnh viện Quân Y 121 từ tháng 4/2018 đến tháng 7/2019.

V. Kết Quả Phẫu Thuật Bướu Giáp Đánh Giá Sớm Tại Bệnh Viện 121

Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật mở cắt gần toàn bộ tuyến giáp điều trị bướu giáp đa nhân hai thùy tại Bệnh viện Quân Y 121 cho thấy tỷ lệ thành công cao. Tuy nhiên, cần theo dõi sát các biến chứng sau phẫu thuật và điều chỉnh liều hormone tuyến giáp phù hợp. Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng về hiệu quả của phương pháp phẫu thuật này trong điều trị bướu giáp đa nhân. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các dao cắt đốt mạch máu mới ra đời như dao siêu âm, dao hàn mạch máu có thể thay thế cho việc sử dụng chỉ để cột mạch máu trong lúc mổ, việc ứng dụng các phương tiện này trong phẫu thuật tuyến giáp giúp rút ngắn thời gian mổ, hạn chế chảy máu, ít tổn thương mô chung quanh mang lại kết quả tốt hơn cho bệnh nhân.

5.1. Tỷ Lệ Thành Công và Biến Chứng Sau Phẫu Thuật Bướu Giáp

Tuy nhiên,điều trị phẫu thuật bướu giáp thể nhân là một phẫu thuật thông thường và ngày nay hầu như không có tử vong nhưng các biến chứng như:chảy máu sau mổ,khàn tiếng hoặc mất tiếng sau mổ, tetani sau mổ,suy hô hấp sau mổ,nhiễm trùng vết mổ.

5.2. Theo Dõi và Điều Trị Suy Giáp Sau Phẫu Thuật Bướu Giáp

Các biến chứng xa sau mổ có thể gặp là suy giáp do cắt bỏ quá nhiều tuyến giáp và bướu giáp tái phát thường gặp sau mổ bướu giáp thể hỗn hợp vẫn là vấn đề cần quan tâm.

VI. Hướng Dẫn Chăm Sóc Sau Phẫu Thuật Bướu Giáp Đa Nhân Hiệu Quả

Chăm sóc sau phẫu thuật bướu giáp đa nhân đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo phục hồi nhanh chóng và giảm nguy cơ biến chứng. Bệnh nhân cần tuân thủ chặt chẽ hướng dẫn của bác sĩ về dùng thuốc, chế độ ăn uống và vận động. Theo dõi các dấu hiệu bất thường và tái khám định kỳ là cần thiết để phát hiện và xử trí kịp thời các vấn đề phát sinh. Mỗi năm các bệnh viện trong thành phố Cần Thơ tiến hành phẫu thuật điều trị cho hàng trăm trường hợp bướu giáp.

6.1. Chế Độ Dinh Dưỡng và Vận Động Sau Phẫu Thuật Bướu Giáp

Bệnh nhân cần tuân thủ chặt chẽ hướng dẫn của bác sĩ về dùng thuốc, chế độ ăn uống và vận động.

6.2. Theo Dõi Biến Chứng và Tái Khám Sau Phẫu Thuật Bướu Giáp

Theo dõi các dấu hiệu bất thường và tái khám định kỳ là cần thiết để phát hiện và xử trí kịp thời các vấn đề phát sinh.

08/06/2025
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và đánh giá kết quả sớm phẫu thuật mở cắt gần toàn bộ tuyến giáp điều trị bướu giáp đa nhân hai thùy tại bệnh viện quân y 121

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Bƣớu giáp đa nhân hai thùy là một bệnh trong đó nhu mô tuyến giáp to ra lan toả hay cục bộ mà nguyên nhân không phải do ung thƣ, chức năng tuyến giáp bình thƣờng, đôi khi quen gọi một cách ngắn gọn là bƣớu cổ [1], [14]. Theo Framinham, tỉ lệ mắc bệnh bƣớu giáp đơn thuần chiếm 4,6% dân số với 6,4% ở nữ và 1,5% ở nam [41]. Hiện nay, việc sử dụng siêu âm nhƣ một phƣơng tiện tầm soát tỉ lệ này tăng lên một cách đáng kể, cụ thể 30% - 50% ngƣời lớn đƣợc chẩn đoán bƣớu giáp [9]. Năm 1958, theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới có 200 – 300 triệu ngƣời bị bƣớu tuyến giáp, chiếm 7% dân số thế giới; ngày nay ƣớc tính hơn 10% dân số toàn cầu bị bƣớu giáp và phổ biến nhất là bƣớu giáp nhân [28].

Ở Việt Nam, số ngƣời bị bƣớu giáp tăng dần tuỳ theo vùng sinh sống, từ 4% ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đến 20% các tỉnh miền núi Tây Nguyên [1]. Theo thống kê của bệnh viện Bình Dân thành phố Hồ Chí Minh hàng năm có hơn 1000 trƣờng hợp đƣợc phẫu thuật bệnh lý tuyến giáp [10]. Điều trị bƣớu giáp có hai phƣơng pháp chính là nội khoa và ngoại khoa, trong đó phẫu thuật đóng vai trò quan trọng giải quyết triệt để bƣớu giáp đa nhân hai thùy. Guillaume Deputren, phẫu thuật viên đầu tiên thực hiện cắt tuyến giáp toàn phần vào năm 1808 tại Paris-Pháp.

Sau đó năm 1935 cắt tuyến giáp gần toàn bộ trở thành phẫu thuật tiêu chuẩn trên toàn thế giới cho các bệnh lý lành tính của tuyến giáp, MayoClinic báo cáo 37.668 trƣờng hợp. Tuy nhiên, tỉ lệ tái phát cao nên khuynh hƣớng phẫu thuật đã thay đổi. Cuối thế kỷ 20, cắt giáp toàn bộ trở thành phẫu thuật tiêu chuẩn cho bệnh lý phình giáp đa hạt, bệnh Graves và ung thƣ tuyến giáp ngoại trừ các trƣờng hợp ung thƣ tuyến giáp có nguy cơ rất thấp [29]. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các dao cắt đốt mạch máu mới ra đời nhƣ dao siêu âm, dao hàn mạch máu có thể thay thế cho việc sử dụng chỉ để cột mạch máu trong lúc 2 mổ, việc ứng dụng các phƣơng tiện này trong phẫu thuật tuyến giáp giúp rút ngắn thời gian mổ, hạn chế chảy máu, ít tổn thƣơng mô chung quanh mang lại kết quả tốt hơn cho bệnh nhân [23], [31], [35], [50].Tuy nhiên,điều trị phẫu thuật bƣớu giáp thể nhân là một phẫu thuật thông thƣờng và ngày nay hầu nhƣ không có tử vong nhƣng các biến chứng nhƣ:chảy máu sau mổ,khàn tiếng hoặc mất tiếng sau mổ, tetani sau mổ,suy hô hấp sau mổ,nhiễm trùng vết mổ.Các biến chứng xa sau mổ có thể gặp là suy giáp do cắt bỏ quá nhiều tuyến giáp và bƣớu giáp tái phát thƣờng gặp sau mổ bƣớu giáp thể hỗn hợp vẫn là vấn đề cần quan tâm.

Mỗi năm các bệnh viện trong thành phố Cần Thơ tiến hành phẫu thuật điều trị cho hàng trăm trƣờng hợp bƣớu giáp.Bệnh viện Quân Y 121 hằng năm đã triển khai đều đặn và thƣờng qui phẫu thuật bệnh lý bƣớu giáp thể nhân. Hiện tại bệnh viện chúng tôi chƣa có đề tài nghiên cứu về kết quả phẫu thuật bƣớu giáp. Vì vậy,muốn đúc kết những kinh nghiệm trong thời gian qua về điều trị phẫu thuật bệnh lý bƣớu giáp đa nhân hai thùy tại Bệnh viện Quân y 121, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả sớm phẫu thuật mở cắt gần toàn bộ tuyến giáp điều trị bƣớu giáp đa nhân hai thùy tại bệnh viện Quân Y 121” nhằm mục tiêu: 1. Xác định đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân bƣớu giáp đa nhân hai thùy đến khám và đƣợc phẫu thuật mở cắt gần toàn bộ tuyến giáp tại bệnh viện Quân Y 121.

Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật mở cắt gần toàn bộ tuyến giáp điều trị bƣớu giáp đa nhân hai thùy tại bệnh viện Quân Y 121 từ tháng 4/2018 đến tháng 7/2019. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm giải phẫu tuyến giáp 1. Vị trí và hình thể ngoài Tuyến giáp là một tuyến nội tiết lớn nhất của cơ thể, nằm ở phần trƣớc cổ, ở trƣớc các vòng sụn khí quản trên và hai bên thanh quản, ngang các mức đốt sống cổ 5, 6, 7 và ngực 1.

Tuyến giáp bình thƣờng màu hồng, hơi đỏ, mềm, bề mặt trơn láng, đôi khi có những rãnh phân cách nhỏ tạo nên các tiểu thuỳ, thƣờng thấy ở mặt sau tuyến giáp nhất là ở gần cực dƣới. Tuyến giáp gồm hai thùy phải và trái, trải dài từ vòng sụn khí quản thứ 5 lên hai bên sụn giáp, mỗi thuỳ bên có hình nón đỉnh hƣớng lên trên ra ngoài tới ngang mức đƣờng chếch sụn giáp trong. Hai thùy nối nhau bởi eo tuyến giáp, bắt ngang từ sụn khí quản thứ 1 đến thứ 4 [5], [17].1: Giải phẫu tuyến giáp (Nguồn: Atlas giải phẫu ngƣời, 2012) Mỗi bên tuyến giáp dài 5-8cm, rộng 2-4cm, dày 1-2,5cm. Tuyến giáp bình thƣờng cân nặng 40-42 gram.

Có 50%-80% trƣờng hợp có thuỳ thứ 3 gọi 4 là thuỳ tháp đi từ bờ trên eo giáp, lệch trục đƣờng giữa đi lên, dính với xƣơng móng bởi một dãy sợi liên kết không có mạch máu, đó là di tích của ống giáp lƣỡi trong thời kỳ phôi thai. Ƣớc lƣợng kích thƣớc tuyến giáp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trên lâm sàng, giúp đánh giá các bệnh lý làm thay đổi kích thƣớc tuyến giáp và làm tiêu chuẩn chẩn đoán trên siêu âm. Khi tuyến giáp phì đại tạo nên bƣớu giáp [5], [6], [9]. Phƣơng tiện cố định Tuyến giáp đƣợc bọc bởi hai bao, bao xơ bên ngoài và mạc tạng bên trong, tạo nên do sự cô đặc của các mô liên kết ngoại biên tuyến giáp.

Mạc tạng dính sát vào nhu mô tuyến giáp từ đó cho ra những vách xơ, chia tuyến giáp không hoàn toàn thành các tiểu thuỳ. Bao xơ gắn vào mạc tạng bằng một lớp lỏng lẻo, rất dễ bóc tách, có mạch máu và thần kinh đi bên trong. Đặc điểm này đƣợc ứng dụng trong phẫu thuật tuyến giáp. Ngoài ra, tuyến giáp còn đƣợc cố định vào các sụn kế cận bằng các dây chằng: dây chằng giữa đi từ mặt trƣớc sụn giáp đến mặt sau eo tuyến giáp.

Dây chằng bên, đi từ mặt trong mỗi thùy đến khí quản và sụn nhẫn. Dây chằng thứ tƣ nối thùy giáp với sụn giáp hoặc xƣơng móng. Do các dây chằng này, tuyến giáp cùng di động với thanh, khí quản khi nuốt. Điều này giúp chẩn đoán phân biệt bƣớu giáp với các bƣớu cổ khác [5], [22].

Liên quan của tuyến giáp Phía trƣớc eo giáp: Từ nông đến sâu là da; mô dƣới da; cơ bám da cổ; lá nông mạc cổ (còn gọi là cân cổ nông); lá trƣớc khí quản mạc cổ (còn gọi là cân cổ giữa) bao các cơ dƣới móng. Phía sau eo giáp là vòng sụn khí quản [3]. Thuỳ bên: Phía trƣớc ngoài thuỳ bên từ nông đến sâu là cơ ức – đòn – chũm, cơ vai móng, cơ ức móng và cơ ức giáp, hai cơ này nằm trong cân cổ giữa. Phía sau ngoài thuỳ bên là bao cảnh với các thành phần của nó gồm động mạch cảnh chung, tĩnh mạch cảnh trong và thần kinh lang thang.

Phía 5 trong thuỳ bên là sụn giáp, sụn nhẫn, cơ nhẫn giáp, mặt ngoài các sụn khí quản, cơ khít hầu dƣới và thực quản. Mặt sau thuỳ bên là thần kinh quặt ngƣợc thanh quản và tuyến phó giáp [5], [6]. Động mạch, tĩnh mạch, bạch huyết và thần kinh tuyến giáp 1. Động mạch: Tuyến giáp nhận máu từ bốn động mạch chính (hai cặp động mạch giáp trên và động mạch giáp dƣới).

Ngoài ra, còn có động mạch giáp dƣới cùng (động mạch giáp giữa hay động mạch giáp giữa Nebauer) nhƣng không hằng định [17]. Động mạch giáp trên: là nhánh lớn nhất, xuất phát từ động mạch cảnh ngoài, chỗ chia đôi của động mạch cảnh chung hoặc ngay dƣới đỉnh sừng lớn xƣơng móng, đi phía ngoài cơ khít hầu đến cực trên của mỗi thùy chia ba nhánh vào mặt trƣớc ngoài, bờ trƣớc và bờ trong mỗi thùy bên. Động mạch giáp trên nằm sát với nhánh ngoài của thần kinh thanh quản trên khi chúng đi xuống phía dƣới, nên khi kẹp cắt động mạch giáp trên có thể làm thƣơng tổn nhánh ngoài của thần kinh thanh quản trên nếu không chú ý [5], [17]. Động mạch giáp dưới: là nhánh của động mạch thân giáp cổ từ động mạch dƣới đòn, động mạch giáp dƣới đi dọc bờ trƣớc cơ bậc thang trƣớc đến ngang sụn nhẫn thì quặt ra sau bao cảnh, vào trong đến mặt sau của mỗi thùy, chia làm 3 nhánh tận: nhánh trong đi trong dây chằng bên phân ra các nhánh khí quản, thanh quản, cấp máu cho nửa trên khí quản; nhánh sau đi ở mặt sau thuỳ bên tạo với nhánh sau của động mạch giáp trên một vòng nối dọc sau; nhánh dƣới đi dọc sừng lên của bờ trong thuỳ bên tạo với nhánh dƣới bên đối diện thành vòng nối dƣới eo giáp.

Thần kinh quặt ngƣợc thanh quản có thể ở giữa, trƣớc, hoặc sau các nhánh này. Động mạch giáp dƣới cùng: Xuất phát từ cung động mạch chủ hay động mạch thân cánh tay đầu, đi trƣớc khí quản và tận cùng ở eo giáp [5], [17]. Tĩnh mạch Các tĩnh mạch của tuyến giáp tạo nên một đám rối ở mặt trƣớc ngoài của mỗi thùy. Từ đó, phát xuất các tĩnh mạch giáp trên và tĩnh mạch giáp giữa, đổ vào tĩnh mạch cảnh trong, và các tĩnh mạch giáp dƣới đổ vào tĩnh mạch tay đầu hoặc tĩnh mạch cảnh trong.

Tĩnh mạch giáp dƣới cùng khi hiện diện thƣờng đổ vào tĩnh mạch cánh tay đầu trái [17]. Bạch huyết Bạch huyết tuyến giáp đi theo bốn hƣớng chính trƣớc khi đổ vào các bạch huyết cổ sâu trên và dƣới. Các hƣớng đi này tạo nên những nhóm hạch bạch huyết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong ung thƣ tuyến giáp. Những nhóm hạch có khả năng bị di căn cao bao gồm: nhóm hạch Delphian (hạch trƣớc thanh quản), nhóm hạch trƣớc khí quản, nhóm hạch cạnh thần kinh quặt ngƣợc thanh quản, nhóm hạch trung thất [22].

Thần kinh Đối với phẫu thuật tuyến giáp, thần kinh quan trọng nhất là thần kinh quặt ngƣợc thanh quản, còn gọi là thần kinh thanh quản dƣới, chi phối vận động toàn bộ các cơ nội tại của thanh quản và cảm giác niêm mạc thanh quản dƣới dây thanh [17]. Xuất phát từ thần kinh lang thang gần cung mang thứ tƣ trong thời kỳ phôi thai. Các cung mang này sẽ trở thành cung động mạch chủ bên trái và động mạch dƣới đòn bên phải.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng và Kết Quả Phẫu Thuật Bướu Giáp Đa Nhân Tại Bệnh Viện Quân Y 121" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các đặc điểm lâm sàng của bệnh bướu giáp đa nhân, cũng như đánh giá kết quả phẫu thuật tại một cơ sở y tế quân đội. Nghiên cứu này không chỉ giúp các bác sĩ và chuyên gia y tế hiểu rõ hơn về tình trạng bệnh lý này mà còn cung cấp thông tin quý giá cho bệnh nhân và người nhà trong việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và nhận xét kết quả điều trị bệnh nhân nhồi máu não cấp tại bv đa khoa trung ương cần thơ, nơi cung cấp thông tin về điều trị nhồi máu não, một vấn đề cũng liên quan đến sức khỏe tuyến giáp. Bên cạnh đó, tài liệu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng hình ảnh x quang và đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị gãy xương dạng weber tại bv đa khoa trung ương cần thơ có thể cung cấp thêm thông tin về phẫu thuật trong các trường hợp khác. Cuối cùng, tài liệu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng mô bệnh học và đánh giá kết quả điều trị ung thư da tại bv ung bướu cần thơ năm 2014 2015 sẽ giúp bạn hiểu thêm về các phương pháp điều trị trong lĩnh vực ung thư, có thể liên quan đến các vấn đề về tuyến giáp.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức của bạn mà còn giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các vấn đề y tế liên quan.