Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Tình hình nghiên cứu bệnh tụ huyết trùng trong và ngoài nước 1. Trên thế giới Bệnh tụ huyết trùng được Bollinger phát hiện lần đầu tiên trên bò năm 1878 ở Munich (Đức). Những năm tiếp theo bệnh được phát hiện ở nhiều nước trên thế giới, trên nhiều loài gia súc, gia cầm.
Năm 1885, Kitt đã phân lập được vi khuẩn gây bệnh. Khi nghiên cứu vi khuẩn tụ huyết trùng gây bệnh ở các loài gia súc, gia cầm, Hueppe phát hiện thấy sự giống nhau về tính chất gây bệnh, tương đồng kháng nguyên, nhưng khác nhau về tính gây bệnh cho các loài vật và gọi chung là vi khuẩn gây nhiễm trùng huyết, xuất huyết, đặt tên là Bacillus septicaemia. Để ghi nhớ công lao của Louis Pasteur, người có nhiều đóng góp nghiên cứu phát hiện ra vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng, năm 1887, Trevisan đã đề nghị đặt tên cho vi khuẩn gây bệnh này là Pasteurella (De Alwis, 1992) [62]. Do Pasteurella gây bệnh cho nhiều loài gia súc nên người ta đặt tên vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng cho động vật theo tên vật chủ mà chúng thích nghi và gây bệnh: Pasteurella suiseptica gây bệnh ở lợn.
Pasteurella boviseptica gây bệnh ở bò. Pasteurella oviseptica gây bệnh ở dê, cừu. Pasteurella aviseptica gây bệnh ở gà. Sau một vài lần thay đổi, đến năm 1939, Rosenbush và Merchant [85] đã đề nghị đặt tên cho vi khuẩn này là Pasteurella multocida, để chỉ khả năng gây bệnh cho nhiều loài vật của chúng, tên này đã được công nhận chính thức trên thế giới và sử dụng cho đến ngày nay.
Từ năm 1887 đến nay, bệnh đã được phát hiện ở nhiều địa phương trên thế giới, bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho nhiều nước, nhất là các nước nhiệt đới nóng ẩm thuộc Châu Á. Bệnh xảy ra tại các nước Đông Dương, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia. Ở Nhật Bản bệnh được phát hiện vào năm 1923, song không 5 gây thành dịch và không thể hiện dịch tễ. Bệnh cũng được phát hiện ở bò rừng Vườn thú Quốc gia Mỹ vào các năm 1912, 1922, 1967 và chỉ thấy một báo cáo cho biết bệnh có ở bò sữa vào năm 1969 (Carter, 1982) [55].
Năm 1984, tổ chức dịch tễ thế giới OIE chính thức công bố bệnh tụ huyết trùng trâu, bò trên thế giới (FAO, 1991) [64]. Bệnh cũng đã xảy ra ở Châu Phi và gây thiệt hại nghiêm trọng cho đàn gia súc (De Alwis, 1992) [62]. Đến nay, sau hơn 100 năm kể từ khi phát hiện bệnh lần đầu, Pasteurella multocida vẫn là nguyên nhân gây bệnh tụ huyết trùng cho nhiều loài gia súc, gia cầm. Tuy có tính thích nghi gây bệnh trên những loài vật khác nhau, nhưng Pasteurella multocida đều có những đặc tính cơ bản giống nhau.
Ở Việt Nam Theo Phan Đình Đỗ và Trịnh Văn Thịnh (1958) [7] bệnh tụ huyết trùng ở Việt Nam được phát hiện đầu tiên vào cuối thế kỷ 19. Năm 1868 Cudamie cho biết về bệnh ở trâu thuộc tỉnh Bà Rịa và Long Thành, sau đó Gemain (1869) phát hiện bệnh ở Gò Công, Yersin phát hiện bệnh ở các tỉnh miền Trung vào các năm 1889-1895. Năm 1901, Shein đã xác định ổ dịch ở trâu, bò xảy ra tại Tây Ninh bằng phương pháp phân lập và tiêm truyền qua động vật thí nghiệm là do vi khuẩn Pasteurella multocida. Những năm sau này Nguyễn Vĩnh Phước (1978) [28].
Đoàn Thị Băng Tâm (1987) [33] cho biết: bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở Việt Nam thường xảy ra ở Nam Bộ, đặc biệt là miền Tây Nam Bộ vào những năm 1910, 1919, 1920, 1933, 1935 dịch xảy ra mạnh gây thiệt hại và lây lan nhiều hơn ở những vùng đất trũng, thấp, khí hậu ẩm ướt. Từ năm 1995 trở lại đây, đã có nhiều nghiên cứu về bệnh tụ huyết trùng như Dương Thế Long (1995) [22] nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và vi khuẩn học của bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại tỉnh Sơn La để xác định biện pháp phòng trị thích hợp; Nguyễn Ngã (1996) [26] nghiên cứu tính kháng nguyên và độc lực của vi khuẩn tụ huyết trùng ở khu vực miền Trung. Trong những năm 1970 của thế kỷ XX có 80% số ổ dịch tụ huyết trùng và 84% số thiệt hại gia súc do bệnh tụ huyết trùng thuộc về các tỉnh phía Nam. Đến những năm 1990 phân bố địa lý của bệnh nghiêng 6 về các tỉnh phía Bắc, số địa phương có dịch tụ huyết trùng cũng tăng lên nhiều, hàng năm có 20-25 tỉnh thông báo có bệnh lưu hành.
Bùi Văn Dũng (2000) [5] nghiên cứu tình hình bệnh tụ huyết trùng và vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập từ dịch ngoáy mũi trâu, bò khỏe ở tỉnh Lai Châu. Phan Thanh Phượng (2000) [32] nghiên cứu về bệnh tụ huyết trùng ở gia súc, gia cầm và biện pháp phòng chống. Cao Văn Hồng (2002) [14] nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng trâu, bò, lợn tại Đắk Lắk. Hoàng Đăng Huyến (2004) [16] nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở Bắc Giang.
Nguyễn Văn Minh (2005) [25] nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng và xác định tỷ lệ mang trùng Pasteurella multocida ở đàn trâu, bò tỉnh Hà Tây. Trần Xuân Hạnh, Tô Thị Phấn và cs (2007) [13] nghiên cứu an toàn và hiệu lực vắc xin tụ huyết trùng trâu, bò nhũ hóa chủng P52. Đỗ Ngọc Thúy và cs (2007) [37] đã ứng dụng kỹ thuật PCR để xác định Type các chủng vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập từ vật nuôi. Đỗ Quốc Tuấn (2008) [41] nghiên cứu bệnh tụ huyết trùng lợn ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam.
Nguyễn Thị Kim Dung (2010) [4] xác định vi khuẩn Pasteurella multocida gây bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò tại một số huyện có dịch trên địa bàn tỉnh Cao Bằng và bước đầu thử nghiệm Auto-Vaccine. Nguyễn Thị Hà (2010) [10] nghiên cứu sự lưu hành của vi khuẩn Pasteurella multocida trong bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò tại một số huyện có dịch trên địa bàn tỉnh Hà Giang và biện pháp phòng trị. Trương Quang Hải (2012) [12] xác định một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Pasteurella multocida, Streptococcus suis gây viêm phổi ở lợn tại Bắc Giang và biện pháp phòng trị. Đặng Ngọc Lương (2012) [23] Xác định một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Pasteurella multocida gây bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại Cao Bằng và lựa chọn vắc xin phòng bệnh.
Nguyễn Quang Tính và cs (2012) [39] xác định một số đặc tính sinh học và thử kháng sinh đồ của các chủng vi khuẩn Pasteurella multocida và Streptococcus suis phân lập được từ bệnh phẩm lợn mắc bệnh viêm phổi tại Bắc Giang. Đỗ Quốc Tuấn (2012) [42] nghiên cứu đặc tính sinh vật hóa học của vi khuẩn Pasteurella multocida gây bệnh tụ huyết trùng dê ở tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị. 7 Nguyễn Quang Tuyên và cs (2012) [44] kết quả phân lập và xác định một số đặc tính sinh học của các chủng Pasteurella multocida ở lợn dương tính với PRRSV tại Bắc Giang. Lê Văn Dương (2013) [6] nghiên cứu một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida, Streptococcus suis gây viêm phổi trong hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại Bắc Giang, biện pháp phòng trị.
Phạm Thị Phương Lan (2013) [18] nghiên cứu xác định một số yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Pasteurella multocida trong bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại Hà Giang, Cao Bằng và lựa chọn vắc xin phòng bệnh. Phạm Thị Phương Lan và Đặng Xuân Bình (2014) [19] diễn biến của bệnh THT ở trâu, bò theo mùa trong năm và ảnh hưởng của yếu tố khí hậu đến tỷ lệ mắc bệnh tại tỉnh Cao Bằng. Cù Hữu Phú và cs (2014) [27] lựa chọn chủng vi khuẩn để chế tạo thử nghiệm vắc xin phòng bệnh do vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida và Streptococcus suis gây ra ở lợn. Đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng 1.
Nguồn bệnh và phương thức lây lan Nguồn lây bệnh tụ huyết trùng chủ yếu là những trâu, bò, lợn và gia cầm bị bệnh và mang trùng. Ngoài ra, các nguồn bệnh khác có thể là dê, cừu hay ngựa bị bệnh. Trong cơ thể gia súc khỏe mạnh, ở một điều kiện nhất định, vi khuẩn Pasteurella multocida thường tồn tại ở đường hô hấp trên của vật chủ, đây không phải là quan hệ cộng sinh. Khi sức đề kháng của cơ thể giảm, vi khuẩn tăng về số lượng, độc lực và gây bệnh.
Cho đến nay chưa rõ là vi khuẩn tồn tại bằng cách truyền lần lượt trong một số dãy cá thể của một quần thể hay nó còn tồn tại lâu dài ở một số con. Có nhiều cách lây bệnh khác nhau: Nhiễm qua đường hô hấp, đường tiêu hóa, qua vết xước trên da, bệnh có thể lây từ con ốm sang con khỏe qua tiếp xúc. Bệnh lây lan do việc giết mổ gia súc ốm, chó, mèo và một số côn trùng hút máu như ruồi, mòng… cũng có thể là vật môi giới truyền mầm bệnh đi xa (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [28]. Hiramune và De Alwis (1982) [69] cho rằng: có một tỷ lệ thấp trâu, bò mang khuẩn 8 ở hầu, họng, mũi và tuyến hạnh nhân.
Ở những con này có hiệu giá kháng thể cao hơn với con vật không mang trùng và vi khuẩn thông qua dịch tiết niêm mạc mũi bài xuất ra ngoài gây nhiễm cho gia súc khác. Theo De Alwis (1982b) [59] kiểm tra 72 con trâu thấy 5 con có kháng thể (trong số 5 con này có 3 con mang vi khuẩn Pasteurella multocida chủng 6:B), còn 67 con không có kháng thể thì không mang vi khuẩn. Nguyễn Vĩnh Phước và cs (1986a) [29], Gupta (1962) [65], thấy rằng con vật mang trùng là nguồn bệnh tiềm tàng có liên quan đến tần số xuất hiện dịch tụ huyết trùng trong vùng. Theo Saharee và cs, (1991) [86], gia súc mang trùng từ những vùng có dịch xâm nhập vào vùng chưa có dịch cũng là nguyên nhân quan trọng làm cho bệnh phát ra.
Chung và cs (1992) [57] cho rằng Pasteurella multocida có sẵn trong cơ thể, khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ gây chứng viêm phổi. Một số tác giả còn cho rằng nguồn tàng trữ mầm bệnh là động vật hoang dã (chồn, cáo, thỏ rừng, loài gặm nhấm và các loài côn trùng như bọ chó, ruồi trâu v v. Tại các ổ dịch cũ, phần lớn những gia súc sống sót sau dịch thường trở thành những con vật mang trùng và thường xuyên bài thải mầm bệnh ra môi trường. Bệnh chỉ phát ra ở những gia súc mới sinh ra sau dịch hay gia súc mới nhập chưa có miễn dịch (De Alwis, 1999) [63].