Luận án tiến sĩ nghiên cứu tính chất hấp thu của đá ong và khả năng ứng dụng trong phân tích xác định các kim loại nặng

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tính chất hấp thu của đá ong và ứng dụng trong phân tích xác định kim loại nặng, góp phần bảo vệ môi trường.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Hóa Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2010

148
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHẤT HẤP PHỤ

1.2. Giới thiệu một số vật liệu hấp phụ có nguồn gốc tự nhiên

1.3. Giới thiệu về vật liệu đá ong

1.4. Giới thiệu một số kim loại nặng

1.5. Giới thiệu chung

1.6. Độc tính sinh học của đồng, chì, cadimi, coban và niken

1.7. Một số phương pháp xác định lượng vết ion kim loại nặng

1.7.1. Các phương pháp quang phổ

1.7.2. Các phương pháp sắc kí

1.8. Một số phương pháp tách và làm giàu lượng vết ion kim loại nặng

1.8.1. Phương pháp cộng kết

1.8.2. Phương pháp chiết lỏng - lỏng

1.8.3. Phương pháp chiết pha rắn

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp nghiên cứu thành phần hoá học

2.3.2. Các phương pháp nghiên cứu cấu trúc

2.3.3. Phương pháp nghiên cứu quá trình hấp thu

2.3.4. Các phương pháp nghiên cứu khả năng hấp thu

2.3.5. Hoá chất, thiết bị và dụng cụ thí nghiệm

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Khảo sát đá ong tự nhiên

3.2. Chuẩn bị đá ong

3.3. Phân tích thành phần hoá học của đá ong

3.4. Các tính chất hoá lý và khả năng hấp thu của đá ong

3.5. Biến tính đá ong tự nhiên thành vật liệu hấp thu

3.5.1. Biến tính đá ong bằng cách sử dụng chất hoạt động bề mặt

3.5.2. Biến tính đá ong bằng cách sử dụng đồng thời các dung dịch muối: sắt (III) nitrat, natri silicat và natri photphat

3.5.3. Biến tính đá ong bằng cách sử dụng đồng thời các dung dịch muối: sắt (III) nitrat, natri silicat, natri photphat và đất hiếm xeri

3.6. Nghiên cứu thành phần và cấu trúc của đá ong tự nhiên và đá ong biến tính

3.6.1. Nghiên cứu thành phần của đá ong tự nhiên và đá ong biến tính

3.6.2. Nghiên cứu cấu trúc của đá ong tự nhiên và đá ong biến tính

3.7. Nghiên cứu khả năng hấp thu của đá ong tự nhiên và đá ong biến tính

3.7.1. Nghiên cứu khả năng hấp thu hơi nước

3.7.2. Nghiên cứu khả năng hấp thu xanh – metylen

3.7.3. Nghiên cứu khả năng hấp thu các ion kim loại nặng của vật liệu bằng phương pháp tĩnh

3.7.4. Nghiên cứu khả năng hấp thu các ion kim loại nặng của vật liệu M6 theo phương pháp động

PHẦN III: KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu đá ong trong phân tích kim loại nặng

Nghiên cứu đá ong trong phân tích kim loại nặng đang trở thành một lĩnh vực quan trọng trong khoa học môi trường. Đá ong, với tính chất hấp phụ cao, có khả năng loại bỏ các ion kim loại nặng như Cu, Pb, Cd, Co, và Ni. Việc sử dụng đá ong không chỉ giúp cải thiện chất lượng môi trường mà còn tiết kiệm chi phí cho các phương pháp phân tích hiện đại.

1.1. Đá ong và tính chất hấp phụ của nó

Đá ong, hay còn gọi là laterite, là một loại khoáng vật tự nhiên có cấu trúc xốp và bề mặt lớn. Tính chất hấp phụ của đá ong phụ thuộc vào cấu trúc hóa học và vật lý của nó, cho phép hấp thụ hiệu quả các ion kim loại nặng từ môi trường.

1.2. Tầm quan trọng của việc phân tích kim loại nặng

Phân tích kim loại nặng là cần thiết để đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường. Các kim loại nặng có thể gây ra nhiều tác hại cho sức khỏe con người và hệ sinh thái. Việc phát hiện và xử lý kịp thời là rất quan trọng.

II. Vấn đề ô nhiễm kim loại nặng trong môi trường hiện nay

Ô nhiễm kim loại nặng đang gia tăng do hoạt động công nghiệp và nông nghiệp. Các kim loại như Cu, Pb, Cd, và Hg xâm nhập vào nguồn nước và đất, gây ra nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Việc tìm kiếm các phương pháp hiệu quả để phân tích và xử lý ô nhiễm là rất cần thiết.

2.1. Nguyên nhân gây ô nhiễm kim loại nặng

Nguyên nhân chính gây ô nhiễm kim loại nặng bao gồm hoạt động khai thác khoáng sản, sản xuất công nghiệp, và sử dụng phân bón hóa học. Những hoạt động này thải ra các chất độc hại vào môi trường.

2.2. Tác động của kim loại nặng đến sức khỏe con người

Kim loại nặng có thể gây ra nhiều bệnh tật, từ các vấn đề về thần kinh đến các bệnh ung thư. Việc tiếp xúc lâu dài với các kim loại này có thể dẫn đến các triệu chứng nghiêm trọng và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.

III. Phương pháp nghiên cứu đá ong trong phân tích kim loại nặng

Nghiên cứu đá ong trong phân tích kim loại nặng bao gồm nhiều phương pháp khác nhau, từ việc khảo sát tính chất vật lý đến các phương pháp phân tích hóa học. Các phương pháp này giúp xác định khả năng hấp phụ của đá ong đối với các ion kim loại nặng.

3.1. Phương pháp khảo sát tính chất vật lý của đá ong

Khảo sát tính chất vật lý của đá ong bao gồm việc đo diện tích bề mặt, độ xốp và cấu trúc mao quản. Những thông số này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hấp phụ của đá ong đối với các ion kim loại nặng.

3.2. Phương pháp phân tích hóa học để xác định kim loại nặng

Các phương pháp phân tích hóa học như quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) và sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) được sử dụng để xác định nồng độ của các ion kim loại nặng trong mẫu nước và đất.

IV. Kết quả nghiên cứu khả năng hấp phụ của đá ong

Kết quả nghiên cứu cho thấy đá ong có khả năng hấp phụ cao đối với nhiều ion kim loại nặng. Các thí nghiệm đã chỉ ra rằng việc biến tính đá ong có thể nâng cao khả năng hấp phụ của nó, từ đó cải thiện hiệu quả trong việc xử lý ô nhiễm.

4.1. Khả năng hấp phụ của đá ong tự nhiên

Đá ong tự nhiên đã cho thấy khả năng hấp phụ đáng kể đối với các ion kim loại nặng như Cu, Pb, và Cd. Các thí nghiệm cho thấy rằng đá ong có thể hấp phụ lên đến 400 mg ion kim loại nặng trên mỗi gram vật liệu.

4.2. Tác động của biến tính đá ong đến khả năng hấp phụ

Việc biến tính đá ong bằng các tác nhân hóa học như axit nitric đã làm tăng đáng kể khả năng hấp phụ của nó. Kết quả cho thấy đá ong biến tính có thể hấp phụ nhiều hơn 50% so với đá ong tự nhiên.

V. Ứng dụng thực tiễn của đá ong trong xử lý ô nhiễm

Đá ong không chỉ được sử dụng trong phân tích kim loại nặng mà còn có thể ứng dụng trong xử lý ô nhiễm môi trường. Việc sử dụng đá ong như một vật liệu hấp phụ giúp giảm thiểu ô nhiễm và cải thiện chất lượng nước.

5.1. Ứng dụng trong xử lý nước thải

Đá ong có thể được sử dụng để xử lý nước thải chứa kim loại nặng. Việc sử dụng đá ong giúp loại bỏ các ion kim loại nặng một cách hiệu quả và tiết kiệm chi phí.

5.2. Ứng dụng trong phân tích môi trường

Đá ong cũng có thể được sử dụng trong các phương pháp phân tích môi trường để xác định nồng độ kim loại nặng trong nước và đất. Điều này giúp đánh giá chất lượng môi trường một cách chính xác.

VI. Kết luận và triển vọng nghiên cứu đá ong trong tương lai

Nghiên cứu đá ong trong phân tích kim loại nặng mở ra nhiều triển vọng cho việc phát triển các vật liệu hấp phụ mới. Việc tiếp tục nghiên cứu và cải tiến các phương pháp sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong việc xử lý ô nhiễm môi trường.

6.1. Kết luận về khả năng hấp phụ của đá ong

Kết quả nghiên cứu cho thấy đá ong là một vật liệu hấp phụ tiềm năng cho việc xử lý ô nhiễm kim loại nặng. Khả năng hấp phụ cao và chi phí thấp làm cho đá ong trở thành lựa chọn hấp dẫn.

6.2. Triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu trong tương lai có thể tập trung vào việc phát triển các phương pháp biến tính đá ong để nâng cao khả năng hấp phụ. Điều này sẽ giúp mở rộng ứng dụng của đá ong trong xử lý ô nhiễm và phân tích môi trường.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ không ngừng của sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao. T heo đó, môi trường đã và đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, trong đó có sự ô nhiễm các kim loại nặng. Các kim loại nặng (Cu, Pb, Cd, Co, Hg…) khi xâm nhập vào cơ thể đều gây độc hại cho sức khoẻ con người [4, 15, 34, 50, 62, 78]. Bởi vậy, việc phân tích hàm lượng của chúng trong các đối tượng môi trường, để từ đó đánh giá chất lượng môi trường là việc làm hết sức cần thiết.

Hàm lượng các kim loại nặng có trong nước thường rất nhỏ, khó có thể xác định trực tiếp chúng ngay cả bằng các thiết bị phân tích hiện đại, nên chi phí phân tích rất tốn kém. Vì lẽ đó, cần nghiên cứu xây dựng quy trình phân tích các kim loại nặng bằng phương pháp làm giàu sử dụng nguồn vật liệu mới đạt hiệu quả cao, đơn giản, dễ thực hiện và đặc biệt phải kinh tế [22]. Bởi vậy, các vật liệu hấp phụ có nguồn gốc tự nhiên với giá thành rẻ đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học [37, 38, 39, 46, 54, 64, 68, 91]. Đá tổ ong (thường gọi là đá ong, tên tiếng Anh là laterite) là nguồn khoáng liệu rất phổ biến ở Việt Nam và có tính hấp phụ vì: độ xốp tương đối cao, bề mặt riêng lớn, nhưng việc nghiên cứu, ứng dụng và chuyển hoá đá ong thành vật liệu hấp phụ hầu như chưa được nghiên cứu nhiều.

Chính vì vậy, việc chuyển hoá đá ong thành chất hấp phụ có ý nghĩa đặc biệt cả về khoa học và kinh tế, vừa tận dụng được nguồn nguyên liệu tự nhiên sẵn có, vừa tạo ra được vật liệu có ứng dụng trong phân tích và trong xử lí môi trường. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Xuất phát từ những ý nghĩa quan trọng đó, chúng tôi đã chọn đề tài luận án là: “Nghiên cứu tính chất hấp thu của đá ong và khả năng ứng dụng trong phân tích xác định các kim loại nặng”. Mục tiêu của đề tài là: xác định khả năng và các điều kiện tối ưu để chuyển hoá đá ong thành chất hấp thu, có thể sử dụng để làm sạch môi trường và ứng dụng trong phân tích để xác định các kim loại nặng kết hợp với phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN II: NỘI DUNG LUẬN ÁN Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHẤT HẤP PHỤ 1. Chất hấp phụ. Cơ sở và ứng dụng [19, 77] Chất hấp phụ (adsorbent) là những chất có bề mặt tiếp xúc lớn, có khả năng hút các chất khí hay chất tan trong pha lỏng lên bề mặt. Khả năng hấp phụ của mỗi chất tuỳ thuộc vào bản chất, điện tích bề mặt riêng của chất hấp phụ, nhiệt độ, pH và bản chất của chất tan.

Quá trình tích lũy vật chất lên bề mặt chất hấp phụ gọi là sự hấp phụ. Chất được tích lũy lên bề mặt chất hấp phụ gọi là chất bị hấp phụ. Ngược với quá trình hấp phụ là quá trình giải hấp. Đó là quá trình giải phóng chất bị hấp phụ khỏi lớp bề mặt chất hấp phụ.

Tuỳ theo bản chất của lực tương tác giữa chất hấp phụ và chất bị hấp phụ mà có sự hấp phụ vật lý và sự hấp phụ hoá học. + Hấp phụ vật lý được gây ra bởi lực vandecvan giữa các phân tử chất hấp phụ và các phân tử chất bị hấp phụ. Liên kết trong hấp phụ vật lý thường rất yếu và dễ bị phá vỡ. + Hấp phụ hoá học được tạo nên do ái lực (liên kết) hoá học giữa chất hấp phụ với chất bị hấp phụ.

Liên kết trong hấp phụ hoá học bền, khó bị phá vỡ hơn hấp phụ vật lý. Hấp phụ hoá học được coi là trung gian giữa hấp phụ vật lý và phản ứng hoá học. Để phân biệt hấp phụ vật lý và hấp phụ hoá học, người ta đưa ra một số tiêu chuẩn sau: + Nhiệt hấp phụ: Đối với hấp phụ vật lý, lượng nhiệt toả ra là 2-6 kcal/mol còn đối với hấp phụ hoá học, lượng nhiệt thường lớn hơn 22 kcal/mol nên hấp phụ vật lý thường xảy ra ở nhiệt độ thấp còn hấp phụ 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoá học có thể xảy ra ở nhiệt độ cao hơn. + Tốc độ hấp phụ: Hấp phụ vật lý không đòi hỏi sự hoạt hoá phân tử do đó xảy ra nhanh, ngược lại hấp phụ hoá học xảy ra chậm hơn.

+ Tính đặc thù: Hấp phụ vật lý ít phụ thuộc vào bản chất hoá học còn hấp phụ hoá học đòi hỏi phải có ái lực hoá học, do đó hấp phụ hoá học mang tính đặc thù rõ rệt. Quá trình hấp phụ các chất tan trong dung dịch lên bề mặt chất hấp phụ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sau: + Ảnh hưởng của dung môi: Hấp phụ trong dung dịch là hấp phụ cạnh tranh, nghĩa là chất tan hấp phụ càng mạnh thì dung môi hấp phụ càng yếu và ngược lại. Vì vậy, đối với sự hấp phụ chất tan từ dung dịch thì dung môi nước sẽ tốt hơn so với dung môi hữu cơ. + Ảnh hưởng của chất hấp phụ và chất bị hấp phụ: Thông thường các chất phân cực dễ hấp phụ trên bề mặt phân cực, còn chất không phân cực lại dễ hấp phụ trên bề mặt không phân cực.

Khi giảm kích thước của mao quản trong chất hấp phụ thì sự hấp phụ từ dung dịch thường tăng lên nhưng chỉ trong chừng mực kích thước mao quản không cản trở sự đi vào của phân tử chất bị hấp phụ. Nếu kích thước mao quản của chất hấp phụ bé hơn kích thước phân tử của chất bị hấp phụ thì sự hấp phụ bị cản trở (có thể không xảy ra sự hấp phụ). Dung lượng hấp phụ cũng phụ thuộc vào diện tích bề mặt của vật liệu hấp phụ. Diện tích bề mặt của vật liệu hấp phụ càng lớn thì phần tiếp xúc giữa chất tan và chất hấp phụ càng lớn, chất tan lưu lại trên bề mặt chất hấp phụ càng nhiều.

Như vậy độ xốp và diện tích bề mặt chất hấp phụ là các yếu tố vật lý quan trọng của quá trình hấp phụ. + Ảnh hưởng của nhiệt độ: Khi nhiệt độ tăng, sự hấp phụ trong dung dịch thường giảm, nhưng ở mức độ thấp hơn so với hấp phụ khí. Tuy nhiên, đối với cấu tử hoà tan hạn chế mà khi tăng nhiệt độ, độ tan tăng lên thì khả năng hấp phụ cũng có thể tăng lên, vì nồng độ của nó 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong dung dịch tăng lên. Với mục đích hấp phụ thì việc lựa chọn chất hấp phụ phải dựa trên đường đẳng nhiệt hấp phụ.

Việc tính toán đường đẳng nhiệt hấp phụ dựa trên các phản ứng giữa chất hấp phụ và chất bị hấp phụ; dựa vào cấu trúc hay kích thước của chất hấp phụ. Để mô tả sự ảnh hưởng cơ bản giữa chất hấp phụ và chất bị hấp phụ người ta đưa ra các yếu tố sau. Đây cũng chính là các yếu tố để mô tả chất hấp phụ. Thứ nhất là năng lượng phản ứng thế.

Thứ hai là nhiệt hấp phụ. Thứ ba là sự ảnh hưởng của các thông số của chất bị hấp phụ (độ phân cực, mô men lưỡng cực và mô men tứ cực). Thứ tư là dựa trên các yếu tố: độ phân cực, điện tích, lực vandecvan, kích thước lỗ xốp và hình dạng của chất hấp phụ. Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ứng dụng của các chất hấp phụ.

Các chất hấp phụ có tính thương mại như than hoạt tính (activated carbon), zeolites, silica gel hay nhôm oxit hoạt tính (activated alumina) được ứng dụng rộng rãi trong tách các kim loại, các chất hữu cơ ở dạng khí và lỏng (bảng 1. Ứng dụng của các chất hấp phụ ----------------------------------------------------------------------------------------- Chất cần tách Chất hấp phụ ----------------------------------------------------------------------------------------- Normal paraffins/isoparaffins Zeolite N2/O2 Zeolite O2/N2 Carbon molecular sieve CO,CH4, CO2, N2, Ar, NH3/H2 Activated carbon followed by zeolite H2O/ethanol Zeolite ----------------------------------------------------------------------------------------- 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. (Tiếp) ----------------------------------------------------------------------------------------- Gas Purification H2O/olefin-natural gas, air… Silica, alumina, zeolite CO2/C2H4, natural gas. Zeolite, carbon molecular sieve Hydrocarbons, halogenated organics, Activated carbon, silicalite solvents/vent streams Sulfur compounds/natural gas, Zeolite, activated alumina hydrogen… SO2/vent streams Zeolite, activated carbon Odors/air Silicalite Liquid Bulk Separations Normal paraffins/isoparaffin, Zeolite aromatics p-xylene/o-xylene, m-xylene Zeolite Fructose/glucose Zeolite Liquid Purifications H2/organics, oxygenated organics… Silica, alumina, zeolite Organics, halogenated organics, Activated carbon, silicalite oxygenated organics./H2O-water purification Inorganics (As, Cd, Cr, Cu, Se, Pb, Activated carbon F, Cl, radionuclides…)/H2O-water purification Odor and taste bodies/ H2O Activated carbon Sulfur compounds/organics Zeolite, alumina Drug detoxification in the body Activated carbon ----------------------------------------------------------------------------------------- 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Giới thiệu một số vật liệu hấp phụ có nguồn gốc tự nhiên Cho đến nay đã có nhiều nhà khoa học công bố các công trình nghiên cứu của mình về các vật liệu hấp phụ có nguồn gốc tự nhiên hay các vật liệu có nguồn gốc từ sản phẩm thải của các ngành kinh tế. Những vật liệu này có thể là các sản phẩm thải của ngành nông nghiệp như lõi ngô, vỏ trấu, vỏ và xơ dừa, lõi cây ôliu, khuynh diệp, cây đậu, cây côca, cây hồ đào, vỏ cây cọ… Các sản phẩm thải của ngành công nghiệp như than tro bay hay các khoáng liệu thuần tuý tự nhiên như đất sét, zeolit [70, 88, 90, 92]., các quặng phốt phát, phốt phát tổng hợp [38, 64]… hay các sản phẩm phụ của quá trình chế biến hải sản như vỏ tôm, vỏ cua. Nhìn chung, các vật liệu trên ít khi được sử dụng trực tiếp làm vật liệu hấp phụ mà thường phải qua một quá trình biến đổi hoá lý nào đó, nhằm tạo bề mặt có khả năng hấp phụ tốt. Các tác nhân dùng để biến tính các vật liệu đó thường là các axit như HNO3, H2SO4 [20], các chất oxi hoá như H2O2, H2S2O8.

hoặc các axit hữu cơ hay NaOH [26, 66]. Chẳng hạn, khi biến tính vỏ trấu bằng các tác nhân hoá học, tác giả Nguyễn Văn Nội và cộng sự [32] đã thu được một vật liệu có khả năng hấp phụ khá tốt các ion kim loại Cu2+, Pb2+ và Ni2+. Tác giả [26] đã sử dụng NaOH để chuyển hoá than tro bay của nhà máy nhiệt điện Phả Lại thành chất hấp phụ các ion kim loại nặng. Sau khi sử dụng axit nitric làm tác nhân oxi hoá than sọ dừa Việt Nam, tác giả Nguyễn Thy Phương đã nghiên cứu khả năng hấp phụ các ion kim loại Ni2+, Cu2+ , Zn2+, Cr3+ trên loại vật liệu này [20].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ