Tổng quan nghiên cứu

Khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh Nam Xuân Lạc được thành lập theo Quyết định số 342/QĐ-UB ngày 13/3/2004 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn, sở hữu tổng diện tích tự nhiên 1.788 ha với độ che phủ rừng đạt 51,5%. Khu bảo tồn giữ vai trò là cầu nối sinh thái quan trọng giữa Vườn quốc gia Ba Bể và Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang. Trên phạm vi toàn quốc, các nhà khoa học đã ghi nhận 322 loài thú và 887 loài chim, nhưng đồng thời có tới 94 loài thú và 76 loài chim bị đe dọa tuyệt chủng theo Sách đỏ Việt Nam năm 2007. Thực trạng suy giảm tài nguyên động vật dưới tác động của con người đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đánh giá toàn diện hiện trạng đa dạng sinh học tại các hệ sinh thái núi đá vôi Đông Bắc.

Luận văn Thạc sĩ Khoa học Lâm nghiệp của tác giả Nguyễn Cao Sơn, thực hiện tại Trường Đại học Lâm nghiệp năm 2014 dưới sự hướng dẫn của TS. Vũ Tiến Thịnh, đã giải quyết khoảng trống dữ liệu về khu hệ động vật tại khu vực này. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: xác định thành phần loài thuộc 4 lớp chính (thú, chim, bò sát, lưỡng cư); đánh giá hiện trạng các loài nguy cấp, quý hiếm; nhận diện các mối đe dọa nhân sinh và đề xuất giải pháp quản lý bền vững.

Phạm vi nghiên cứu được thực hiện trong 6 tháng (từ tháng 8/2013 đến tháng 4/2014) trên địa bàn xã Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Về mặt ý nghĩa thực tiễn, đề tài cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng với 141 loài động vật có xương sống, hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý tài nguyên rừng và định hướng phát triển sinh kế cho cộng đồng vùng đệm nơi có tỷ lệ hộ nghèo lên đến 57,85%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết Sinh thái học cảnh quan (Landscape Ecology) và lý thuyết Sinh học bảo tồn (Conservation Biology) nhằm đánh giá mối quan hệ tương tác giữa cấu trúc sinh cảnh rừng karst với tính đa dạng của quần xã động vật. Đề tài áp dụng mô hình đánh giá mối đe dọa theo ma trận định lượng của Margoluis và Salafsky (2001) dựa trên ba biến số: diện tích tác động, cường độ phá hủy và tính cấp thiết.

Khung lý thuyết của luận văn xoay quanh 4 khái niệm cốt lõi: đa dạng sinh học (Biodiversity), sinh cảnh núi đá vôi karst (Karst ecosystem), tính dễ bị tổn thương của loài (Species vulnerability) và hành lang đa dạng sinh học (Biodiversity corridor). Phân loại học được chuẩn hóa theo hệ thống phân loại của Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh (2009) cho lớp thú, Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân (2011) cho lớp chim, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trường (2009) cho lớp bò sát và lưỡng cư. Tình trạng bảo tồn được đối chiếu trực tiếp qua Sách đỏ Việt Nam (2007), Danh lục đỏ thế giới IUCN (2013) và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập thông qua sự kết hợp giữa phương pháp điều tra thực địa sinh học và đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng (PRA).

  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:

    • Điều tra xã hội học: Chọn mẫu có chủ đích với cỡ mẫu gồm 22 người dân địa phương am hiểu địa bàn, bao gồm thợ săn giàu kinh nghiệm, cán bộ kiểm lâm và người dẫn đường tại các thôn bản xung quanh khu bảo tồn.
    • Tuyến khảo sát thực địa: Thiết lập 7 tuyến điều tra tiêu chuẩn với tổng chiều dài khoảng 21,5 km (mỗi tuyến kéo dài từ 2,0 km đến 4,0 km), phân bố đều qua các sinh cảnh rừng tự nhiên núi đất trạng thái IIa, IC, Ib, IIIa1, IIb ở đai cao từ 400 m đến 1.159 m.
    • Phương pháp hỗ trợ: Sử dụng 4 lưới mờ chuyên dụng (3 lưới kích thước 9x3 m và 1 lưới 12x3 m) kiểm tra 30 phút một lần để bẫy bắt chim tầng thấp; ứng dụng máy ghi âm để nhận dạng và dẫn dụ chim qua tiếng hót; thu mẫu lưỡng cư bằng túi nilon chuyên dụng, lưu giữ 2-3 mẫu chuẩn cho mỗi loài để định loại.
  • Timeline nghiên cứu: Khảo sát thực địa liên tục từ tháng 8/2013 đến tháng 4/2014, chia thành hai ca điều tra ban ngày (từ 5h30 đến 17h30) và ban đêm (từ 18h00 đến 24h00).

  • Lý do lựa chọn phương pháp: Việc kết hợp điều tra tuyến, lưới mờ và phỏng vấn chuyên sâu giúp tối ưu hóa khả năng ghi nhận loài trong điều kiện địa hình núi đá chia cắt hiểm trở, đồng thời khắc phục tập tính lẩn tránh của các loài thú ăn đêm và phát huy nguồn tri thức sinh thái bản địa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Tổng hợp dữ liệu từ thực địa và phỏng vấn, luận văn ghi nhận 141 loài động vật có xương sống trên cạn tại Khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh Nam Xuân Lạc, cụ thể:

  • Lớp Thú: Xác định 29 loài thuộc 14 họ và 4 bộ. Bộ Ăn thịt (Carnivora) chiếm ưu thế lớn nhất với 6 họ (chiếm 42,86% tổng số họ) và 13 loài (chiếm 44,83% tổng số loài thú). Quan sát trực tiếp ghi nhận 4 loài (Cu li nhỏ, Chồn vàng, Sóc bụng đỏ, Sóc chuột hải nam) và phát hiện 5 loài qua dấu vết tự nhiên (Gấu ngựa, Lợn rừng, Cầy vòi mốc, Hoẵng, Don).
  • Lớp Chim: Ghi nhận 72 loài thuộc 25 họ và 6 bộ. Bộ Sẻ (Passeriformes) chiếm ưu thế tuyệt đối với 18 họ (chiếm 72,00% tổng số họ) và 52 loài (chiếm 72,22% tổng số loài chim). Có tới 33 loài chim (đạt 45,83% tổng số loài chim) được quan sát trực tiếp trên tuyến.
  • Lớp Bò sát và Lưỡng cư: Thống kê 26 loài bò sát (11 họ, 2 bộ) và 14 loài ếch nhái (6 họ, 1 bộ). Bộ Có vẩy (Squamata) chiếm 19 loài (chiếm 73,08% tổng số loài bò sát); họ Ếch nhái chính thức chiếm 5 loài với mật độ cá thể cao.
  • Động vật nguy cấp: Phát hiện 36 loài quý hiếm, trong đó có 26 loài trong Sách đỏ Việt Nam (2007), 19 loài thuộc Danh lục đỏ IUCN (2013) và 26 loài nằm trong danh mục Nghị định 32/2006/NĐ-CP, bao gồm các loài mang tính biểu tượng như Voọc mũi hếch (CR), Voọc đen má trắng (EN), Cu li nhỏ (VU), Sóc bay lông tai (CR).

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ quan sát trực tiếp lớp chim (45,83% với 33 loài) và lớp thú (chỉ 13,79% với 4 loài) bắt nguồn từ tính chất di chuyển nhanh, tập tính ăn đêm của thú nhỏ và kích thước quần thể suy giảm nghiêm trọng của các loài thú lớn. Toàn bộ cấu trúc khu hệ này có thể được mô tả trực quan qua biểu đồ cột so sánh tương quan số lượng họ - loài giữa 4 lớp động vật và biểu đồ tròn biểu diễn cơ cấu chiếm ưu thế của bộ Sẻ (72,22%) cùng bộ Ăn thịt (44,83%).

So sánh với các khu vực bảo tồn lân cận, Nam Xuân Lạc duy trì độ giàu bậc cao về các loài linh trưởng và thú ăn thịt nhỏ nhờ thảm thực vật núi đá vôi ít bị xáo trộn ở độ cao trên 800 m. Tuy nhiên, kết quả đánh giá ma trận đe dọa chỉ ra 4 áp lực nhân sinh cốt lõi: săn bắn trái phép, khai thác gỗ, chuyển đổi đất rừng làm nương rẫy và chăn thả gia súc. Với 387 hộ nghèo (chiếm 57,85% dân số xã Xuân Lạc) và riêng thôn Nà Dạ tỷ lệ nghèo đạt 57,14%, sinh kế dựa vào rừng của đồng bào dân tộc thiểu số đang trực tiếp đẩy 7 loài thú vào tình trạng rất hiếm gặp tại địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn bền vững nguồn gen động vật quý hiếm tại khu bảo tồn, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

  • Tăng cường tuần tra và kiểm soát thực địa: Ban Quản lý Khu bảo tồn phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Chợ Đồn thiết lập các trạm chốt lưu động trên 7 tuyến điều tra trọng yếu, ứng dụng phần mềm giám sát diễn biến rừng và bẫy ảnh tự động. Target metric: Giảm tối thiểu 70% số vụ bẫy bắt và xâm nhập rừng trái phép trong vòng 24 tháng (giai đoạn 2014-2016).
  • Khoanh vùng bảo tồn nghiêm ngặt sinh cảnh núi đá vôi: Cắm mốc ranh giới rõ ràng tại các tiểu khu cư trú trọng yếu của Voọc mũi hếch, Voọc đen má trắng và Gấu ngựa, bảo đảm duy trì toàn vẹn 1.788 ha diện tích rừng tự nhiên với độ che phủ trên 51,5%. Chủ thể thực hiện là Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn trong timeline 18 tháng.
  • Phát triển sinh kế thay thế cho cộng đồng vùng đệm: Ủy ban nhân dân huyện Chợ Đồn cùng chính quyền xã Xuân Lạc và Bản Thi triển khai các mô hình nông lâm kết hợp, trồng cây lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng và cung cấp kỹ thuật chăn nuôi gia súc có chuồng trại cho 387 hộ nghèo. Target metric: Giảm tỷ lệ nghèo vùng đệm xuống dưới 35% trong lộ trình 3 đến 5 năm nhằm giảm thiểu áp lực phá rừng làm rẫy.
  • Nâng cao nhận thức bảo tồn thiên nhiên: Tổ chức các chương trình truyền thông môi trường tại 14 thôn bản, đưa nội dung bảo vệ động vật hoang dã vào hương ước thôn bản. Target metric: 100% hộ gia đình tại vùng lõi và vùng đệm ký cam kết không săn bắn, không nuôi nhốt chim thú cảnh và không tham gia buôn bán thịt rừng trong vòng 12 tháng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban Quản lý rừng đặc dụng và lực lượng Kiểm lâm: Cung cấp bản đồ phân bố sinh cảnh, danh lục 141 loài và hệ thống 7 tuyến khảo sát thực tế giúp tối ưu hóa công tác tuần tra rừng và quản lý các loài nguy cấp.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên ngành Lâm nghiệp, Sinh thái học: Cung cấp tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp điều tra đa dạng sinh vật học tích hợp (tuyến, lưới mờ, tiếng hót, PRA) và số liệu kiểm kê thực chứng tại vùng núi đá vôi karst.
  • Cơ quan hoạch định chính sách cấp tỉnh và huyện: Cung cấp luận cứ khoa học để Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Kạn xây dựng quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học và phê duyệt các dự án đầu tư phát triển kinh tế xã hội vùng đệm giai đoạn 5 đến 10 năm.
  • Các tổ chức bảo tồn phi chính phủ (IUCN, WWF, FFI): Tiếp cận dữ liệu thực địa về các loài linh trưởng nguy cấp toàn cầu (Voọc mũi hếch, Voọc đen má trắng) nhằm tài trợ dự án bảo tồn liên vùng và mở rộng hành lang sinh thái Đông Bắc.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận văn đã ghi nhận bao nhiêu loài động vật quý hiếm tại KBTLVSC Nam Xuân Lạc? Nghiên cứu đã ghi nhận 36 loài động vật có xương sống quý hiếm bị đe dọa ở cấp quốc gia và toàn cầu. Trong đó có 26 loài thuộc Sách đỏ Việt Nam (2007), 19 loài thuộc Danh lục đỏ IUCN (2013) và 26 loài nằm trong danh mục bảo vệ của Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, tiêu biểu như Voọc mũi hếch và Cu li nhỏ.

  2. Vì sao tỷ lệ bắt gặp các loài thú trực tiếp ngoài thực địa lại thấp hơn rất nhiều so với lớp chim? Tỷ lệ bắt gặp thú trực tiếp chỉ đạt 4 loài (chiếm 13,79%) so với 33 loài chim (chiếm 45,83%). Điều này xuất phát từ tập tính kiếm ăn ban đêm, khả năng ngụy trang lẩn trốn trong hang hốc núi đá và sự suy giảm mật độ cá thể do tập quán săn bẫy lâu đời của người dân địa phương.

  3. Nhóm phân loại nào chiếm ưu thế tuyệt đối trong khu hệ chim và thú tại khu bảo tồn? Ở lớp Thú, bộ Ăn thịt chiếm ưu thế vượt trội với 6 họ (42,86%) và 13 loài (44,83%). Ở lớp Chim, bộ Sẻ giữ vị thế áp đảo tuyệt đối với 18 họ (chiếm 72,00% tổng số họ) và 52 loài (chiếm 72,22% tổng số loài chim ghi nhận tại khu vực nghiên cứu).

  4. Những mối đe dọa nhân sinh chính nào đang tác động tiêu cực đến khu hệ động vật? Bốn mối đe dọa chính bao gồm: săn bắn bẫy bắt trái phép, phá rừng làm nương rẫy, khai thác gỗ và chăn thả gia súc tự do. Nguồn gốc sâu xa là do áp lực kinh tế của 387 hộ nghèo (chiếm 57,85% số hộ xã Xuân Lạc) vốn phụ thuộc chủ yếu vào việc khai thác lâm sản tự nhiên.

  5. Phương pháp nào được sử dụng để đánh giá mức độ nghiêm trọng của các mối đe dọa? Luận văn áp dụng phương pháp ma trận định lượng của Margoluis và Salafsky (2001), tiến hành chấm điểm các mối đe dọa dựa trên ba tiêu chí: tỷ lệ diện tích ảnh hưởng, cường độ tác động đến sinh cảnh và tính cấp thiết trong mốc thời gian khảo sát thực tế giai đoạn 2013-2014.

Kết luận

  • Xác lập danh lục khoa học hoàn chỉnh gồm 141 loài động vật có xương sống trên cạn thuộc 4 lớp: 29 loài thú, 72 loài chim, 26 loài bò sát và 14 loài lưỡng cư tại Nam Xuân Lạc.
  • Khẳng định giá trị bảo tồn quốc tế vượt trội với 36 loài nguy cấp, đặc biệt là quần thể Voọc mũi hếch, Voọc đen má trắng và các loài ăn thịt quý hiếm.
  • Nhận diện chính xác 4 mối đe dọa nhân vi xuất phát từ thực trạng đói nghèo của 57,85% hộ dân vùng đệm và tình trạng khai thác tài nguyên rừng thiếu kiểm soát.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp liên ngành kết hợp giữa tuần tra 7 tuyến trọng điểm và chuyển đổi sinh kế giảm nghèo cho cộng đồng trong khung thời gian 24 đến 36 tháng.
  • Thiết lập lộ trình giám sát đa dạng sinh học định kỳ theo chu kỳ 3 đến 5 năm một lần để kịp thời phát hiện biến động quần thể sinh vật.

Độc giả quan tâm đến công tác quản lý tài nguyên rừng và bảo tồn sinh thái đá vôi hãy tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ này để áp dụng hiệu quả vào thực tiễn nghiên cứu và hoạch định chính sách bảo tồn đa dạng sinh học!