Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng mô bệnh học và đánh giá kết quả điều trị ung thư hốc miệng tại bệnh viện ung bướu thành phố cần thơ năm 2018 2020

Tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng mô bệnh học và đánh giá kết quả điều trị ung thư hốc miệng tại bệnh, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Răng hàm mặt

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Bác Sĩ Nội Trú

2020

103
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Giải phẫu hốc miệng và yếu tố nguy cơ

1.2. Đặc điểm lâm sàng và mô bệnh học ung thư hốc miệng

1.3. Phương pháp điều trị ung thư hốc miệng

1.4. Tình hình nghiên cứu về ung thư hốc miệng

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu

3.2. Đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học ung thư hốc miệng

3.3. Đánh giá kết quả điều trị ung thư hốc miệng

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu

4.2. Đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học ung thư hốc miệng

4.3. Đánh giá kết quả điều trị ung thư hốc miệng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1: Phiếu xác nhận đồng ý tham gia nghiên cứu

Phụ lục 2: Phiếu mẫu bệnh án nghiên cứu

Phụ lục 3: Một số hình ảnh trong nghiên cứu

Phụ lục 4: Danh sách bệnh nhân tham gia nghiên cứu

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng Ung Thư Hốc Miệng

Nghiên cứu về ung thư hốc miệng tại Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ giai đoạn 2018-2020 đã chỉ ra những đặc điểm lâm sàng và mô bệnh học quan trọng. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân ung thư hốc miệng thường bao gồm các triệu chứng như loét, đau nhức và khó khăn trong việc nói. Việc hiểu rõ về tình hình này giúp nâng cao hiệu quả điều trị và chăm sóc bệnh nhân.

1.1. Đặc Điểm Lâm Sàng Của Ung Thư Hốc Miệng

Các triệu chứng sớm của ung thư hốc miệng bao gồm loét không lành, cảm giác vướng trong miệng và tăng tiết nước bọt. Bệnh nhân thường không có triệu chứng đau ở giai đoạn đầu, nhưng khi bướu phát triển, có thể gây ra đau nhức và khó khăn trong việc ăn uống.

1.2. Mô Bệnh Học Ung Thư Hốc Miệng

Mô bệnh học cho thấy ung thư hốc miệng chủ yếu là ung thư biểu mô tế bào gai, chiếm hơn 90% các trường hợp. Việc phân tích mô bệnh học giúp xác định giai đoạn và mức độ xâm lấn của bướu, từ đó đưa ra phương pháp điều trị phù hợp.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Điều Trị Ung Thư Hốc Miệng

Mặc dù có nhiều tiến bộ trong điều trị, nhưng ung thư hốc miệng vẫn gặp nhiều thách thức. Tỷ lệ phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn cao, dẫn đến khó khăn trong việc điều trị và giảm tỷ lệ sống sót. Việc nâng cao nhận thức cộng đồng về bệnh là rất cần thiết.

2.1. Tỷ Lệ Phát Hiện Bệnh Ở Giai Đoạn Muộn

Nhiều bệnh nhân đến khám khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, làm giảm khả năng điều trị thành công. Việc phát hiện sớm có thể cải thiện đáng kể tỷ lệ sống sót của bệnh nhân.

2.2. Thiếu Kiến Thức Về Bệnh

Sự thiếu hiểu biết về ung thư hốc miệng trong cộng đồng dẫn đến việc bệnh nhân không chú ý đến các triệu chứng ban đầu. Cần có các chương trình giáo dục sức khỏe để nâng cao nhận thức về bệnh.

III. Phương Pháp Điều Trị Ung Thư Hốc Miệng Hiện Nay

Phương pháp điều trị ung thư hốc miệng bao gồm phẫu thuật, xạ trị và hóa trị. Tùy thuộc vào giai đoạn bệnh, bác sĩ sẽ lựa chọn phương pháp phù hợp nhất để tối ưu hóa kết quả điều trị.

3.1. Phẫu Thuật Trong Điều Trị Ung Thư Hốc Miệng

Phẫu thuật là phương pháp chính để điều trị ung thư hốc miệng giai đoạn sớm. Phẫu thuật không chỉ giúp loại bỏ bướu mà còn phục hồi chức năng và thẩm mỹ cho bệnh nhân.

3.2. Xạ Trị Và Hóa Trị Kết Hợp

Đối với các trường hợp ung thư ở giai đoạn muộn, xạ trị và hóa trị thường được kết hợp để nâng cao hiệu quả điều trị. Việc này giúp kiểm soát sự phát triển của bướu và giảm nguy cơ tái phát.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Điều Trị Ung Thư Hốc Miệng

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sống sót sau điều trị ung thư hốc miệng tại Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ có sự cải thiện đáng kể. Việc áp dụng các phương pháp điều trị hiện đại đã mang lại nhiều hy vọng cho bệnh nhân.

4.1. Tỷ Lệ Sống Sót Sau Điều Trị

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sống sót sau 5 năm của bệnh nhân ung thư hốc miệng đã tăng lên nhờ vào việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

4.2. Đánh Giá Hiệu Quả Điều Trị

Đánh giá hiệu quả điều trị cho thấy sự kết hợp giữa phẫu thuật và xạ trị mang lại kết quả tốt nhất cho bệnh nhân ung thư hốc miệng, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống.

V. Kết Luận Về Nghiên Cứu Ung Thư Hốc Miệng Tại Cần Thơ

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng ung thư hốc miệng là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng tại Cần Thơ. Cần có các biện pháp can thiệp kịp thời để nâng cao nhận thức và cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Ung Thư Hốc Miệng

Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc phát triển các phương pháp điều trị mới và nâng cao nhận thức cộng đồng về bệnh để giảm tỷ lệ mắc và tử vong.

5.2. Đề Xuất Các Giải Pháp Cải Thiện

Cần có các chương trình giáo dục sức khỏe và sàng lọc định kỳ để phát hiện sớm ung thư hốc miệng, từ đó nâng cao tỷ lệ sống sót cho bệnh nhân.

09/07/2025
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng mô bệnh học và đánh giá kết quả điều trị ung thư hốc miệng tại bệnh viện ung bướu thành phố cần thơ năm 2018 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu hốc miệng và yếu tố nguy cơ 1. Đặc điểm giải phẫu hốc miệng Thành phần hốc miệng bao gồm: môi, niêm mạc má, nướu răng, niêm mạc khẩu cái cứng, lưỡi di động, sàn miệng, tam giác hậu hàm.1: Giải phẫu học hốc miệng. (Nguồn: Textbook of Oral Cancer, 2020 [70]) Hốc miệng (hay khoang miệng) là phần đầu của ống tiêu hoá, được giới hạn bởi: phía trước thông với bên ngoài qua khe miệng, phía sau thông với hầu qua eo họng, hai bên là môi và má.

Phía trên ngăn cách với hốc mũi bởi khẩu cái cứng, phía dưới là sàn miệng, có xương hàm dưới, lưỡi và vùng dưới lưỡi. - Môi: là nếp da cơ và niêm mạc, giới hạn thành trước di động của miệng. Mặt ngoài môi trên, ở phần giữa có một rãnh nông, thẳng đứng là nhân trung, đầu dưới của nhân trung là lồi củ. Ở hai bên, hai môi liên tiếp với nhau tạo nên mép nằm ở góc miệng.

Môi được cấu tạo gồm ba lớp: ngoài là da, giữa là lớp cơ vân, trong cùng là lớp niêm mạc [1], [58]. 4 - Má: tạo nên thành bên của miệng liên tiếp với môi ở phía trước, ở mỗi bên có một rãnh chạy chếch xuống dưới và ra ngoài, gọi là rãnh mũi môi. Má được cấu tạo ba lớp: phía ngoài là da, dưới da là cơ bám da mặt. Lớp giữa là lớp mỡ, ống tuyến nước bọt Sténon, mạch máu, thần kinh, bạch huyết.

Phía trong là lớp niêm mạc, liên tiếp với niêm mạc môi [1], [58]. - Nướu răng: gồm phần tự do bao quanh ổ răng như một vòng đai và phần dính chặt vào mỏm huyệt răng của xương hàm trên và hàm dưới. Mô của nướu liên tiếp với màng xương của huyệt răng. Niêm mạc nướu phía ngoài liên tiếp với niêm mạc tiền đình, phía trong liên tiếp với niêm mạc khẩu cái và sàn miệng [1], [58].

- Vùng tam giác hậu hàm: nằm phía sau cung răng, giữa ống miệng và khoang miệng. Liên quan của vùng này: phía trước với lồi củ xương hàm trên, phía trong với cột trụ trước màn hầu và lưỡi gà, phía ngoài với vùng cằm ở trước, vùng cơ nhai ở phía sau, phía sau là khoảng bướm hàm, nằm trong nhánh lên của xương hàm dưới [1]. Vùng tam giác hậu hàm tiếp xúc trực tiếp với cơ chân bướm trong và liên quan với mạch máu, thần kinh chân bướm ngoài: động mạch hàm trong và nhánh thần kinh hàm dưới. Sự liên quan này giải thích hiện tượng đau, khít hàm thường gặp trong u vùng tam giác hậu hàm [82].

- Khẩu cái: gồm hai phần, khẩu cái cứng (thuộc khoang miệng) và khẩu cái mềm (thuộc họng miệng). Nghiên cứu này chúng tôi chỉ đề cập tới ung thư khẩu cái cứng thuộc khoang miệng. Khẩu cái cứng được tạo bởi mỏm khẩu cái của hai xương hàm trên, mảnh ngang của hai xương khẩu cái, giới hạn phía trước và hai bên là cung răng lợi, phía sau liên tiếp với khẩu cái mềm. Khẩu cái cứng gồm hai lớp: lớp niêm mạc liên tiếp với niêm mạc phía trước và hai bên, phía sau với niêm mạc khẩu cái mềm, lớp dưới niêm mạc có các tuyến khẩu cái [1], [58].

5 - Sàn miệng: hợp thành bởi ba cơ đi từ xương hàm dưới tới xương móng, được phủ bởi niêm mạc miệng, cơ hàm móng trải từ mặt trong xương hàm dưới đến xương móng, cơ cằm móng nằm phía trên, bụng trước cơ nhị thân nằm ở mặt dưới. Sàn miệng gồm có tuyến dưới lưỡi, nhánh của động mạch lưỡi và các ống nhận bạch huyết [1], [58]. - Lưỡi: được cấu tạo bởi một khung xương sợi và các sợi cơ vân, được phủ bởi niêm mạc. Mặt lưng được phủ một lớp niêm mạc dày dính có chứa các nhú lưỡi, mặt bụng được phủ bởi niêm mạc mỏng, trơn dễ trượt và liên tiếp với sàn miệng [1], [58].2: Những biến đổi niêm mạc miệng (Nguồn: Textbook of Oral Cancer, 2020 [70]) Khoang miệng được phủ bởi lớp niêm mạc miệng, phía trước liên tục với da môi và phía sau liên tục với niêm mạc họng.

Cấu trúc niêm mạc miệng thay đổi khác nhau tùy vị trí nhằm thích nghi với chức năng. Đặc điểm chung của niêm mạc miệng bao gồm lớp biểu mô và thành phần mô liên kết. Những biến đổi trong điều hòa tăng sinh ở lớp tế bào biểu mô như đột biến các gen p53, p16, miR-21, Ki67… gây ra ung thư niêm mạc miệng. 6 Dẫn lưu mạch bạch huyết vùng hốc miệng Ung thư hốc miệng có xu hướng di căn đến hạch cổ ngay từ những giai đoạn sớm.

Sự hiện diện của di căn hạch là yếu tố độc lập quan trọng nhất trong việc xác định tỷ lệ sống còn của bệnh nhân bị ung thư vùng đầu cổ [70]. Các nhóm hạch cổ được phân theo vùng dựa trên các cấu trúc nhìn thấy được bao gồm xương, cơ, các mạch máu và thần kinh trong quá trình phẫu tích vùng cổ. Hạch vùng đầu cổ được chia làm 6 nhóm bao gồm: nhóm I gồm 2 nhóm - IA nhóm dưới cằm, IB nhóm dưới hàm, nhóm II - hạch cảnh trên, nhóm III - hạch cảnh giữa, nhóm IV - hạch cảnh dưới, nhóm V - nhóm hạch thuộc tam giác (cổ) sau, nhóm VI - nhóm hạch thuộc tam giác (cổ) trước. Vị trí hạch di căn tùy thuộc vị trí bướu nguyên phát.

Nhìn chung, UTHM thường cho di căn hạch dưới hàm và hạch dưới cơ nhị thân – nhóm I, II, III. Di căn thường theo thứ tự hạch cổ nhóm cao đến nhóm giữa, rồi tới nhóm thấp, và thường hạch di căn cùng bên thương tổn. Sang thương nằm lệch hẳn qua một bên của đường giữa thường cho di căn hạch cổ cùng bên. Hạch hai bên hay hạch đối bên khi tổn thương ở đường giữa hay vượt quá đường giữa, nhưng thường có xu hướng di căn về phía bên nào có sang thương ưu thế [73].3: Các nhóm hạch cổ I-VI (Nguồn Head and neck surgery and oncology, 2019 [73]) 1.

Yếu tố nguy cơ liên quan đến ung thư hốc miệng Cho đến nay các nguyên nhân gây ung thư biểu mô khoang miệng vẫn chưa rõ ràng, tuy nhiên có một số yếu tố nguy cơ liên quan tới bệnh: 7 - Thuốc lá: có liên quan đến hầu hết các UTHM ở nam và hơn nửa số UTHM ở nữ. Thuốc lá có trên 4000 thành phần khác nhau trong đó có hơn 60 chất đã được biết là những chất gây ung thư [46], [51]. - Rượu: có mối liên quan đến 23 loại ung thư khác nhau, đứng đầu là ung thư hốc miệng và hầu [21]. Rượu có thể làm tăng sự xâm nhập của chất gây ung thư trên niêm mạc miệng bằng cách tăng khả năng hòa tan, tăng tính thấm của niêm mạc, hòa tan thành phần lipid của lớp biểu mô bình thường hoạt động như một hàng rào bảo vệ.

Rượu và thuốc lá có tác dụng hiệp đồng, một yếu tố đơn độc có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh lên 2 - 3 lần nhưng khi kết hợp lại chúng có thể tăng lên đến 38 lần nguy cơ mắc ung thư đầu cổ so với nhóm người không sử dụng [68], [85]. - Ăn trầu: nhiều nghiên cứu đã khẳng định mối liên quan giữa ăn trầu và UTBM khoang miệng. Theo Gupta, nhai trầu là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới tỷ lệ mắc cao của UTHM ở Ấn Độ và một số nước vùng Đông Nam Á [61]. Ăn trầu 10 lần trong ngày và kéo dài trên 30 năm thì tỷ lệ ung thư miệng cao gấp 6 lần [61].

Vệ sinh răng miệng kém: không phải là nguyên nhân chính dẫn đến UTHM, nhưng chắc chắn sẽ thúc đẩy nhanh tiến trình sinh ung thông qua các tác nhân sinh ung đã biết. Thành phần trong thuốc lá như ni-trít và ni-trít oxít hình thành và tích tụ nhiều hơn trong khoang miệng nhờ vào mảng bám vi khuẩn do vệ sinh răng miệng kém. Các vi khuẩn đẩy nhanh chuyển hóa từ alcohol thành aldehyde và tạo ra các gốc tự do làm thay đổi chu kỳ tế bào gây tăng sản tại chỗ và thay đổi hệ thống miễn dịch…[56]. Những tổn thương sau đây được coi là tiềm năng chuyển dạng ác tính: bạch sản, hồng sản, nhiễm nấm Candida, quá sản mạn tính.

Bên cạnh đó, các nhóm sau được coi là có liên quan đến tỷ lệ ung thư miệng cao nhưng không được coi là tiền ung thư như: loạn sản xơ hóa dưới niêm mạc, viêm lưỡi do 8 giang mai,. Nhóm nghi ngờ liên quan đến ung thư miệng: lichen phẳng, hồng ban lupus, loạn sản sừng [41], [82]. Đột biến gen: thường gặp trong UTHM là hiện tượng mất dị hợp tử của các gen đè nén bướu, đặc biệt là 3p (FTIT), 9p (CDKN2A) và 17p (TP53). Gen TP53 thường đột biến trong UTHM và các gen khác trong đường dẫn truyền p53 cũng bị rối loạn, như mất đoạn CDKN2A.

Vi rút bướu nhú người (human papilloma virus - HPV): một số nghiên cứu tìm thấy HPV tuýp 16 và 18 trong UTHM. Cơ chế gây ung thư là protein E6 của HPV phân hủy protein p53, và protein E7 của HPV, protein Rb của tế bào. Protein Ki67 trong nhân tế bào được xem là chất đánh dấu sinh học về sự sinh sản tế bào, do chỉ hiện diện trong chu trình tế bào và có sự biểu hiện của Ki67 trong UTHM. Ngoài ra, còn có sự khuếch đại và biểu hiện quá mức các gen đè nén bướu như vị trí CCND1 tại 11p13 và PIK3CA tại 3p26, đột biến gen Ras, hoạt hoá telomerase cũng thường gặp [4], [48], [70].

Phơi nhiễm nghề nghiệp: những người làm việc trong lĩnh vực xây dựng, luyện kim, dệt may, gốm sứ, khai thác gỗ và công nghiệp thực phẩm có tiếp xúc với folmaldehyde, bụi gỗ, bụi than, amiăng, khói hàn có liên quan đến nguy cơ ung thư khoang miệng và hầu [20]. Đặc điểm lâm sàng và mô bệnh học ung thư hốc miệng 1. Đặc điểm lâm sàng ung thư hốc miệng Dấu hiệu sớm của ung thư hốc miệng: loét bờ gồ có hoại tử ở trung tâm vết loét, loét nhỏ ở các đường nứt sâu trong lưỡi, loét nham nhở ở niêm mạc, mảng cứng, quá sản nướu khu trú [12]. Giai đoạn đầu, bệnh nhân có cảm giác vướng trong miệng, tăng tiết nước bọt đôi khi chảy máu từ sang thương.

Một số trường hợp bệnh được phát hiện sớm trong khám định kỳ, nhất là khi kiểm tra răng miệng. Sang thương thường xuất hiện dưới dạng khối sùi hoặc vết loét không lành được. Giai đoạn đầu 9 thường không đau. Bướu càng lớn, loét xâm nhiễm, bội nhiễm, có thể gây đau nhức, lan lên vai [12].

Khám lâm sàng tại bướu nguyên phát: bướu không có ranh giới rõ ràng, sượng cứng, đôi khi dễ chảy máu. Các triệu chứng khác như khít hàm, nói khó, lưỡi kém di động, nước bọt lẫn máu hay mủ [12].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng và Kết Quả Điều Trị Ung Thư Hốc Miệng Tại Bệnh Viện Ung Bướu Cần Thơ (2018-2020)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân ung thư hốc miệng và hiệu quả điều trị tại một cơ sở y tế cụ thể. Nghiên cứu này không chỉ giúp các bác sĩ và nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về tình hình bệnh lý mà còn cung cấp thông tin quý giá cho việc cải thiện phương pháp điều trị và chăm sóc bệnh nhân.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng thương tổn và đánh giá kết quả lâu dài phẫu thuật triệt căn ung thư phần trên dạ dày, nơi cung cấp thông tin về phẫu thuật ung thư dạ dày. Ngoài ra, tài liệu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng mô bệnh học và đánh giá kết quả điều trị u tiểu não ở trẻ em tại bệnh viện nhi trung ương cũng mang lại cái nhìn về điều trị ung thư ở trẻ em, giúp bạn có thêm góc nhìn về các phương pháp điều trị khác nhau. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Đánh giá kết quả hóa trị bổ trợ phác đồ folfox4 trong ung thư biểu mô tuyến đại tràng giai đoạn iii, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về hóa trị trong điều trị ung thư đại tràng.

Mỗi tài liệu đều là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của nghiên cứu ung thư, từ đó nâng cao kiến thức và hiểu biết của mình.