Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Sơ lược về cây dừa Dừa là một loài cây có tên khoa học là Cocos cj/@ra L., cao đến khoảng 30 m và được trồng rộng rãi ở vùng khí hậu nhiệt đới. Nó là một trong khoảng 2800 loài thuộc họ cọ Arecaceae và là loài duy nhất còn tổn tại trong chi Cocos. Nguồn gốc dừa vẫn đang là một vấn đề gây tranh cãi, một số học giả cho rằng nó có nguồn gốc ở khu vực Đông Nam châu Á trong khi những ý kiến khác cho rằng nó có nguồn gốc ở miền Tây Bắc Nam Mỹ. Tại New Zealand các nhà khoa học đã tìm thấy mẫu hóa thạch của loài thực vật là tổ tiên cây dừa đã moc ở khu vực này từ khoảng 15 triệu năm trước.
Hơn 90% vườn dừa trên thế giới được tìm thấy giữa Bắc và Nam vĩ tuyến thứ 20, với độ cao trung bình dưới 500 m so với mực nước biển ( Nguyễn Thị Lệ Thủy, 2009). Bat ké có nguồn sốc từ đâu thì việc đừa có mặt ở nhiều vùng lục địa trên thế giới là do các cuộc “di cư” của các trái dừa trên các đại dương. Do tính chất nhẹ, nỗi trên mặt nước và không thấm nước nên sau khi trôi dạt vào các lục địa gặp điều kiện thuận lợi, những trái dừa này vẫn có khả năng nảy mầm bình thường. Ví dụ như quả dừa được thu thập từ biển phía bắc Na Uy đã được phát hiện là có thể nảy mầm và phát triển trong điều kiện thích hợp ở dat liền.
Ở quan dao Hawaii, dita được coi là loài du nhập của người Polynesia, được đưa đến Hawaii lần đầu tiên từ quê hương Nam Thái Bình Dương của họ bởi những người Polynesia thời ky đầu (Hiệp hội Dừa tỉnh Bến Tre, 2022). Bên cạnh đó, cây dừa được xem là một trong mười cây trồng hữu ích trên thế giới. Năm 2020, tổng diện tích dừa trên thế giới là 11,5 triệu ha với sản lượng bình quân hằng năm đạt 52,31 triệu tan/ha từ năm 2016 - 2020 (FAO, 2020). Trong đó, quốc gia trồng dừa nhiều nhất là Philippine, với tổng diện tích là 3,65 triệu ha, kế đến là Indonesia 2,77 triệu ha va theo sau là Án Độ 2,15 triệu ha, Tanzania 0,60 triệu ha, Sri Lanka 0,50 triệu ha (FAO, 2020).
Do đặc điểm về sinh ly, sinh thái của cây dừa có phé thích nghi rộng: từ ving ngọt cho đến vùng cát ven biến, có thé phát triển ở những vùng đất có độ phì nhiêu kém, nhiễm phén,. mà không cần phải chăm sóc nhiều, cho thu nhập hàng tháng, bat đầu từ năm thứ 5 sau khi trồng và kéo dai thu hoạch hơn 50 năm sau (Nguyễn Thái Xây, 2010).2 Các loài sầu hại chính trên dừa Sự xuất hiện của nhiều loài sâu hại là một trong những nguyên nhân chính làm giảm năng suất dừa ở các quốc gia trồng dừa trên thế giới. Do cây dừa với thuộc tính thân cây cao và phương pháp canh tác đặc thù VAC (vườn-ao-chuồng) ở nước ta đã tạo ra những khó khăn trong việc áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại. Những khó khăn trong việc phát hiện thời điểm dé quản lý dịch hại, môi trường sống an chứa hầu hết các loài sâu hại dừa và sự sẵn có của các loại ký chủ phụ thích hợp trong cả năm tạo ra các mối de dọa sâu hại nghiêm trọng đối với cây đừa (Kumara, 2002).
Hiện nay đã ghi nhận được hơn 900 loài côn trùng gây hại quanh năm trên cây dừa được trồng chuyên canh và cây dừa mọc ngoài tự nhiên trên các bộ phận khác nhau như thân, lá, hoa, qua (Seni, 2019). Các loài thuộc bộ cánh cứng, chủ yếu có ba họ Curculionidae, Chrysomelidea và Scarabeaidae (Coleoptera), chiếm đa số với 323 loài gây hại lá chét, rễ và phần ngọn, tiếp theo là các loài côn trùng thuộc bộ cánh vảy (Lepidoptera) cũng được ghi nhận là những loài sâu hại quan trọng trên cây dừa, chúng chủ yếu tan công trên lá chét va phần ngọn của cây (Seni, 2019).3 Sâu đầu đen Opisina arenosella Sâu đầu đen hại dừa có tên tiếng Anh là: Black Headed Caterpillar, tên khoa học là: Opisina arenosella, thuộc họ bướm đêm (Xylorytidae), bộ cánh vay (Lepidoptera).1 Nguồn gốc và phân bố Theo Howard và ctv, 2001, sâu đầu đen có nguồn sốc từ miền nam An Độ và Sri Lanka là một loài sâu hại nghiêm trong, sau đó sâu O. arenosella đã xuất hiện trên 16 quốc gia tại Châu A bao gồm: Bangladesh, Andhra Pradesh, Delhi, Gujarat, Karnataka, Kerala, Maharashtra, Odisha, Tamil Nadu, West Bengal, Indonesia, Myanmar, Pakistan, Sri Lanka, Thailand (Kumara, 2015). Loài này van dang lay lan va gây hai nặng tại Thai Lan va miền Nam Trung Quốc (Yan va ctv, 2015).
Tại Thái Lan, O. arenosella lần đầu tiên xuất hiện và gây hại từ năm 2008 với 13.519 ha bị nhiễm và làm giảm sản lượng dừa cả nước khoảng 50% (Chomphukhiao và ctv, 2018). Tại Trung Quốc, O. arenosella đã được báo cáo lần đầu tiên vào năm 2013 tại thành phố Wanning, tỉnh Hải Nam (Yan và ctv, 2015) đến năm 2014, O.
arenosella đã lan rộng khắp đảo Hải Nam và vào hai tỉnh lân cận Quảng Đông và Quảng Tây gây thiệt hại khoảng 45% năng suất dita (Jin va ctv, 2018). Sự lây lan nhanh chóng của loài sâu bướm này gây ra lo ngại đáng ké về tác động tiềm năng đối với nền kinh tế và môi trường khi tiềm năng của chúng lan sang các khu vực khác của Trung Quốc hoặc các quôc gia khác. Tại Việt Nam, kế từ thang 7 năm 2020, trên địa bàn tinh Bến Tre đã phát hiện nhiều địa điểm có vườn dừa bị sâu đầu đen gây hại như huyện Binh Đại, Châu Thành, Mỏ Cay Nam, Mỏ Cay Bắc và thành phố Bến Tre. Theo thông tin ghi nhận từ Trung tâm Bảo vệ Thực vật phía Nam, đến tháng 03 năm 2021, sâu đầu đen đã xuất hiện và gây hại tại Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh và có nguy cơ lây lan diện rộng trên khắp vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long trong tương lai gần.
Tại địa ban tinh Bến Tre, ké từ tháng 6 năm 2022, theo kết quả điều tra của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật tỉnh Bến Tre, điện tích sâu đầu đen gây hại dừa trên địa bàn tỉnh là 864,05 ha trong đó: Chợ Lách (105,60 ha), Châu Thành (280,01 ha), Mỏ Cay Bắc (45,10 ha), Mỏ Cay Nam (177,88 ha), Binh Dai (172,08 ha), Thành phố Bến Tre (33 ha), Ba Tri (12,04 ha), Thạnh Phú (27,40 ha) và Giồng Trôm (10,58 ha). Diện tích nhiễm nhẹ: 210,60 ha (ty lệ gây hại 15 - 20%), nhiễm trung bình 221,94 ha (tỷ lệ gây hại 25 - 30%) và nhiễm nặng 122,42 ha (tỷ lệ gây hại 42%). Với mức diễn biến không ngừng lan rộng của dịch hai đã có tác động nặng nề đến năng suất, chất lượng và diện tích trồng dừa trên địa bàn toan tỉnh.2 Cay ký chủ Sâu đầu đen được xem là loài sâu ăn lá gây hại nguy hiểm trên cây dừa và nhiều loải thuộc họ Cau. Trong đó loài dừa Palmyra (Borassus flabellifer) là cây ky chủ ưa thích của sâu đầu đen (Rao và ctv, 1948).
arenosella còn được ghi nhận một loài gây hại chính cho vùng canh tác cây cọ, gây thiệt hại và làm giảm đáng ké năng suất dừa (Mohan và ctv, 2010). Do bản chất đa pha, loài gây hại này cũng được phát hiện gây hại trên các loài cây trồng khác như: chuối (Musa acuminata), cọ (Arecaceae), mit (Artocarpus heterophyllus), điều (Anacardium occidentale) (Shameer và cvt, 2017), cha la (Phoenix dactylifera) va nhiều loại co cảnh (Murthy và ctv, 2003). Sâu đầu đen hai dita trong giai đoạn ấu trùng gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho cây trồng, trong khi thành trùng có tuổi thọ ngắn và vô hại (M. Nasser và ctv, 2001).3 Đặc điểm hình thái, sinh học và tập tính gây hại Trứng Con cái trưởng thành đẻ theo từng nhóm.
Trứng có màu vàng nhạt va mau nâu đỏ khi trứng gần nở (Chomphukhiao và ctv, 2011).2 Trứng sâu đầu đen hại dừa O. arenosella Au tring Hình 1.3 Au trùng sâu dau den hại dừa Opisina arenosella Au trùng mới nở có mau đỏ cam và sau đó chuyên sang mau vàng nhạt và có dau mau nâu sâm. Trên thân có ba đường màu nâu chạy dọc theo cơ thê. Phân ngực có màu nhạt hơn ở đâu và chân.
Âu trùng thường ăn ở bê mặt dưới của lá dừa (Chomphukhiao va ctv, 2011). Giai đoạn ấu trùng của O. arenosella được nuôi bang lá dừa có thé hoàn thành sự phát triển của chúng trong 45,1 ngày ở nhiệt độ 26°C (Lu và ctv, 2016) và 34,1 ngày ở nhiệt độ 28°C (Chomphukhiao và ctv, 2011).4 Nhộng sâu đầu đen hại dừa Opisina arenosella Nhộng có hình bau dục và có mau nâu sam (Chomphukhiao va ctv, 2011). Giai đoạn nhộng của O.
arenosella trung bình 10,3 ngày ở nhiệt độ 26°C (Lu va ctv, 2016) va 11,73 ngày ở nhiệt độ 28°C (Chomphukhiao va ctv, 2011). Thanh tring Hình 1.5 Thanh trùng sâu đầu den hai dừa Opisina arenosella Đầu, râu, cánh và bụng của con thành trùng có màu xám nhạt. Con cái lớn hơn con đực. Con cái giao phối đẻ với số lượng cao nhất lên đến 273,63 trứng (Kumara và ctv, 2015), tiếp theo là 161,80 trứng ở nhiệt độ 26°C (Lu va ctv, 2016) va 83,40 trứng ở nhiệt độ 28°C (Chomphukhiao và ctv, 2012), khi nhiệt độ tăng thì con cái có thé đẻ nhiều trứng hơn (Lu và ctv, 2016).
Nghiên cứu của Shameer và ctv (2017) cho thấy trong điều kiện phòng thí nghiệm, thời gian phát triển của O. arenosella ở giai đoạn ấu trùng và giai đoạn hóa nhộng phụ thuộc vào các loại ký chủ khác nhau, tuy nhiên thời gian sống của thành trùng là tương đương nhau. Với thức ăn là lá dừa, thời gian phát triển của O. arenosella là nhanh nhất, với giai đoạn ấu trùng khoảng 36 ngày và hóa nhộng khoảng 7 ngày.
arenosella thường ăn mặt dưới của lá và được bảo vệ bởi một lớp sợi tơ (Kumara và ctv, 2015). arenosella đẻ trứng thành các nhóm nhỏ ở mặt dưới của lá dừa. Tuổi thọ của thành trùng dao động từ 7 - 9 ngày, trong đó con cái đẻ khoảng 152 trứng (Perera, 1987). Irứng thường được đẻ vùng lân cận, nơi đã có au tring gay hai.
Trimg nở sau 4 - 5 ngày, ấu trùng màu xanh nhạt với mau đỏ soc nâu va đầu đen. Thời gian au trùng kéo dài khoảng 40 ngày, thành trùng xuất hiện sau 12 - 14 ngày. Các au trùng thường gây hại ở mặt dưới của lá dừa, ăn hết lớp biểu bì đưới và trung bì nhưng để lại phan lớp biểu bì trên còn nguyên vẹn. Au trùng tạo nơi trú ẩn từ tơ và chất thai, chúng thường lan trốn khi có tín hiệu bị đe doa.
Giai đoạn nhộng kéo dai la 8 ngày. arenosella dao động từ 45 - 60 ngày (Seni, 2019).