Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lược sử nghiên cứu chim ở Viêṭ Nam 1. Tình hình nghiên cứu chim nói chung ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu về chim ở Viê ̣t Nam đề u do các nhà khoa ho ̣c người nước ngoài thực hiên. ̣ Từ năm 1945 – 1954, do chiế n tranh nên các hoa ̣t đô ̣ng về nghiên cứu chim ở Viê ̣t Nam đề u bi ̣ gián đoa ̣n.
Cho đế n sau khi Bắ c Viê ̣t Nam giải phóng, mô ̣t số nhà khoa ho ̣c Viêṭ Nam mới bắ t đầ u nghiên cứu. Tiêu biể u nhấ t có công triǹ h nghiên cứu của tác giả Võ Quý, Trầ n Gia Huấ n 1960 - 1961; Võ Quý 1962 - 1966; Võ Quý, Đỗ Ngo ̣c Quang 1965; Võ Quý và Alogiava N. Ngoài ra còn có mô ̣t số công triǹ h nghiên cứu Fiso và Lê Diên Dực 1966 về chim miề n Bắ c Viê ̣t Nam. Năm 1971, Võ Quý đã tổ ng hơ ̣p kế t quả nghiên cứu về đời số ng của các loài chim phổ biế n ở miề n Bắ c Viêṭ Nam và xuấ t bản công triǹ h “Sinh ho ̣c các loài chim thường gă ̣p ở Viêṭ Nam”.
Trong sách tác giả có mô tả các đă ̣c điể m về thức ăn, nơi ở, đă ̣c điể m sinh sản và mô ̣t số tâ ̣p tiń h khác của gầ n hai trăm loài chim ở miề n Bắ c, đa số các loài này có ý nghiã kinh tế. Sau khi thố ng nhấ t đất nước, nghiên cứu chim ở các tỉnh phía Nam được tiếp tục bởi các nhà khoa học Việt Nam. Một số chương trình điều tra tổng hợp về tài nguyên sinh vật trong đó có chim đã được tiến hành như: Chương trình điều tra tổng hợp Tây Nguyên 1 và Tây Nguyên 2. Công trin ̀ h về chim trong giai đoạn này đáng chú ý là cuốn “Chim Viê ̣t Nam, Hình thái phân loa ̣i (Tâ ̣p I và II) của Võ Quý 1975 – 1981” là công triǹ h đầ u tiên nghiên cứu chim trên toàn lañ h thổ Viê ̣t Nam về mă ̣t hình thái và phân loa ̣i.
Kết thúc các đợt nghiên cứu này, Võ Quý và Nguyễn Cử (1995) đã xây dựng “Danh lu ̣c chim Viê ̣t Nam” gồ m 19 bô ̣, 81 ho ̣ và 828 loài chim. Với 4 mỗi loài các tác giả đề u dẫn các đă ̣c điể m về hiê ̣n tra ̣ng và vùng phân bố. Mô ̣t số loài chim quý hiế m, đă ̣c hữu đươ ̣c nghiên cứu và tái phát hiê ̣n như: Sế u cổ đỏ (Grus antigone), Gà lôi lam mào đen (Lophura imperialis), Gà lôi lam mào trắ ng (Lophura edwardsi), Gà so cổ hung (Arborphila davidi), Quắ m cánh xanh (Pseudibis davisoni), Mi núi bà (Crocias langbianus) và gầ n đây nhấ t loài Va ̣c hoa (Gorsachius magnificus). Mô ̣t số loài mới cho khoa ho ̣c đã đươ ̣c công bố : Gà lôi lam đuôi trắ ng (Lophura hatinhensis), Khướu ngo ̣c linh (Garrulax ngoclinhensis), Khướu vằ n đầ u đen (Actinodura sodangorum), Khướu Kon Ka Kinh (Garrulax kokakinhensis).
Cho đế n những năm gầ n đây, cùng với sự tích cực trong nỗ lực bảo tồn đa da ̣ng sinh ho ̣c của Chin ́ h phủ Viê ̣t Nam thì nhiề u dự án bảo tồ n đa da ̣ng sinh ho ̣c do các tổ chức: Bảo tồ n chim Quố c tế (Bird Life International); Tổ chức bảo vê ̣ đô ̣ng thực vâ ̣t Quố c tế (FFI); Hiê ̣p hô ̣i bảo tồ n thiên nhiên Quố c tế (IUCN); Quỹ Quố c tế bảo vê ̣ thiên nhiên (WWF), Ngân hàng thế giới (WB)…đã đươ ̣c triể n khai do vâ ̣y công tác bảo tồ n đa da ̣ng sinh ho ̣c của nước ta đươ ̣c thúc đẩ y ma ̣nh mẽ hơn. Công triǹ h nghiên cứu về chim gầ n đây nhất là cuố n “Chim Viê ̣t Nam” của tâ ̣p thể các tác giả Nguyễn Hữu Cử, Lê Tro ̣ng Trải, Karen Philipps (Năm 2000) tài liêụ này giới thiê ̣u hơn 500 loài chim trong tổ ng số gầ n 850 loài chim hiê ̣n có ở Viê ̣t Nam. Tóm lại các công trình nghiên cứu chim ở Việt Nam đang còn ở mức độ khiêm tốn. Tính cho đến nay, trên lãnh thổ Việt Nam đã tìm thấy 887 loài, thuộc 88 họ, 20 bộ (Nguyễn Lâm Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân, 2011).
Phân loại chim Quan điểm phân loại chim đến nay cơ bản vẫn sử dụng tên phổ thông tiếng Việt theo tài liệu của Võ Quý và Nguyễn Cử (1995), tên tiếng Anh và tên khoa học theo Inskipp et al, (1996). 5 Năm 2005, Nguyễn Cử, Lê Trọng Trải và Karen Phillips đã xuất bản cuốn Chim Việt Nam trên cơ sở kế thừa các tài liệu trước đây nhưng đã chuẩn hóa tên phổ thông Việt Nam, tên tiếng Anh cũng như mô tả hình thái của chúng và bổ xung thêm nguồn tài liệu và phân loại các loài chim hiện có. Tuy nhiên, tài liệu mà chúng tôi cập nhật nhất hiện nay theo phân loại của Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân (2011). Theo quan điểm phân loại này, ở Việt Nam hiện có 887 loài chim thuộc 88 họ và 20 bộ.
Nghiên cứu Khu hê ̣ chim ta ̣i KBTTN Bắ c Mê - Hà Giang. Tháng 2 năm 2009, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật tiến hành điều tra và ghi nhận được 104 loài chim phân bố tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc Mê. Các loài chim phân bố ở hầu hết các dạng sinh cảnh trong khu vực và mô ̣t số loài sống đặc trưng tại khu vực rừng trên núi đá vôi. Trong số đó có 2 loài được ghi trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ (1 loài ở nhóm IB và 1 loài ở nhóm IIB).
Có 1 loài được liệt kê trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) là Gà lôi trắng (Lophura nycthemera) ở bậc LR (Ít nguy cấp). Có 9 loài được ghi trong phụ lục II của Công ước CITES (2006). Tuy nhiên, từ năm 2009 đế n nay các công trình nghiên cứu nhằ m bổ sung thông tin về khu hê ̣ chim cho KBTTN Bắ c Mê còn rấ t ha ̣n chế. Do đó, cần có những công trình điều tra nghiên cứu một cách tỉ mỉ, quy mô hơn nhằm xác định rõ hiện trạng, phân bố cũng như những yếu tố đe dọa đến Khu hệ chim tại đây.
Bởi vậy, đây sẽ là những cơ sở khoa học quan trọng cho các nhà quản lý, các nhà bảo tồn có các chính sách, định hướng, hoạch định cụ thể nhằm bảo tồn đa dạng sinh học cũng như các loài chim quý hiếm có mặt tại KBTTN Bắc Mê, tỉnh Hà Giang. 6 Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2. Điều kiện tự nhiên 2. Vị trí địa lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc Mê nằm trên địa bàn 3 xã: Thượng Tân, Minh Ngọc, Lạc Nông, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.
Trụ sở Ban quản lý khu BTTN Bắc Mê đặt tại trung tâm Thị trấn Bắc Mê, khu BTTN Bắc Mê tiếp giáp với các đơn vị hành chính sau: - Phía Bắc giáp xã Yên Phú, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang. - Phía Nam giáp xã Thuý Loa, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. - Phía Đông giáp xã Yên Cường và xã Phiêng Luông, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang. - Phía Tây giáp xã Yên Định huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.
Kết quả rà soát, quy hoạch 3 loại rừng theo theo Chỉ thị 38/2005/CT- TTg ngày 15/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ, về việc rà soát quy hoạch 3 loại rừng (được UBND tỉnh Hà Giang phê duyệt tại Quyết định 2104/QĐ- UBND ngày 01 tháng 08 năm 2008). Tổng diện tích KBTTN Bắc Mê có 9. Trong đó chia ra các phân khu chức năng: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 8.298,9 ha; Phân khu phục hồi sinh thái 743,6 ha; không có phân khu dịch vụ hành chính. Khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc Mê nằm ở vùng lõm của cánh cung Sông Gâm về phía Đông Nam tỉnh Hà Giang, địa hình cao, dốc, mức độ chia cắt mạnh, có nhiều đỉnh cao trên 1000 m dọc theo các dãy cánh cung Sông Gâm, cao nhất là đỉnh Thải Giàng Phìn có độ cao 1.
Thấp nhất là khu vực hồ thuỷ điện Tuyên Quang có độ cao 120 m. Địa thế khu vực nghiêng dần từ Đông Bắc sang Tây Nam. Độ dốc bình quân 300, nhiều nơi có độ dốc trên 400. Điều kiện khí hậu, thủy văn 2.
Khí hậu Khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc Mê có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng sâu sắc của khí hậu vùng núi cao phía Bắc Việt Nam. Mùa Hè có gió Đông Nam, Tây Nam kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10. Mùa Đông có gió mùa Đông Bắc kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Chế độ nhiệt: + Nhiệt độ trung bình năm: 22,60C - 230C.
+ Nhiệt độ trung bình cao nhất: 27,20C - 27,50C. + Nhiệt độ tối thấp trung bình: 1,50C. Các tháng 11,12 đến tháng 1, tháng 2 năm sau nhiệt độ xuống rất thấp, nhiều vùng nhiệt độ xuống dưới 00C, nhiều năm xuất hiện băng, tuyết. - Lượng mưa bình quân trong năm từ 2.200 mm, tập trung vào các tháng 6,7,8,9 trong năm.
Lượng mưa trong mùa hè và mùa thu chiếm 85 - 90% lượng mưa cả năm. Mùa đông lượng mưa rất nhỏ, thường dưới 50 mm/tháng, trong đó lượng bốc hơi lớn, gây nên khô hạn thiếu nước trong sinh hoạt và sản xuất. Thủy văn Do địa hình chia cắt mạnh, cho nên Bắc Mê có rất nhiều khe, suối. Tất cả các suối này đều chảy ra con sông chính và chảy qua KBT đó là Sông Gâm.
Tại huyện Na Hang - Tuyên Quang trên Sông Gâm đã xây dựng thuỷ điện Sông Gâm, một số nơi KBT Bắc Mê đã nằm trong khu vực lòng hồ của thuỷ điện này, điển hình là xã Thượng Tân. Tài nguyên đa dạng sinh học 2. Hệ thực vật Theo kết quả điều tra sơ bộ Khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc Mê, đã xác định được 523 loài của 137 họ thực vật thuộc các ngành: Ngành Thông đất - 8 Lycopodiophyta; Ngành Mộc tặc - Equisetophyta; Ngành Dương xỉ - Polypodiophyta; Ngành Thông - Pinophyta và Ngành Mộc lan - Magnoliophyta. Thành phần Hệ thực vật Khu BTTN Bắc Mê Ngành Tên khoa học Số họ Số chi Số loài Ngành Thông đất Lycopodiophyta 2 3 5 Ngành Mộc tặc Equisetophyta 1 1 1 Ngành Dương xỉ Polypodiophyta 19 30 49 Ngành Thông Pinophyta 4 4 5 Ngành Mộc lan Magnoliophyta 111 315 463 Trong Ngành Mộc Lan (Magnoliophyta) thì lớp Mộc Lan (Magnoliopsida) có 94 họ (chiếm 84,6% số họ); 269 chi (chiếm 85,4% số chi) và 398 loài (chiếm 85,9%) số loài trong ngành.