Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tài nguyên rừng tự nhiên của Việt Nam từng trải qua giai đoạn suy giảm nghiêm trọng: từ 14 triệu ha vào năm 1945 (tương ứng độ che phủ 43%) xuống còn 9,175 triệu ha vào năm 1990 (độ che phủ 27,2%) do tác động của chiến tranh, khai thác bừa bãi và tập quán du canh nương rẫy. Sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 286/TTg năm 1996 về việc cấm khai thác gỗ rừng tự nhiên, công tác bảo vệ và phục hồi rừng có nhiều chuyển biến khả quan. Đến năm 2003, tổng diện tích rừng toàn quốc phục hồi lên mức 12 triệu ha (độ che phủ 36,1%), bao gồm 10 triệu ha rừng tự nhiên và 2 triệu ha rừng trồng.

Tại tỉnh Thái Nguyên, xã Yên Lãng (huyện Đại Từ) là địa phương có nguồn tài nguyên rừng tương đối phong phú nhưng phần lớn diện tích rừng tự nhiên là rừng thứ sinh nghèo kiệt đang trong quá trình phục hồi sau các đợt khai thác mạnh trước đây. Nhằm xác định cơ sở khoa học cho công tác quản lý và xây dựng các giải pháp kỹ thuật lâm sinh thích hợp, đề tài "Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi trạng thái IIA tại xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên" đã được thực hiện.

Nghiên cứu tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể sau:

  1. Mục tiêu nghiên cứu:

    • Điều tra và phân tích được một số đặc điểm cấu trúc tổ thành, mật độ của rừng phục hồi trạng thái IIA tại xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
    • Đề xuất được một số giải pháp nhằm phục hồi rừng ở khu vực xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu:

    • Nội dung 1: Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ, bao gồm cấu trúc tổ thành sinh thái, mật độ tầng cây gỗ và chỉ số đa dạng sinh học Shannon - Weaver.
    • Nội dung 2: Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc ngang thông qua quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính, phân bố loài cây theo cấp đường kính và tần số xuất hiện của các loài trong quần hợp cây gỗ.
    • Nội dung 3: Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc đứng thông qua quy luật phân bố số cây theo cấp chiều cao và phân bố loài cây theo cấp chiều cao.
    • Nội dung 4: Đề xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh và giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng rừng phục hồi.
  3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Trạng thái rừng phục hồi IIA theo hệ thống phân loại rừng của Loeschau (1966).
    • Phạm vi không gian: Các diện tích rừng phục hồi trạng thái IIA phân bố trên các dạng địa hình đỉnh, sườn và chân núi tại địa bàn xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
    • Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai khảo sát thực địa và phân tích dữ liệu từ tháng 02/2015 đến tháng 05/2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng sinh thái học rừng nhiệt đới và các quy chuẩn điều tra lâm học truyền thống:

  • Khung lý thuyết và tiêu chuẩn phân loại:

    • Khái niệm hệ sinh thái rừng kế thừa học thuyết của Tansley (1935) và Odum; quan điểm về phục hồi rừng và diễn thế thứ sinh của Trần Đình Lý (1995), quy định rừng phục hồi đối với rừng gỗ phải đạt độ tàn che của tầng cây cao từ 3m trở lên tối thiểu là 0,3.
    • Phân loại trạng thái rừng áp dụng hệ thống phân loại của Loeschau (1966), kết hợp quan điểm sinh thái phát sinh quần xã thực vật rừng nhiệt đới Việt Nam của Thái Văn Trừng (1978) và các mô hình diễn thế của Trần Ngũ Phương (1970, 2000), Lamprecht (1969), Baur (1976), Vũ Tiến Hinh (1991, 1992), Đặng Kim Vui (2002).
    • Tầng cây gỗ nghiên cứu được giới hạn gồm toàn bộ các cá thể cây gỗ có đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$) đạt từ 6 cm trở lên.
  • Phương pháp điều tra ngoại nghiệp:

    • Khảo sát thực địa và lập 12 ô tiêu chuẩn (OTC) ngẫu nhiên điển hình đại diện cho 3 vị trí địa hình: 4 OTC ở đỉnh núi, 4 OTC ở sườn núi và 4 OTC ở chân núi.
    • Diện tích mỗi OTC là 2.500 $m^2$ ($50m \times 50m$). Dụng cụ ngoại nghiệp gồm máy định vị GIS, địa bàn cầm tay, máy đo độ dốc Clinometer, thước dây, thước kẹp kính và sơn đánh dấu.
    • Đối với các cạnh ô nằm trên sườn dốc, khoảng cách được hiệu chỉnh theo công thức cạnh dốc: $$L_d = \frac{L}{\cos(\alpha)}$$ (trong đó: $L_d$ là chiều dài cạnh trên dốc; $L$ là chiều dài nằm ngang 50m; $\alpha$ là góc dốc đo bằng Clinometer).
    • Xử lý cây biên: chỉ đo đếm những cây nằm trên cạnh trước và cạnh bên phải theo hướng tiến của OTC; loại bỏ các cây nằm trên cạnh sau và cạnh bên trái. Trường hợp cây phân cành hoặc chia thân dưới vị trí 1,3m được tính là 2 cây riêng biệt; chia thân trên 1,3m tính là 1 cây.
    • Thu thập chỉ tiêu lâm học: Đo đường kính thân tại vị trí 1,3m ($D_{1.3}$) theo hai chiều vuông góc Đông - Tây và Bắc - Nam; đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$), chiều cao dưới cành, đường kính tán ($D_t$); đánh giá phẩm chất cây theo 3 cấp (cấp 1 - Tốt, cấp 2 - Trung bình, cấp 3 - Xấu); giám định tên phổ thông và tên khoa học đảm bảo tỷ lệ nhận diện đạt $\ge 90%$.
  • Phương pháp xử lý số liệu nội nghiệp:

    • Mật độ lâm phần ($N$): Tính quy đổi theo công thức $N = \frac{n}{S} \times 10.000$ (cây/ha), với $n$ là tổng số cây đo đếm và $S$ là diện tích OTC ($m^2$).
    • Chỉ số giá trị quan trọng ($IVI%$): Đánh giá cấu trúc tổ thành sinh thái dựa trên mức độ quan trọng: $$IVI% = \frac{A_i% + D_i%}{2}$$ (trong đó: $A_i%$ là độ phong phú tương đối tính theo số cá thể; $D_i%$ là độ ưu thế tương đối tính theo tổng tiết diện ngang thân $G = \sum \frac{\pi \cdot D_{1.3}^2}{4}$). Các loài có $IVI \ge 5%$ được xác định là tham gia công thức tổ thành.
    • Chỉ số đa dạng loài Shannon - Weaver ($H'$): Đánh giá tổng hợp độ phong phú loài và tính đồng đều giữa các cá thể: $$H' = -\sum_{i=1}^{s} \left(\frac{n_i}{N} \cdot \ln \frac{n_i}{N}\right)$$
    • Phân bố thực nghiệm: Phân chia và tổng hợp số liệu theo 4 cấp đường kính (6–10 cm; 10–15 cm; 15–20 cm; >20 cm) và 4 cấp chiều cao (0–5 m; 5–10 m; 10–15 m; >15 m) bằng phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1. Mở đầu

Phần này làm rõ tính cấp thiết của việc bảo vệ và phục hồi tài nguyên rừng tại Việt Nam sau thời gian dài bị suy giảm bởi chiến tranh và canh tác nương rẫy. Tác giả dẫn chứng số liệu diễn biến diện tích rừng qua các mốc 1945, 1990, 2003 và hiệu lực của Chỉ thị 286/TTg. Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra tính cấp thiết của việc đánh giá hiện trạng rừng phục hồi sau khai thác kiệt tại xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, làm luận cứ xây dựng các giải pháp kỹ thuật lâm sinh; đồng thời xác định cụ thể mục đích, mục tiêu, ý nghĩa học tập, nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất của đề tài.

Phần 2. Tổng quan nghiên cứu

Tác giả hệ thống hóa các khái niệm chuyên ngành: hệ sinh thái rừng, loài ưu thế, cấu trúc tuổi, cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng thứ, cấu trúc mật độ và tiêu chuẩn định lượng rừng phục hồi IIA (độ tàn che $\ge 0,3$ theo Trần Đình Lý). Nội dung tổng quan phân tích sâu các công trình nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên trên thế giới (Catinot, Lamprecht, Richards, Odum, Baur) và tại Việt Nam (Thái Văn Trừng, Trần Ngũ Phương, Vũ Tiến Hinh, Lê Sáu, Đặng Kim Vui, Phạm Ngọc Thường).

Đồng thời, chương này cung cấp chi tiết điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Yên Lãng:

  • Tổng diện tích tự nhiên: 3.881,91 ha (đất nông nghiệp 3.142,77 ha chiếm 80,96%; đất phi nông nghiệp 239,06 ha; đất chưa sử dụng 180,40 ha; đất ở nông thôn 319,68 ha).
  • Hiện trạng đất lâm nghiệp: Tổng diện tích 2.647,45 ha (chiếm 68,20% diện tích tự nhiên), trong đó rừng đặc dụng do Vườn quốc gia Tam Đảo quản lý chiếm 643,88 ha, rừng phòng hộ 503,72 ha (bảng kiểm kê 2012 ghi 332,07 ha) và rừng sản xuất 1.499,85 ha.
  • Đặc điểm tự nhiên khác: Địa hình có 4 hệ thống suối chính (suối Cầu Trà, suối Yên Từ, suối Cầu Tây, suối Đèo Xá) và 4 hồ lớn (Cầu Trà, Đồng Trãng, Khuôn Nanh, Đồng Tiến); nhiệt độ trung bình năm $23^\circ C$, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10.
  • Dân sinh - kinh tế: Dân số 12.343 nhân khẩu (3.082 hộ phân bố tại 30 xóm), nguồn lao động 7.172 người; tài nguyên khoáng sản lớn nhất là mỏ than Núi Hồng với diện tích khai thác 100,05 ha.

Phần 3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết đối tượng khảo sát là trạng thái rừng phục hồi IIA tại xã Yên Lãng, được thực hiện trong 4 tháng (tháng 2 đến tháng 5/2015). Xác định 4 nội dung chuyên môn về cấu trúc tầng cây gỗ, cấu trúc ngang, cấu trúc đứng và đề xuất giải pháp. Quy trình điều tra ngoại nghiệp được chuẩn hóa bằng hệ thống 12 OTC diện tích 2.500 $m^2$ ($50m \times 50m$), áp dụng công thức điều chỉnh chiều dài cạnh trên sườn dốc theo Clinometer, quy định nghiêm ngặt về kỹ thuật đo đường kính $D_{1.3}$, đo chiều cao $H_{vn}$, phân cấp phẩm chất thân cây (tốt, trung bình, xấu) và đo tán. Phương pháp nội nghiệp quy định cụ thể các công thức toán học tính mật độ ($N$), chỉ số giá trị quan trọng ($IVI%$) và chỉ số đa dạng loài Shannon - Weaver ($H'$).

Phần 4. Kết quả nghiên cứu

Chương này công bố toàn bộ dữ liệu định lượng của 12 OTC khảo sát:

  • Cấu trúc tổ thành và mật độ: Mật độ dao động từ 308 đến 336 cây/ha, trung bình đạt 323 cây/ha (tương đương 77 - 84 cây/OTC). Phân bố mật độ theo địa hình cho thấy chân núi đạt bình quân 325 cây/ha, sườn núi đạt 326 cây/ha và đỉnh núi đạt 317 cây/ha. Số loài trên mỗi OTC biến động từ 16 đến 24 loài (bình quân 21 loài/OTC). Số loài tham gia vào công thức tổ thành ($IVI \ge 5%$) dao động từ 6 đến 10 loài. Tầng cây gỗ không xuất hiện nhóm loài chiếm trên 50% số cá thể (không có loài ưu thế tuyệt đối), phản ánh thành phần gồm các loài tiên phong ưa sáng, mọc nhanh như Thành ngạnh, Lim xẹt, Mỡ, Chẩn, Kháo đá, Sung rừng, Bứa, Kẹn... Chỉ số đa dạng sinh học Shannon dao động trong khoảng 2,611 đến 2,961 (trung bình toàn lâm phần đạt 2,831).
  • Cấu trúc ngang: Phân bố số cây theo cấp đường kính tập trung chủ yếu ở cấp nhỏ 6-10 cm (bình quân 153 cây/ha, chiếm 47,4%) và cấp 10-15 cm (108 cây/ha, chiếm 33,4%). Số cây giảm mạnh ở cấp 15-20 cm (55 cây/ha) và cấp >20 cm chỉ đạt 7 cây/ha (chiếm 2,2%). Sự phân bố số loài cũng giảm dần theo chiều tăng cấp kính: cấp 6-10 cm có bình quân 18 loài, cấp 10-15 cm có 12 loài, cấp 15-20 cm có 8 loài, và cấp >20 cm chỉ còn bình quân 2 loài (chủ yếu là Mán đỉa, Mỡ, Kẹn).
  • Cấu trúc đứng: Cây gỗ tập trung chủ yếu ở cấp chiều cao 10-15 m với 160 cây/ha (chiếm 49,6%) và cấp 5-10 m với 140 cây/ha (chiếm 43,5%). Cấp chiều cao >15 m chỉ chiếm 6,5% (21 cây/ha) và cấp 0-5 m chỉ chiếm 0,4% (1 cây/ha). Số loài tập trung dày đặc nhất ở cấp 10-15 m (bình quân 17 loài) và cấp 5-10 m (14 loài).
  • Đề xuất giải pháp: Đưa ra các biện pháp kỹ thuật lâm sinh (khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên, tỉa thưa cây xấu, trồng làm giàu rừng bằng cây bản địa mục đích) và giải pháp quản lý lâm nghiệp tại địa phương.

Phần 5. Kết luận và kiến nghị

Tổng kết toàn bộ các chỉ tiêu cấu trúc của trạng thái rừng phục hồi IIA tại địa bàn; khẳng định trạng thái rừng non đang sinh trưởng phát triển tích cực nhưng chưa bền vững. Tác giả kiến nghị chính quyền địa phương, Hạt kiểm lâm Đại Từ và Trạm kiểm lâm Phú Xuyên tăng cường công tác bảo vệ, hỗ trợ kinh phí khoanh nuôi và giao khoán đất rừng lâu dài cho nhân dân.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp hệ thống số liệu định lượng chi tiết về cấu trúc lâm phần trạng thái rừng phục hồi IIA tại xã Yên Lãng thông qua 12 ô tiêu chuẩn thực nghiệm:

Chỉ tiêu nghiên cứu Giá trị biến động giữa các OTC Giá trị trung bình lâm phần Đặc điểm nổi bật theo dữ liệu tác giả
Mật độ tầng cây gỗ ($D_{1.3} \ge 6$ cm) 308 - 336 cây/ha 323 cây/ha (81 cây/OTC) Chân núi (325 cây/ha) và sườn núi (326 cây/ha) cao hơn đỉnh núi (317 cây/ha).
Số loài thực vật tầng cây gỗ 16 - 24 loài/OTC 21 loài/OTC Cao nhất ở OTC 2 và OTC 9 (24 loài), thấp nhất ở OTC 7 (16 loài).
Số loài trong công thức tổ thành 6 - 10 loài/OTC 8 loài/OTC Không có loài ưu thế tuyệt đối ($>50%$ cá thể); nhóm loài tiên phong ưa sáng chiếm đa số.
Chỉ số đa dạng sinh học Shannon ($H'$) 2,611 - 2,961 2,831 Đa dạng sinh học tương đối cao; thấp nhất OTC 7 (2,611), cao nhất OTC 2 (2,961).
Số cây theo cấp đường kính 6-10 cm 136 - 164 cây/ha 153 cây/ha (47,4%) Chiếm tỷ lệ lớn nhất; số loài bình quân cấp kính này đạt 18 loài.
Số cây theo cấp đường kính 10-15 cm 96 - 128 cây/ha 108 cây/ha (33,4%) Số loài bình quân đạt 12 loài.
Số cây theo cấp đường kính 15-20 cm 48 - 78 cây/ha 55 cây/ha (17,0%) Số loài bình quân đạt 8 loài.
Số cây theo cấp đường kính >20 cm 0 - 12 cây/ha 7 cây/ha (2,2%) Rất hiếm cây gỗ lớn; chỉ có 2 loài xuất hiện (Mán đỉa, Mỡ, Kẹn).
Số cây theo cấp chiều cao 0-5 m 0 - 8 cây/ha 1 cây/ha (0,4%) Chủ yếu là cây bị gãy cành, cụt ngọn nhưng còn sống; bình quân 1 loài.
Số cây theo cấp chiều cao 5-10 m 128 - 152 cây/ha 140 cây/ha (43,5%) Tầng dưới tán cây gỗ; bình quân 14 loài.
Số cây theo cấp chiều cao 10-15 m 140 - 176 cây/ha 160 cây/ha (49,6%) Tầng tán chính của lâm phần; tập trung số loài lớn nhất (17 loài).
Số cây theo cấp chiều cao >15 m 8 - 32 cây/ha 21 cây/ha (6,5%) Tầng vượt tán thưa thớt; bình quân 8 loài.

Các giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:

  • Biện pháp kỹ thuật lâm sinh: Áp dụng giải pháp khoanh nuôi phục hồi tự nhiên có xúc tiến tái sinh. Thực hiện tỉa thưa vệ sinh rừng, chặt bỏ những cây phẩm chất xấu (cấp 3: cong queo, sâu bệnh, cụt ngọn) để giảm áp lực cạnh tranh không gian dinh dưỡng và ánh sáng cho các cây phẩm chất tốt (cấp 1) và trung bình (cấp 2). Trồng làm giàu rừng dưới tán và ở những khoảng trống bằng các loài cây bản địa có giá trị kinh tế và phòng hộ cao (như Chò chỉ, Mỡ, Lim xẹt, Bứa).
  • Biện pháp quản lý: Đẩy mạnh giao đất giao rừng gắn liền với quyền lợi kinh tế của người dân địa phương; tăng cường năng lực giám sát và phối hợp giữa chính quyền xã Yên Lãng với Trạm kiểm lâm Phú Xuyên; kiểm soát chặt chẽ việc lấn chiếm đất rừng và ảnh hưởng từ các dự án khai thác than Núi Hồng.

Đóng góp của đề tài: Tác giả đã cung cấp hệ thống dẫn liệu thực địa khách quan, định lượng hóa các quy luật kết cấu lâm phần của trạng thái rừng phục hồi IIA tại huyện Đại Từ. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ quá trình diễn thế tự nhiên sau nương rẫy và khai thác kiệt tại vùng Đông Bắc, cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ công tác quy hoạch, bảo tồn và làm giàu rừng tại cơ sở.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Nghiên cứu chỉ được tiến hành trong phạm vi một xã (Yên Lãng) trong thời gian ngắn (tháng 2 đến tháng 5/2015), do đó phản ánh cấu trúc rừng ở trạng thái tĩnh tại một thời điểm, chưa theo dõi được động thái biến đổi qua các năm.
    • Đối tượng khảo sát mới tập trung vào tầng cây gỗ có đường kính $D_{1.3} \ge 6$ cm; văn bản chưa mở rộng điều tra định lượng lớp cây tái sinh triển vọng dưới tán ($D_{1.3} < 6$ cm), thảm tươi, dây leo và các đặc tính hóa - lý của đất rừng tại từng vị trí địa hình.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Thiết lập các ô tiêu chuẩn định vị cố định để theo dõi định kỳ diễn thế sinh thái, tốc độ tăng trưởng đường kính và chiều cao của lâm phần phục hồi IIA theo thời gian.
    • Bổ sung nội dung nghiên cứu cấu trúc tầng cây tái sinh mục đích và mối quan hệ sinh thái giữa tầng cây cao với tầng cây con dưới tán để dự báo chính xác xu thế phục hồi của rừng.
    • Nghiên cứu trữ lượng sinh khối và khả năng hấp thụ carbon ($CO_2$) của trạng thái rừng IIA nhằm phục vụ các chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo:
    • Sinh viên, học viên chuyên ngành: Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh thái học môi trường tại các trường đại học khối nông lâm nghiệp.
    • Cán bộ nghiên cứu và quản lý lâm nghiệp: Cán bộ Hạt kiểm lâm huyện Đại Từ, Trạm kiểm lâm Phú Xuyên, cán bộ địa chính - nông lâm nghiệp cấp xã đang trực tiếp theo dõi, quản lý rừng phục hồi sau khai thác.
  • Nội dung giá trị nhất:
    • Quy trình thiết lập ô tiêu chuẩn lớn (2.500 $m^2$) trên địa hình đồi núi dốc, bao gồm kỹ thuật hiệu chỉnh chiều dài cạnh thực địa bằng máy đo độ dốc Clinometer và quy tắc xử lý cây ranh giới.
    • Phương pháp luận và cách thức ứng dụng bảng tính Excel để tính toán các thông số phức tạp: tiết diện ngang thân ($G$), độ ưu thế ($D%$), độ phong phú ($A%$), chỉ số giá trị quan trọng ($IVI%$) và chỉ số Shannon ($H'$).
    • Nguồn dữ liệu kiểm chứng thực tế về danh mục loài và sự phân bố số cây theo cấp đường kính, cấp chiều cao tại khu vực miền núi Đông Bắc.

Câu hỏi thường gặp

1. Trạng thái rừng phục hồi IIA tại xã Yên Lãng có xuất hiện loài cây ưu thế sinh thái tuyệt đối hay không?

Không. Theo kết quả điều tra trên 12 ô tiêu chuẩn, không có bất kỳ loài hoặc nhóm loài cây nào chiếm trên 50% tổng số cá thể của tầng cây cao. Công thức tổ thành ở các OTC có từ 6 đến 10 loài tham gia (loài có $IVI \ge 5%$), chủ yếu là các loài cây tiên phong ưa sáng mọc nhanh như Thành ngạnh, Lim xẹt, Mỡ, Chẩn, Kháo đá, Sung rừng, Bứa, Kẹn, Roi rừng...

2. Mật độ và chỉ số đa dạng sinh học của tầng cây gỗ biến động như thế nào theo các dạng địa hình?

Mật độ trung bình toàn lâm phần là 323 cây/ha (dao động từ 308 đến 336 cây/ha). Theo địa hình, mật độ tại sườn núi đạt cao nhất với 326 cây/ha, chân núi đạt 325 cây/ha và đỉnh núi thấp nhất với 317 cây/ha. Chỉ số đa dạng sinh học Shannon ($H'$) trung bình đạt 2,831; trong đó OTC có chỉ số cao nhất là OTC 2 ở sườn núi ($H' = 2,961$) và thấp nhất là OTC 7 ở đỉnh núi ($H' = 2,611$).

3. Quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính trong lâm phần diễn ra như thế nào?

Số cây phân bố tỉ lệ nghịch với cấp đường kính: số lượng cây tập trung nhiều nhất ở cấp đường kính nhỏ 6–10 cm (bình quân 153 cây/ha) và cấp 10–15 cm (108 cây/ha). Cấp kính 15–20 cm giảm xuống còn 55 cây/ha và cấp kính >20 cm chỉ còn bình quân 7 cây/ha (có OTC không ghi nhận cây nào ở cấp kính >20 cm). Số loài cũng giảm dần khi cấp đường kính tăng lên (từ 18 loài ở cấp 6–10 cm xuống còn 2 loài ở cấp >20 cm).

4. Tầng tán cây rừng phục hồi IIA tập trung chủ yếu ở cấp chiều cao nào?

Cây gỗ tập trung chủ yếu ở cấp chiều cao 10–15 m với 160 cây/ha (chiếm 49,6% tổng số cây điều tra) và cấp 5–10 m với 140 cây/ha (chiếm 43,5%). Cấp chiều cao >15 m chỉ chiếm 6,5% (21 cây/ha) và cấp 0–5 m chỉ chiếm 0,4% (1 cây/ha). Điều này cho thấy lâm phần đang ở giai đoạn phát triển mạnh về chiều cao vươn tán để cạnh tranh ánh sáng, phản ánh tính chất điển hình của rừng non phục hồi sau nương rẫy và khai thác.

5. Phương pháp xử lý các cây nằm trên đường ranh giới của ô tiêu chuẩn được thực hiện ra sao?

Để tránh trùng lặp hoặc bỏ sót cây gỗ khi đo đếm trong OTC diện tích 2.500 $m^2$, tác giả áp dụng quy tắc: chỉ tiến hành đo đếm và ghi chép vào biểu mẫu những cây nằm trên cạnh trước và cạnh bên phải theo hướng tiến của OTC; toàn bộ các cây nằm trên cạnh sau và cạnh bên trái của ranh giới OTC đều bị loại bỏ, không đo đếm.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Phạm Thanh Tùng đã cung cấp bức tranh định lượng rõ nét về cấu trúc tầng cây gỗ của rừng phục hồi trạng thái IIA tại xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả khảo sát thực tế trên 12 ô tiêu chuẩn (diện tích 2.500 $m^2$/OTC) khẳng định đây là hệ sinh thái rừng non thứ sinh với mật độ bình quân 323 cây/ha, chỉ số đa dạng loài Shannon đạt 2,831 và có sự ưu thế của các loài cây tiên phong ưa sáng mọc nhanh tập trung chủ yếu ở cấp kính 6–15 cm và cấp chiều cao 5–15 m. Công trình là tài liệu khoa học hữu ích cho công tác đào tạo lâm học và cung cấp cơ sở thực tiễn quan trọng cho chính quyền địa phương triển khai các biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, tỉa thưa nuôi dưỡng và làm giàu rừng bền vững.