ĐẶT VẤN ĐỀ Sa tạng chậu nữ là sự tụt xuống của tử cung, bàng quang, trực tràng, thành trước, thành sau âm đạo…ra khỏi vị trí giải phẫu bình thường, do sự tổn thương và suy yếu các cấu trúc cân cơ và dây chằng nâng đỡ tại sàn chậu [3]. Đây là một bệnh không gây nguy hiểm đến tính mạng người phụ nữ, nhưng gây ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt, lao động cũng như tâm sinh lý…nói chung là gây ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống người phụ nữ [10]. Sa tạng chậu là một bệnh khá phổ biến ở Việt Nam. Theo thống kê của Bệnh viện Phụ Sản Trung ương, tỷ lệ bệnh này gặp ở chị em trong tuổi hoạt động sinh dục khoảng 20%, và gần 80% ở PN từ 40-50 tuổi [13].
Điều trị sa tạng chậu nữ tùy theo mức độ bệnh. Nhẹ có thể điều trị bằng nội khoa như luyện tập chức năng nâng và khép cơ đáy chậu, vòng nâng pessary, hay liệu pháp hormone thay thế [3]. Trước đây, việc điều trị phẫu thuật sa tạng chậu độ II - III chủ yếu là phẫu thuật cắt bỏ tử cung, cổ tử cung, kết hợp làm lại các thành của âm đạo (phẫu thuật Crossen, phẫu thuật Manchester…), tuy nhiên nếu chỉ cắt tử cung đường âm đạo đơn thuần thì sẽ làm khiếm khuyết hệ thống nâng đỡ sàn chậu và sẽ dẫn đến sa mỏm cắt về sau, các nghiên cứu cho thấy khoảng 40% có sa mỏm cắt sau cắt tử cung [13]. Ước muốn vẫn là phụ nữ, vẫn có khả năng làm vợ, làm mẹ, vẫn có khả năng sinh con sau điều trị sa tạng chậu ngày càng được xã hội thừa nhận, đặt ra cho các bác sĩ Sản Phụ khoa làm cách nào phục hồi các tạng vùng chậu bị sa trở về vị trí bình thường và gia cố vững chắc không bị sa tái phát mà không phải cắt bỏ tạng nào ở vùng chậu-nhất là tử cung [10].
Năm 1998, tác giả Ulmsten và cộng sự đã đề xuất việc khôi phục lại giải phẫu và chức năng của sàn chậu bằng cách gia cố các cân và dây chằng bằng một loại mảnh ghép tổng hợp, ưu điểm của mảnh ghép tổng hợp là không bị giãn 2 ra theo thời gian và không gây thay đổi sinh lý của người bệnh[10] [61]. Những năm qua, mảnh ghép tổng hợp đã được đưa vào ứng dụng trong phẫu thuật nâng sàn chậu, với mục đích nâng đỡ tử cung và gia cố các dây chằng của vùng đáy chậu, và đã cho kết quả tốt. Ưu điểm của nó là có khả năng phân tán các lực cơ học lên diện rộng, duy trì sức chịu đựng với áp lực của ổ bụng lên các cân và/hoặc các cơ bị suy yếu và không bị giãn ra theo thời gian [13], [29], [61]. Năm 2002 mảnh ghép tổng hợp điều trị sa tạng chậu được FDA công nhận, trong 300.000 ca phẫu thuật sa tạng chậu có 1/3 ca sử dụng mảnh ghép tổng hợp và 3/4 trong số này sử dụng mảnh ghép tổng hợp (mesh) đường âm đạo, trong những năm 2008-2010 số ca phẫu thuật sử dụng mảnh ghép tổng hợp tăng gấp 5 lần so với những năm 2005-2007 [4].
Wu và cộng sự đánh giá từ năm 2020-2050 số phụ nữ phải trải qua phẫu thuật do bệnh lý sàn chậu sẽ tăng 48,2% [4]. Ở Việt Nam, phẫu thuật đặt mesh đường âm đạo hoặc đường bụng bằng phẫu thuật nội soi để nâng sàn chậu trong bệnh lý sa tạng chậu nữ được thực hiện tại Bệnh viện Từ Dũ từ tháng 7/2009 và Bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 4/2009. Tại Bệnh viện Sản Nhi An Giang, bắt đầu triển khai phẫu thuật đặt mesh đường âm đạo để điều trị sa tạng chậu nữ, đây là một kỹ thuật mới đối với Bệnh viện Sản Nhi An Giang nên cần được đánh giá về độ an toàn và hiệu quả điều trị, vì vậy chúng tôi tiến hành: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, và kết quả điều trị sa tạng chậu nữ bằng phẫu thuật đặt mảnh ghép đường âm đạo tại Bệnh viện Sản Nhi An Giang năm 2020-2021” với mục tiêu: 1. Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở phụ nữ sa tạng chậu được phẫu thuật đặt mảnh ghép đường âm đạo tại Bệnh viện Sản Nhi An Giang năm 2020-2021.
Đánh giá kết quả điều trị sa tạng chậu nữ bằng phẫu thuật đặt mảnh ghép tổng hợp đường âm đạo tại Bệnh viện Sản Nhi An Giang năm 2020- 2021. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sơ lƣợc giải phẫu vùng chậu nữ Các cấu trúc giải phẫu vùng chậu nữ liên quan đến sa tạng chậu (POP) nữ bao gồm: tử cung (TC) và các phương tiện giữ tử cung tại chỗ, âm đạo (ÂĐ) và cân cơ của đáy chậu, và các cơ quan liên quan với tử cung như bàng quang (BQ), trực tràng (TrTr) [6]. Các phương tiện giữ tử cung tại chỗ [5] [14] - Dây chằng (DC) rộng: là nếp phúc mạc gồm hai lá tạo nên bởi phúc mạc bọc mặt trước và sau TC, kéo dài ra hai bên tạo thành.
Chạy từ bờ bên TC, vòi trứng tới thành bên chậu hông. - Dây chằng tròn: dài 10-15 cm, cấu tạo là thừng nửa sợi nửa cơ. Chạy từ góc bên TC ra trước đội phúc mạc lá trước DC rộng lên cho tới thành bên chậu hông, chui vào trong lỗ bẹn sâu, chạy trong ống bẹn và thoát ra ở lỗ bẹn nông, đồng thời tỏa ra các nhánh nhỏ tận hết tại mô liên kết gò mu và môi lớn. -Dải cùng - mu - sinh dục: bao gồm những thớ cơ xơ đi từ xương cùng qua TrTr bám đến cổ tử cung (CTC) và từ CTC bám vào BQ, xương mu phía trước và mặt trên của xương chậu, tạo nên các DC: DC TC cùng, DC ngang CTC, DC mu BQ.
- Đường bám của ÂĐ vào CTC: ÂĐ được giữ chắc bởi cơ nâng hậu môn, cơ ÂĐ - TrTr và nút thớ trung tâm, nên ÂĐ tạo nên chỗ dựa của TC. - Tư thế của TC: là gấp trước và ngả trước, đè lên mặt trên BQ, có tác dụng làm TC không tụt xuống [6].1 Thiết đồ đứng dọc giữa của cơ quan sinh dục nữ (Nguồn: Frank H.MD-Atlas Giải Phẫu Người-Tạng chậu hông và đáy chậu nữ-NXB Y Học 1997, tr. Tầng sinh môn chia làm 2 phần: phần trước là phần niệu đạo - sinh dục, phần sau là phần hậu môn. Cơ chế sa tạng chậu nữ POP nữ là hậu quả của (1) Sự yếu kém của sàn chậu, nghĩa là lực đỡ của sàn chậu kém hơn lực đẩy của áp lực ổ bụng.
Đặc điểm lâm sàng-cận lâm sàng sa tạng chậu nữ 1. Đặc điểm lâm sàng sa tạng chậu nữ 1. Các yếu tố liên quan đến sa tạng chậu nữ Có nhiều yếu tố gây nên POP như những bất thường bẩm sinh chiếm 1% các trường hợp sa tạng chậu nữ, các yếu tố sản khoa, tuổi già và mãn kinh, các rối loạn dinh dưỡng và các yếu tố làm tăng áp lực ổ bụng [6], [18]. Các liên quan sản khoa [7], [18] Liên quan đến sinh đẻ: - Đẻ sớm, đẻ dày, đẻ nhiều lần là yếu tố nguy cơ cao nhất.
- Chuyển dạ kéo dài làm cho ÂĐ căng quá mức. - Thời gian chuyển dạ quá nhanh làm cho âm đạo chưa được chuẩn bị tốt. - Đẻ khó do cổ tử cung, rặn quá sớm khi cổ tử cung chưa mở hết. - Số lần mang thai, trọng lượng thai, cách thức đẻ.
- Đỡ đẻ không đúng kỹ thuật. - Can thiệp thủ thuật trong đẻ thô bạo hoặc không đúng kỹ thuật: Forcep, Giác hút. Liên quan đến sang chấn: - Rách tầng sinh môn không phục hồi hoặc phục hồi không đúng. - Các sang chấn phụ khoa khác do tai nạn hoặc do sinh hoạt tình dục.
Tuổi già và mãn kinh 6 POP là do sự yếu kém chất lượng nâng đỡ của các tổ chức do thoái hóa tuổi già và sự thiếu hụt các hormon sinh dục sau mãn kinh làm các sợi cơ teo đi, xơ cứng và mất tính đàn hồi. Moor và cộng sự có khoảng 80% bệnh xảy ra sau tuổi mãn kinh [6], [7], [18]. Các yếu tố làm tăng áp lực ổ bụng thường xuyên Nghề lao động chân tay nặng nhọc, ho mãn tính, mang nịt bụng thường xuyên [7]. Rối loạn dinh dưỡng POP có thể do cơ địa bẩm sinh hay do ốm yếu vì các bệnh lý kinh niên.
Triệu chứng của sa tạng chậu nữ Các tổn thương có thể là: - Sa thành ÂĐ trước với túi BQ hay sa BQ. - Sa thành ÂĐ sau với túi TrTr hay sa TrTr. - CTC dài phì đại với TC sụt xuống thấp. - Hoặc khi tất cả tổn thương trên phối hợp với nhau, TC mất tất cả những liên hệ lân cận sẽ bị tụt ra ngoài khỏi lỗ ÂH, ngay cả với một áp lực rất nhỏ, kéo theo BQ và TrTr [7].
Triệu chứng POP Đặc điểm của bệnh tiến triển chậm, có thể kéo dài 5-20 năm. Triệu chứng hay gặp là khó chịu, cảm giác nặng ở bụng dưới, đi tiểu khó, đi tiêu khó,tiểu rắt,tiểu không tự chủ, khi cười hoặc ho thì bị són tiểu [18]. Những triệu chứng bất thường khiến bệnh nhân đến khám thường là cảm giác đè nặng ở ÂH, thấy có một khối sa ra ngoài ÂH [7], [18]. Thăm khám lâm sàng nên thực hiện với BN nằm tư thế nằm ngửa lấy sỏi hoặc tư thế sản phụ khoa giống như khám vùng chậu thông thường.
Trong 7 khi đánh giá từng vùng, BN được khuyến khích thực hiện nghiệm pháp Valsava để tạng sa có thể đạt tới mức độ tối đa [4]. Cần phải khám bằng mỏ vịt loại có thể tháo rời ra, thực hiện các thủ thuật mảnh mỏ vịt trước, sau và thủ thuật mảnh mỏ vịt sau đẩy CTC, qua đó đánh giá mức độ POP nữ, đồng thời xem kỹ các thành ÂĐ tìm các tổn thương, lỗ dò nếu có [6], [7]. Đặc điểm cận lâm sàng sa tạng chậu nữ: 1. Tổng phân tích nước tiểu: Đánh giá tình trạng nhiễm trùng tiểu 1.
Đo nước tiểu tồn lưu *Định nghĩa tiểu tồn lưu theo Hội niệu phụ khoa Quốc tế 2016: là tình trạng không có khả năng tống xuất hết nước tiểu dù cố gắng kéo dài [4]. Thực hiện sau khi vừa cho bệnh nhân tự tiểu hết, thông tiểu đo thể tích nước tiểu ngay sau đó. -Gọi là tiểu tồn lưu: khi thể tích nước tiểu đo được ≥ 150 ml -Không có tiểu tồn lưu: khi thể tích nước tiểu đo được < 150 ml 1. Niệu dòng đồ [4] Là một trong những cận lâm sàng quan trọng để đánh giá chức năng bàng quang trong sa tạng chậu.