ĐẶT VẤN ĐỀ Khu Bảo tồn thiên nhiên ĐaKrông tỉnh Quảng Trị có diện tích 37. Là một trong những khu rừng đặc dụng ở vùng Trung Trường Sơn, tiêu biểu cho hệ sinh thái của rừng nhiệt đới thường xanh đồi núi thấp, có độ che phủ lớn, còn thảm thực vật nguyên sinh có giá trị sinh học cao. Theo kết quả điều tra đến nay Khu BTTN ĐaKrông có 1.452 loài thực vật bậc cao có mạch, 28 loài ghi trong Sách Đỏ IUCN, Sách Đỏ Việt Nam và Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Sự phong phú về chủng loại đã nâng tầm quan trọng của Khu Bảo tồn thiên nhiên ĐaKrông ngang tầm với hệ thống các Khu Bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam và khu vực, góp phần bảo vệ giá trị của các nguồn gen thực vật của tỉnh Quảng Trị nói chung và Khu BTTN ĐaKrông nói riêng.
Tuy nhiên, trải qua thời gian dài trước và sau khi thành lập Khu BTTN ĐaKrông, công tác điều tra nghiên cứu khoa học vẫn chưa được sự quan tâm thích đáng, chưa có chương trình nghiên cứu chi tiết cụ thể cho từng đối tượng, và xây dựng cơ sở dữ liệu về động, thực vật nói chung tại đơn vị. Các chương trình nghiên cứu khoa học tại Khu BTTN ĐaKrông từ khi thành lập tới nay mới chỉ thực hiện ở mức độ chuyên đề nhỏ, chưa có sự đầu tư chuyên sâu, cụ thể. Lim xanh có tên khoa học là Erythrophleum fordii oliv thuộc họ Đậu (Fabaceae). Lim xanh là cây gỗ quý, được xếp vào nhóm gỗ tứ thiết của Việt Nam “Đinh, Lim, Sến, Táu”, nổi tiếng từ lâu đời, được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như: xây dựng, cầu đường, đóng đồ gia dụng, đồ cao cấp… và hiện đang được thị trường ưa chuộng.
Do được ưa chuộng nhiều, cộng với việc khai thác không hợp lý dẫn đến Lim xanh ngoài tự nhiên đã dần bị cạn kiệt, cần được chú ý nghiên cứu gây trồng và bảo tồn. Theo tác giả Nguyễn Hoàng Nghĩa thì Lim xanh phân bố tự nhiên ở hầu hết các tỉnh miền Bắc Việt Nam, song dải phân bố chính kéo dài từ Quảng Ninh, Nam Lạng c 2 Sơn, Bắc Ninh, Bắc Giang qua Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Tây, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh tới Quảng Bình. Còn theo tác giả Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên thì phạm vi phân bố của cây Lim xanh từ biên giới Việt Trung đến Quảng Nam, Đà Nẵng. Khu bảo tồn thiên nhiên ĐaKrông được thành lập theo Quyết định số 768/QĐ-UB của UBND tỉnh Quảng Trị ngày 9 tháng 4 năm 2001 và nằm trong hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam đến năm 2010.
Từ khi được thành lập đến nay, Khu Bảo tồn thiên nhiên ĐaKrông đã tổ chức một số đợt điều tra Đa dạng sinh học thuộc nhiều chương trình, dự án khác nhau và bước đầu đã đạt được những kết quả rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu, đánh giá chi tiết phân bố, số lượng và chất lượng tầng cây cao và cây tái sinh của loài Lim xanh. Mặt khác, trước tình trạng tác động mạnh mẽ khai thác của con người vì giá trị kinh tế của cây Lim xanh, dẫn đến có nguy cơ bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên. Do vậy, cần thiết có những nghiên cứu chi tiết, tỷ mỷ về loài cây Lim xanh.
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Một số đặc điểm cấu trúc và tái sinh cây Lim xanh (Erythrophleum fordii Oliv.) tại Khu Bảo tồn thiên nhiên ĐaKrông, tỉnh Quảng Trị”. c 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm cây Lim xanh 1. Đặc điểm hình thái Cây Lim xanh có tên khoa học là Erythrophloeum fordii oliv thuộc phân họ Vang (Caesalpiniaceae), họ Đậu (Fabaceae), bộ Đậu (Fabales) và còn được gọi với tên khác là "Lim hoặc Thiết lim".
Là cây thân gỗ lớn thường xanh, có chiều cao đạt đến 37-45 mét, đường kính thân đạt 200-250 cm, gốc có bạnh vè, thân cây tròn với vỏ có màu nâu đậm, có vết nứt vuông, có nhiều khí khổng dễ thấy và có thể bị bong vảy lớn. Có tán lá dày và xanh quanh năm. Lá của cây Lim xanh là lá kép lông chim hai lần và hình trứng. Mặt trên của lá là màu xanh đậm, trong khi mặt dưới là màu xanh lá cây nhạt với tĩnh mạch dễ thấy.
Hoa của cây Lim xanh là cụm hoa mọc thành chùm ở đỉnh sinh trưởng, dài 20-30cm, hoa nhỏ màu trắng nở vào tháng 3-4 và mùa quả chính vào khoảng tháng 12 và tháng 1 hàng năm. Quả cây Lim xanh có hình dạng quả thuỗn dài 20cm, rộng 3-4cm, trong đó có chứa 6- 12 hạt. Hạt dẹt màu nâu đen, xếp lớp lên nhau, có lớp vỏ chất sừng, cứng và đen, bảo vệ chắc nên hạt tồn tại lâu trong đất, dễ bảo quản. Đặc điểm sinh thái Lim xanh là cây ưa sáng, thường chiếm tầng trên của rừng (tầng ưu thế sinh thái), lúc còn nhỏ chịu bóng.
Lim xanh có thể phát triển trên nhiều loại đất khác nhàu của đá mẹ như sa thạch, đá phiến sét, đá phiến mica và thậm chí đất có thành phần cơ giới khác nhau từ nhẹ đến nặng. Nó có thể chịu được độ ẩm cao, trung bình đến nơi có tính axit cao và các điều kiện trong đó có một lớp đất ẩm và sâu. Lim xanh thường phát triển cùng với nhiều loài cây gỗ lá rộng khác nhau trong một môi trường rừng nhiều tầng. Giá trị sử dụng Lim xanh là cây gỗ quý, nó có tĩnh mạch tốt, cứng, mạnh, bền, chịu được thời tiết và ít bị cong hoặc nứt.
Gỗ có độ bền kết cấu cao và được xếp vào nhóm gỗ tứ thiết của Việt Nam “Đinh, Lim, Sến, Táu”, nổi tiếng từ lâu đời, được sử c 4 dụng vào nhiều mục đích khác nhau như: xây dựng, cầu đường, đóng đồ gia dụng, đồ cao cấp… và hiện đang được thị trường ưa chuộng. Do được ưa chuộng nhiều, cộng với việc khai thác không hợp lý dẫn đến Lim xanh ngoài tự nhiên đã dần bị cạn kiệt, cần được chú ý nghiên cứu gây trồng và bảo tồn. Hiện nay, Lim xanh được xếp vào nhóm cây nguy cấp và nguy cơ tuyệt chủng, theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2009 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thì Lim xanh được xếp vào nhóm II, nhóm thực vật rừng, động vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại và theo sách Đỏ thế giới IUCN thì Lim xanh được xếp vào nhóm nguy cơ tuyệt chủng (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1998) [19]. Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu cây Lim xanh 1.
Trên thế giới - Trên thế giới, Lim xanh được phân bố chủ yếu ở châu Á, trong đó tập trung ở miền nam Trung Quốc (bao gồm cả phía đông Đài Loan), phía bắc của Campuchia, Lào và Việt Nam. Nó sống ở độ cao từ 300-900m. Một thông tin khác liên quan, vào năm 1993 một sự kiện quan trọng của Viện Nghiên cứu Quốc tế Nấm Lim Xanh ở New York với mục đích thúc đẩy nghiên cứu khoa học và y học quốc tế về Nấm Lim Xanh, thiết lập tiêu chuẩn chất lượng cho các sản phẩm liên quan đến nấm lim xanh và cách sử dụng nấm Lim xanh hiệu quả để điều trị bệnh. Đã nghiên cứu sinh thái dọc sông Savannah ở Nam Carolina bởi Chen và cộng sự, (1993) xác định nấm Lim xanh là loài bào tử đầu tiên mọc trên cây Lim xanh.
- Lim xanh là một loài cây bản địa của khu vực Đông Nam Á, là loài cây cho giá trị sử dụng gỗ cao và đang bị khai thác một cách quá mức và ở mức độ đe dọa nguy cơ cao đối với loài cây này. Hiện nay đang có nhiều dự án chú trọng tới việc gieo ươm và trồng cây Lim xanh tại khu vực phân bố để bảo tồn loài. Việc nghiên cứu về loài cây Lim xanh ở thế giới được biết rất hạn chế, chưa có công trình nghiên cứu về sinh thái của loài này, hiện nay chỉ có thông tin một số nước nghiên cứu Lim xanh thông qua nghiên cứu đặc tính dược c 5 học của Nấm Lim mọc trên cây Lim như Đại học Califonia, Viện Nghiên cứu quốc tế ở New York - Hoa Kỳ hoặc ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Lim xanh là loài thực vật xếp vào nhóm nguy cơ đe dọa cao.
Ở Việt Nam Theo tác giả Nguyễn Hoàng Nghĩa [23] thì Lim xanh phân bố tự nhiên ở hầu hết các tỉnh miền Bắc Việt Nam, song dải phân bố chính kéo dài từ Quảng Ninh, Nam Lạng Sơn, Bắc Ninh, Bắc Giang qua Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Tây (cũ), Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh tới Quảng Bình. Còn theo tác giả Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên thì phạm vi phân bố của cây Lim xanh từ biên giới Việt Trung đến Quảng Nam. Hiện nay, cây Lim xanh cũng được tìm thấy ở Quảng Ngãi, Bình Định và Hàm Tân (tỉnh Bình Thuận). Lim xanh phát triển từ 10047'N, 230N và 1020-1080 E, nhưng tập trung phân bố ở 170-230N.
Việc nghiên cứu tổng quan về cây Lim xanh trên thế giới hiện chưa thấy có tài liệu công bố. Còn ở Việt Nam có các nghiên cứu sau: - Lim xanh (Erythrophloeum fordii oliv): Đề tài Đại học Lâm nghiệp, năm 1985 và Đề tài Viện KHLN năm 1994, 1995 của Phó Giáo sư Tiến sỹ Phùng Ngọc Lan làm chủ nhiệm. Các đề tài này chỉ mới nghiên cứu được một số vấn đề hay một số nội dung hoặc là về đặc điểm sinh học, lâm học hay hình thái. - Đề tài Nghiên cứu Khoa học - Bảo tồn nguồn gen cây rừng I do Tiến sỹ Nguyễn Hoàng Nghĩa - Viện KHLN làm chủ nhiệm, thực hiện từ 1996-2000 [20].
Nội dung chủ yếu điều tra khảo sát một số loài cây bản địa trọng đó có Lim xanh; Thu hái hạt; Tư liệu hóa về danh mục cây, xuất bản báo cáo; bảo tồn các loài cây trên bằng gieo và gây trồng; Sử dụng phương pháp điều tra truyền thống bao gồm điều tra sinh thái di truyền để xác định các vùng chính của khu phân bố, vùng xuất xứ, các nguồn gen hiện còn và tình trạng bị đe dọa; áp dụng các biện pháp và hướng dẫn kỹ thuật cho thu thập hạt giống, gieo ươm. Kết quả của đề tài về khảo sát loài, thu thập bản tồn nguồn gen các loài trong đó Lim xanh được đánh giá đa dạng di truyền bằng phân tử (RAPD và cpADN) cho 9 xuất xứ. - Nguyễn Minh Đức (1998), bước đầu nghiên cứu đặc điểm một số nhân tố c 6 sinh thái dưới tán rừng và ảnh hưởng của nó đến tái sinh loài Lim xanh tại Vườn quốc gia Bến En, Thanh Hóa [4].