CHƯƠNG 1: TONG QUAN Y VĂN. _ Tình hình bệnh sốt rét trên thế giới và Việt Nam:. Đặc điểm của ký sinh trùng sốt rét và chu trình phát triển:. Miễn dịch trong sốt rẾt:.-- ¿5© SE+SE+E2EEEEEE19E121121212121211 2121111 xe.----©2++2E+EEEEEE2EEE221E221 221 2E1EE1EEecrkrrrked 10 1.
LG HT HH HH kh 12 1. _ Đánh giá tình trạng kháng thuỐc:.-- ¿+ + 2+ ++E£EE£EEEEE+EEEEEEeEkerkrrerxee 23 viii 1. Một số nghiên cứu sốt rét trên thé giới và Việt Nam:.---2- 5 2 s52 24 CHƯƠNG 2: DOI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Địa điểm và thời gian nghiên CỨU:.------ 2 2+S++E£+EE+EE£EEeEEE+ErEkrrkerkrred 27 2.
__ Đối tượng nghiên cứu: .--- 2 + ©E+SE2Et2ESEESEEEEEEEEEEEEEEEErrkrrkerkrred 27 2. Phương pháp nghiÊn CỨU:. Quy trình thực hiện nghién CỨU:.- 5 <6 +21 E 3E £*EE#vEEeeEeeeeeeeekrserrke 41 CHƯƠNG 3: KET QUA NGHIÊN CUU. Dac điểm dich té va dân số nghiên cứu:.
Đặc điểm lâm sàng:.---2¿©52+S++EE‡EEEEEEEE2112112112212171211211 21111 xe 45 3. Đặc điểm cận lâm 00. Kết quả điều trị ở bệnh nhân sốt TÉt:. _ Mối liên quan giữa các yếu dịch té, lâm sàng, cận lâm sàng với các kết cục điều trị của bệnh nhân s6t rét.--¿- - 2 SE k£SE+ÉEE+EEEESEEEEEEEEEEEEEEE11111111 11111111 E1e 0 55 CHƯƠNG 4: BAN LUẬN VA KẾT LUẬN.
Dac điểm dịch té và dân số nghiên cứu:. Đặc điểm lâm sàng.--2-2-©52+222EE‡EEEEEE2121121121121 2121111121111 re. Đặc điểm cận lâm 0. Kết quả điều trị:.-----c-©kcs Et E21 12122121121 111111 111111111111 cxee 75 4.
Mi liên quan giữa các yếu dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng với các kết cục ¡8 0 eecccccccccececsececscscsucecsvsvcecsssvescacsvscucecsvsucacevsvsesavsvsucasavsususavavsusesevavsesaravsveesavavens 71 400i). 90 ix DAT VAN ĐÈ Bệnh sốt rét (SR) là bệnh truyền nhiễm do 5 loài ky sinh tring Plasmodium gây nên gồm P. Bệnh lây truyền chủ yếu là do muỗi Anopheles [4]. Theo tổng kết tình hình SR trên thế giới hàng năm của Tổ chức y tế thế giới (TCYTTG), trong năm 2015, có trung bình 212 triệu ca mắc SR và ước tính có khoảng 429.000 ca tử vong do SR trên toàn cầu, xếp hàng thứ 7 trong 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu tại các nước có thu nhập thấp [40].
Bệnh SR lưu hành địa phương và trong những điều kiện thuận lợi có thể gây thành dịch. Hiện chưa có vắc xin phòng bệnh nhưng có thuốc điều trị đặc hiệu và có thể phòng chống được. Tại Việt Nam, bệnh SR lưu hành chủ yếu ở miền Trung Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ [4],[5]. Mặc dù tỉ lệ mắc SR tại Việt nam giảm rõ rệt từ khoảng 20.000 người mắc SR năm 2012 xuống còn khoảng 4.100 người năm 2016, hàng năm vẫn còn khoảng 1-6 trường hợp tử vong SR (TVSR).
Tuy nhiên, tình hình SR, ký sinh trùng sốt rét (KSTSR), sốt rét ác tính (SRAT), TVSR đều không ôn định và có xu hướng tăng cục bộ ở một số điểm, đặc biệt là tình trạng kháng thuốc, muỗi kháng hóa chất lan rộng trong khu vực. Theo Bộ Y Tế, mặc dù số mắc và TVSR liên tục giảm, nhưng đến nay SR vẫn còn là một trong những bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng ở Việt Nam với hàng chục triệu người sống trong vung SR lưu hành [1],[2]. Bên cạnh đó,trong những năm gần đây, TCYTTG đã bắt đầu khuyến cáo về tình hình SR kháng thuốc tại khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Hiện Việt Nam, Thái Lan, Lào, Myanma đã thất bại với 2 phác đồ điều trị, trong khi đó Campuchia thất bại đến 5 phác đồ điều trị và dé dàng trở thành nguồn lây gen kháng thuốc cho Việt Nam do sự gia tang về hoạt động di lại, buôn ban, du lịch của người dân 2 nước.
Từ đó cần triển khai gấp các biện pháp nhằm ngăn chặn chủng SR P. falciparum kháng thuốc ở Việt Nam [39],[41]. Tại Việt Nam, Plasmodium falciparum (P. falciparum) dần kháng hầu hết các thuốc SR thông dụng với các mức độ khác nhau tùy theo loại thuốc và tùy từng địa bàn.
Chloroquin và Fansidar bị kháng cao ở nhiều nơi, Quinin, Mefloquine và Artemisinin bắt đầu có biểu hiện kháng ở một số điểm. Các nghiên cứu từ năm 2012 — 2014 cho thấy KSTSR kháng thuốc đã được phát hiện với tỷ lệ ký sinh trùng dương tính ngày D3 cao ở Quảng Nam (27,3%), Gia Lai (22,2%), Đắk Nông (26,1%), Bình Phước (31,6%) và Khánh Hòa (14,5%) [4]. Ngoài ra, các nghiên cứu trên thế giới từ 2000 — 2011 cũng cho thấy có gần 100 ca bệnh SRAT do P. vivax và dữ liệu nghiên cứu cũng đã cho thấy P.
vivax kháng cao với thuốc vốn đặc hiệu là chloroquine. Trong khi đó tại Việt Nam, tỉ lệ nhiễm SR do P. vivax tăng dần gan đạt xấp xỉ tỉ lệ nhiễm của P. [7] Với những thay đổi về tình hình bệnh SR như trên chúng tôi đưa ra nghiên cứu khảo sát về đặc điểm dịch té, lâm sảng, cận lâm sảng và đáp ứng điều trị của bệnh nhân (BN) bị bệnh SR nhập Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới (BVBNĐ) từ năm 2015 đến hết năm 2017 với hy vọng sẽ xác định được những đặc điểm mới của bệnh so với trước đây và mức độ kháng thuốc của bệnh đối với phác đồ hiện hành.
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU: Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả điều trị và mối tương quan giữa các yếu tô trên của BN SR tại BVBND trong 3 năm từ 2015 đến hết năm 2017 như thế nào? MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát: Xác định đặc điểm dịch té, lâm sàng, cận lâm sang và kết quả điều trị ở BN SR tại BVBNĐ từ năm 2015 đến hết năm 2017. Xác định mối liên quan giữa các yếu tố dịch tễ, lâm sảng, cận lâm sàng với các kết cục điều trị của BN SR. Mục tiêu cụ thể: 1. Xác định đặc điểm dịch tễ của BN SR.
Xác định đặc điểm lâm sảng của BN SR. Xác định đặc điểm cận lâm sảng của BN SR. Xác định kết quả điều trị của BN SR. Xác định mối liên quan giữa các yếu tố dịch tễ, lâm sảng, cận lâm sàng với các kết cục điều trị của BN SR.
CHUONG 1: TONG QUAN Y VAN 1. Tinh hình bệnh SR trên thế giới và Việt Nam: 1. Tình hình bệnh SR trên thế giới: Theo báo cáo của TCYTTG năm 2015, trên thế giới có trung bình 212 triệu ca mắc SR, giảm 22% so với năm 2000 và giảm 14% so với năm 2010. Đa số các ca trong năm 2015 là tại Châu Phi (90%), tiếp theo là vùng Đông Nam Á (7%) và Trung Đông (2%).
Khoảng 4% của các ca ước tính toàn cầu là do P. vivax, nhung ngoai luc dia chau Phi con số này lên đến 41%. Da số các ca rốt rét do P. vivax xảy ra ở vùng Đông Nam Á (58%), xếp sau là vùng Trung Đông (16%) và Châu Phi (12%).
Khoảng 76% các ca SR trong năm 2015 xuất hiện chỉ trong 13 nước, trong đó bốn nước gồm Ethiopia, An Độ, Indonesia va Pakistan chiếm đến 78% các ca SR do P. Cũng trong năm 2015, ước tính có khoảng 429.000 ca TVSR trên toàn cầu, giảm 50% so với 2000 và giảm 22% so với 2010. Hầu hết các ca trong 2015 xảy ra chủ yếu ở khu vực châu Phi (92%), tiếp sau là khu vực Đông Nam Á (6%) và Trung Đông (2%). 99% các ca TVSR là do P.
falciparum gây ra. Plasmodium vivax ước tính gây 3.100 ca TVSR với đa số (86%) xảy ra ngoài Châu Phi.000 ca TVSR ước tính xảy ra ở trẻ em dưới 5 tuổi, chiếm khoảng 70% tổng số ca mac ở trẻ em. Số ca TVSR ước tính giảm 60% so với năm 2000 và 29% so với 2010. Tuy nhiên SR vẫn còn là nguyên nhân hàng đầu gây TVSR ở trẻ em, ước tính cứ khoảng 2 phút có một đứa trẻ tử vong do SR [40].
Ngoài ra, SR là nguyên nhân đứng thứ 7 trong 10 nguyên nhân hàng đầu gây TVSR ở các nước thu nhập thấp, sau viêm phối, tiêu chảy, đột quy, thiếu máu cơ tim, HIV/AIDS và lao. Countries not endemic for malaria, 2000 Not applicable Hình 1. Vùng dịch té SR trên thé giới trong năm 2000 và 2016 Nguôn: World malaria report 2016 1. Tình hình bệnh SR tại Việt Nam So với năm 2012, năm 2016 số BN mắc SR toàn Việt Nam giảm 67,44% (1642/5043), số KSTSR giảm 67,03 % (1,347/ 4086), trong đó cơ cấu KST P.
vivax cô xu hướng xấp xỉ bằng nhau, SRAT giảm 85% (9/60), TVSR dao động từ 1-6 trường hợp. Tuy nhiên, tình hình SR, KSTSR, SRAT, TVSR đều không én định và có xu hướng tăng cục bộ ở một số điểm, đặc biệt là tình trạng kháng thuốc, muỗi kháng hóa chất lan rộng trong khu vực [1], [2]. Trong 5 năm từ 2012 — 2016, tình hình SR ở khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng có xu hướng giảm và giảm đều ở hau hết các chỉ số BN mắc SR, KSTSR, SRAT và TVSR đều giảm, không có dịch SR xảy ra. Phạm vi lưu hành của SR ngày càng thu hẹp, tập trung chủ yếu của các tỉnh Đông Nam Bộ, khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa.
Theo bộ y tế mặc dù số mắc và TVSR liên tục giảm, nhưng đến nay SR vẫn còn là một trong những bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng ở Việt Nam với hàng chục triệu người sông trong vùng SR lưu hành, mỗi năm có khoảng 48.000 trường hợp mắc SR, 5 trên 17.400 trường hợp nhiễm KSTSR, 170 trường hợp SRAT và khoảng 20 trường hợp người bị tử vong do SR, trên 21 triệu người sống trong vùng SR lưu hành tại 55 tỉnh, thành phố, mắc và tử vong do SR vẫn là mối hiểm họa của nhiều người, nhất là trẻ em [1].000 10 mmm Số ca chẩn đoán xác định ¿= Số ca chết So sánh dữ liệu 2006 đến2016: - Số ca mắc giảm 81,6% - Số ca chết giảm 92,7% Biểu đô 1. Tình hình SR ở Việt Nam (2006-2016). Viện sốt rét ký sinh trùng — côn trùng Tp. Dac điểm của KSTSR và chu trình phát triển: 1.
Đặc điểm của KSTSR: KSTSR là một đơn bào, họ Plasmodidae, lớp Protozoa, loài Plasmodium. Có 5 loại ký sinh trùng Plasmodium gây bệnh SR ở người được biết đến hiện nay: Plasmodium falciparum, Plasmodium vivax, Plasmodium malariae, Plasmodium ovale va P. Chu trình phát triển của KSTSR Chu trình phát triển của Plasmodium gồm 2 giai đoạn: giai đoạn hữu tính trong muỗi và giai đoạn vô tính trong cơ thé người: 1. Giai đoạn vô tính trong cơ thé người: Khi muỗi Anopheles cái đốt người, tiêm thoa trùng (sporozoites) vào da.
Thoa trùng chui qua mạch máu dé lưu thông trong máu đến gan (thường khoảng 1⁄2 giờ). Chúng xâm nhập vào tế bào chủ mô gan và bắt đầu thời kỳ sinh sản vô tính, được gọi là chu trình tiền hồng cau (intrahepatic or preerythrocytic schizogony). Thoa trùng phát triển dần đến thé phân liệt (schizonts), thé phân liệt vỡ ra phóng thích các mảnh trùng (merozoites) vào máu. Một thoa trùng có thể tạo ra từ 10.