Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về thú 1. Lịch sử nghiên cứu Lịch sử nghiên cứu khu hệ thú hoang dã Việt Nam gắn liền với lịch sử nghiên cứu động vật giới Việt Nam và có thể chia thành 3 giai đoạn chính như sau: 1. Thời kỳ trước 1954 – bước đầu tiên điều tra thành phần loài khu hệ thú việt Nam Có thể nói lịch sử nghiên cứu khu hệ thú ở Việt Nam được bắt đầu vào đầu thế kỉ 18 với các công trình của các nhà bác học Việt Nam như sách “Văn đài loại ngữ” và “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn (1724- 1784), sách “Đại nam nhất thống chí” của các nhà bác học Triều Nguyễn (1865- 1882),… Trong thời kỳ này, việc nghiên cứu tập trung vào thống kê những loài thú có sản phẩm quý giá (như: Voi, Tê giác, Hươu, Nai, Hươu xạ, Gấu, Hổ, Báo,…) liên quan đến việc khai thác các sản phẩm của chúng làm đồ mỹ nghệ trang trí các lâu đài chùa chiền hoặc cống nạp cho các triều đại phong kiến nước ngoài (ngà voi, sừng tê giác, móng châu bò, vuốt và da hổ, báo,…) và làm thuốc chữa bệnh trong nhân dân (mật gấu, mật các loài khỉ, vảy tê tê, xạ hương, nhung hươu,…).
Vào đầu thế kỉ 19, các nhà khoa học nước ngoài bắt đầu các cuộc khảo sát thăm dò động vật giới Việt Nam, thu thập các mẫu vật thú chuyển về các bảo tàng tự nhiên ở Pari (Pháp) và Luân Đôn (Anh) để phân tích. Nhà khoa học người Anh, George Filayson đã tiến hành các cuộc khảo sát thú đầu tiên ở Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam vào những năm 1821- 1822. Các tiêu bản thú thu được trong các đợt khảo sát này dần dần được M. Gurney (1889) phân tích và công bố.
Đến cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20, việc khảo sát động vật giới Việt Nam tiếp tục được các nhà khoa học nước ngoài thực hiện như: Milne-Edwards (1867- 1874), Morice (1875), Billet (1896- 1898), Butan (1900- 1906), Delacour (1925- 1933), Kelley-Roosevelt (1928- 1929), Kloss (1920- 1926),…Đoàn nghiên cứu lịch sử tự nhiên ở Đông Dương của Pavie (1879- 1895) đã tiến hành khảo sát tại Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam. Ở Việt Nam đoàn chủ yếu khảo sát ở Nam Bộ. Các tiêu bản thú của đoàn Pavie được Pousargues phân tích và công bố (1904). Cùng thời gian này (1900- 1906), có đoàn khoa học thường trú Đông Dương Bộ do Boutan dẫn đầu đã khảo sát ở Bắc Bộ, thu thập các tiêu bản thú gửi về Pari và được Ménégaux (1905- 1906) phân tích.
Tiếp đến, là Đoàn Delacour (1925- 1933) khảo sát ở nhiều địa phương trên toàn quốc và đoàn nghiên cứu của Kelley- Roosevelt (1928- 1929) đã tiến hành nghiên cứu thú tại Lào Cai, Quảng Trị và Huế. Các tiêu bản thú của 2 đoàn trên được Thomas (1925- 1929) và Osgood (1932) phân tích và công bố. Một số công trình tiêu biểu trong thời kỳ này như: bộ sách của A. Pavie xuất bản năm 1904 nói về các loài thú ở Đông Dương, công trình của Boutan “Decades zoologiques, mammiferes, Miss., Hanoi” (1906) nói về các loài thú ở miền Bắc Việt Nam và công trình của Osgood “ Mammals of the Kelley-Roosevelts and Delacour Asiatic Expeditions” (1932) thống kê ở Việt Nam có 172 loài và loài phụ thú.
Từ năm 1945 đến 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân pháp diễn ra ác liệt trên toàn quốc đã làm gián đoạn các hoạt động khảo sát động vật hoang dã ở Việt Nam. Thời kỳ từ năm 1955 đến 1975 – điều tra thống kê thành phần loài thú ở các địa phương thuộc miền Bắc Việt Nam c 5 Sau khi miền Bắc được giải phóng và hòa bình được lặp lại vào 1954, do yêu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế đất nước cần phải nắm vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó có tài nguyên sinh vật, công tác điều tra động vật nói chung và thú hoang dã nói riêng được hoạt động trở lại nhưng hoàn toàn do các nhà khoa học Việt Nam đảm nhận. Công tác điều tra nghiên cứu lúc đầu chỉ do một số ít cơ quan, chủ yếu là các trường đại học, tiến hành với lực lượng cán bộ còn nhỏ, trình độ thấp. Địa bàn điều tra hẹp, nội dung điều tra tập trung vào thu thập mẫu vật và thống kê thành phần loài.
Trong những năm 1955- 1959, chủ yếu gồm các đợt khảo sát lẻ tẻ của Khoa Sinh Trường Đại học tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội) để phục vụ cho giảng dạy và học tập của sinh viên. Từ sau năm 1959, đã có một số đợt điều tra tổng hợp về động vật với lực lượng cán bộ và số cơ quan tham gia ngày càng lớn. Phạm vi điều tra được ở rộng trên toàn miền Bắc. Nội dung điều tra cũng phong phú hơn, bao gồm cả điều tra thành phần loài, nghiên cứu sinh học, sinh thái, phát hiện trữ lượng và khả năng khai thác sử dụng các loài có giá trị kinh tế.
Vào những năm 1960 – 1975, công tác nghiên cứu ở miền Bắc Việt Nam do 3 cơ quan chính đảm nhận là: Ban Sinh vật- Địa học của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà Nước (UBKHKTNN); Khoa Sinh vật học của trường Đại học tổng hợp Hà Nội; Viện Điều tra quy hoạch Rừng của Tổng cục Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn). Ngoài ra, có một số cơ quan khác cũng tiến hành nghiên cứu như Viện Vệ sinh Dịch tễ, Trường Đại học quân y thuộc Bộ Y tế và Khoa Sinh vật học Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội. Ngoài những đợt điều tra do các cơ quan trên độc lập tiến hành, UBKHKTNN còn tổ chức và chủ trì Đoàn Điều tra liên hợp Động vật – Ký sinh trùng và côn trùng, với sự tham gia của 5 cơ sở nghiên cứu lớn thuộc 3 c 6 bộ (Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Bộ Y Tế và Bộ Giáo Dục). Trong đó, Bộ môn Động vật học của Trường Đại học Tổng hợp và Tổ Động vật học thuộc Ban Sinh vật – Địa học của UBKHKTNN đảm nhận phần điều tra động vật có xương sống.
Trong thời gian 1962- 1966, Đoàn đã thực hiện được 5 đợt điều tra tại 12 tỉnh miền Bắc: Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Lai Châu, Nghĩa Lộ, Sơn La, Thanh Hóa, Quảng bình, Hà Tĩnh và Nghệ An. Các kết quả nghiên cứu về thú trong giai đoạn này được các nhà khoa học Việt Nam phân tích và công bố trên các tạp chí trong nước (Tạp chí Sinh vật – Địa học, Tạp chí Hoạt động khoa học,…) và một số tạp chí khoa học nước ngoài (Zoologicheskii Zhurnal của liên xô cũ, Mitteilungen aus dem Zoologische Múeum in Berlin của Đức, Zeitchrift fur Saugertierkunde, Zool. Một số nhà khoa học đã có nhiều công trình công bố qua trọng như Đào Văn Tiến, Đặng Huy Huỳnh, Cao Văn Sung, Lê Hiền Hòa, Lê Vũ Khôi,… Trong thời kỳ này (1955- 1975), các nhà khoa học đã thống kê được ở miền Bắc Việt Nam có 169 loài thú (202 loài và phân loài) thuộc 32 họ và 11 bộ (UBKHKTNN, 1981). Ở miền Nam Việt Nam, do bị đế quốc Mỹ chiếm đóng nên công tác điều tra nghiên cứu thú hầu như không được tiến hành.
Đáng chú ý có công trình của Vương Ðình Sâm – giáo sư Trường Nông-Lâm-Súc Sài Gòn (1960- 1970). Ông đã biên soạn giáo trình giảng dạy cho sinh viên của trường, trong đó có phần “Thú lạp” mô tả nhiều loài thú thuộc các bộ Dơi, Gặm nhấm, Linh trưởng, Móng guốc, Thú ăn thịt có ở miền Nam Việt Nam. Trong những năm 1960 – 1970, để phục vụ cho quân đội Mỹ đóng tại miền Nam Việt Nam một số nhà khoa học nước ngoài đã tiến hành khảo sát nghiên cứu các nhóm thú có liên quan đến dịch tễ học, chủ yếu là các loài thú thuộc bộ Gậm nhấm (Rodentia). Một số công trình đã công bố như: Van Peenen et al.
Ducan et al. Công trình c 7 “Preliminary identification manual for mammals of south Vietnam” của Van Peenen et al. Thời kỳ từ 1975 đến nay – điều tra thống kê thành phần loài và đánh giá các giá trị khu hệ thú của các địa phương trên toàn quốc Sau khi miền Nam được giải phóng (1975), hòa bình được lập lại và Đất nước được thống nhất, bước vào thời kỳ phục hồi, xây dựng và phát triển kinh tế, công tác điều tra nghiên cứu động vật nói chung và nghiên cứu thú nói riêng càng trở nên quan trọng hơn, do đó đã có những bước phát triển lớn. Nội dung nghiên cứu chủ yếu tập trung vào: - Điều tra thống kê, đánh giá giá trị khu hệ và tài nguyên thú ở các địa phương phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế và bảo tồn đa dạng sinh học.
- Nghiên cứu chuyên sâu về sinh học, sinh thái một số nhóm thú có giá trị kinh tế cao hoặc có tầm quan trọng bảo tồn gen cao và xây dựng kế hoạch quản lý, bảo tồn và sử dụng bền vững chúng. Địa bàn nghiên cứu được mở rộng ra toàn quốc, đặc biệt là các tỉnh phía Nam. Lực lượng tham gia cũng được phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng nghiên cứu, bao gồm các viện nghiên cứu (Viện Sinh vật học nay là Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Điều tra Qui hoạch Rừng, Viện Sinh học Nhiệt đới,…), các trường đại học trong cả nước (Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Lâm nghiệp, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh,…).
Không những các cơ quan đã độc lập tổ chức các đợt điều tra nghiên cứu, mà nhà nước cũng có một số chương trình trọng điểm quốc gia như: Chương trình 52-02 điều tra tổng hợp Tây Nguyên (1981- 1986), Chương trình CT-48C ( 1987- 1900), chương trình nghiên cứu điều tra động vật vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, các tỉnh miền Đông Nam Bộ do c 8 Viện Khoa học Việt Nam chủ trì, chương trình kiểm tra tài nguyên rừng do bộ Lâm nghiệp chủ trì, chương trình động vật chí Việt Nam do Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam chủ trì (1996- 2005),… Đặc biệt, trong thời kỳ này có sự phát triển đáng kể về hợp tác quốc tế trong điều tra nghiên cứu động vật ở nước ta. Trước hết là sự hợp tác với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây (Trung quốc, Hungary, Ba lan, Đông Đức,…). Đáng kể nhất là chương trình hợp tác Việt-Xô nghiên cứu tổng hợp hệ sinh thái rừng nhiệt đới Kon Hà Nừng (Gia Lai) giữa Viện Sinh vật học thuộc Viện Khoa học Việt Nam và Viện Hình thái tiến hóa và Sinh thái Động vật thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (1981- 1985).