mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. Các nhà sinh vật học Nga tập trung nghiên cứu vào việc xác định diện tích biểu hiện tối thiểu để có thể kiểm kê đầy đủ nhất số loài của từng hệ thực vật cụ thể. Năm 1990, WWF đã xuất bản cuốn sách nói về tầm quan trọng của đa dạng sinh vật (The importance of biological diversity). Năm 1991, Wri, Wcu, WB, WWF xuất bản cuốn “Bảo tồn đa dạng sinh vật thế giới” (Conserving the World’ biological diversity).
Năm 1992 – 1995, WCMC công bố một cuốn sách tổng hợp các tư liệu về đa dạng sinh vật của các nhóm sinh vật khác nhau ở các vùng khác nhau trên toàn thế giới, đó là cuốn “Đánh giá đa dạng sinh vật toàn cầu” (Global biodiversity assessment). Tất cả các cuốn sách đó nhằm hướng dẫn và đề ra các phương pháp để bảo tồn đa dạng sinh học, làm nền tảng cho công tác bảo tồn và phát triển trong tương lai. Bên cạnh đó, hàng ngàn tác phẩm, những công trình khoa học khác nhau ra đời và hàng ngàn cuộc hội thảo được tổ chức nhằm thảo luận về quan điểm, phương pháp luận và thông báo các kết quả đạt được ở khắp mọi nơi trên toàn thế giới. Ở Việt Nam Ngay từ đầu thế kỷ 18, Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về thực vật, trước hết phải kể đến các công trình “Thực vật chí Nam bộ” của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Sang thế kỷ 19 có công trình “Thực vật chí rừng Nam bộ” của tác giả Pierre L. Trong công trình này, các tác giả người Pháp đã thu thập mẫu và định tên, lập khóa mô tả các loài thực vật có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương, con số kiểm kê và được đưa ra là 7.004 loài thực vật bậc cao có mạch. Đây là bộ sách có ý nghĩa lớn đối với các nhà thực vật học, hiện nay bộ sách này vẫn còn có giá trị với những người nghiên cứu thực vật Đông Dương nói chung và hệ thực vật Việt Nam nói riêng. Tiếp theo phải kể đến là bộ “Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam” do Aubréville khởi xướng và chủ biên (1960 – 2001) cùng với nhiều tác giả khác.
Đến nay đã công bố 31 tập nhỏ gồm 75 họ cây có mạch, nghĩa là chưa đầy 21% tổng số họ đã có. Tuy nhiên con số này còn ít so với số loài thực vật có ở 3 nước Đông Dương. Sau này, Pocs T. (1965) tuy không nghiên cứu về hệ thực vật miền Bắc, nhưng dựa trên bộ “Thực vật chí đại cương Đông Dương” đã thống kê 5.190 loài, đồng thời tác giả còn phân tích cấu trúc hệ thống cũng như dạng sống và các yếu tố địa lý của hệ thực vật này.
trong công trình nghiên cứu về ngành rêu (Bryophyta) đã công bố 556 loài rêu ở Việt Nam, trong đó miền Bắc có 198 loài. Đây là công trình khá tổng quát công bố về ngành rêu ở Việt Nam. Như vậy, từ đầu thế kỷ 19 đến khoảng giữa thế kỷ 20, các công trình nghiên cứu về hệ thực vật có giá trị ở Việt Nam chủ yếu do các tác giả nước ngoài nghiên cứu. Các công trình mới chỉ dừng lại ở mức thống kê số lượng loài có trong một vùng diện tích lớn như miền Bắc Việt Nam (198.000km2), Việt Nam có diện tích trên 330.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Trên cơ sở bộ “Thực vật chí Đông Dương”, Thái Văn Trừng (1978, tái bản năm 2000) đã thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7.850 chi và 289 họ. Trong đó, ngành Hạt kín có 3. Ngành Dương xỉ và họ hàng Dương xỉ có 599 loài (chiếm 8,6%), 205 chi (chiếm 5,57%) và 42 họ (chiếm 14,5%). Ngành Hạt trần có 39 loài (chiếm 0,5%), 18 chi (chiếm 0,9%) và 8 họ (chiếm 2,8%).
Gần đây, đáng chú ý phải kể đến bộ “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1991 – 1993) xuất bản tại Canada và đã được tái bản có bổ sung tại Việt Nam (1999 – 2000); hay bộ sách “Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam” (2001 – 2005). Đây là những bộ sách đầy đủ nhất và dễ sử dụng nhất góp phần đáng kể cho nghiên cứu khoa học thực vật ở Việt Nam. Cùng với những công trình nghiên cứu ở miền Bắc, trong thời gian này, công trình nghiên cứu “Bước đầu nghiên cứu rừng miền Bắc Việt Nam” của Trần Ngũ Phương đã tiến hành phân loại rừng miền Bắc Việt Nam. Trong đó, rừng miền Bắc được chia làm 3 đai, 8 kiểu; ngoài ra tác giả còn chia ra thành nhiều kiểu rừng phụ mà chỉ dùng loại hình thay cho kiểu, sau loại hình kiểu phụ.
Phan Kế Lộc ở miền Bắc đã cung cấp số loài cây của các ngành thực vật bậc cao có mạch trong công trình “Bước đầu thống kê số loài cây đã biết ở miền Bắc Việt Nam”. Trong tác phẩm này, Phan Kế Lộc đã thống kê được 5.609 loài, còn các ngành khác chỉ có 540 loài. Bên cạnh đó, có một số họ riêng biệt đã được công bố như họ Lan Đông Dương (Orchidaceae) của Seidenfaden (1992), họ Lan (Orchidaceae) Việt Nam của Leonid V. Averyanov (1994), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) Việt Nam của Nguyễn Nghĩa Thìn (1999), họ Na (Annonaceae) Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân (2000), họ Bạc hà (Lamiaceae) của Vũ Xuân Phương LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 (2000), họ Đơn nem (Myrsinaceae) của Trần Thị Kim Liên (2002), họ Trúc Đào (Apocynaceae) của Trần Đình Lý (2007), … Đây là những tài liệu quan trọng làm cơ sở cho việc đánh giá về đa dạng phân loại thực vật Việt Nam.
Để phục vụ công tác khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên thực vật, Viện Điều tra Quy hoạch rừng đã công bố 7 tập “Cây gỗ rừng Việt Nam” (1971- 1988) giới thiệu khá chi tiết cùng với hình vẽ minh họa, đến năm 1996 công trình này được dịch ra tiếng Anh do Vũ Văn Dũng làm chủ biên. Bên cạnh những công trình mang tính chất chung cho cả nước, có nhiều nghiên cứu khu hệ thực vật từng vùng dưới dạng danh lục được công bố chính thức như “Hệ thực vật Tây Nguyên” đã công bố 3.754 loài thực vật có mạch do Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1984), “Danh lục thực vật Phú Quốc” của Phạm Hoàng Hộ (1985) đã công bố 793 loài thực vật có mạch trong diện tích 592 km2, Lê Trần Chấn và cộng sự (1990) về thực vật Lâm Sơn – Lương Sơn – Hòa Bình, Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời (1998) đã giới thiệu 2024 loài thực vật bậc cao, 771 chi, 200 họ thuộc 6 ngành của vùng núi cao Sa Pa – Phanxipang, hay một loạt các báo cáo công bố về đa dạng thành phần loài ở các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên như vùng núi đá vôi Sơn La, vùng ven biển Nam Trung Bộ, VQG Ba Bể, Cát Bà, Bến En, Phong Nha – Kẻ Bàng, … do nhiều tác giả công bố trong những năm gần đây. Nghiên cứu về hệ thực vật ở Khau Ca Kết quả điều tra Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (2006) đã ghi nhận được 471 loài thuộc 269 chi, 113 họ của 4 ngành thực vật bậc cao có mạch ở khu vực Khau Ca, tỉnh Hà Giang Trong đó, chỉ có 01 loài có tên trong Danh lục Đỏ IUCN 2006 13 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (Bộ KHCN&MT, 2000) và 15 loài có tên trong các phụ lục của Nghị định số 32/2006/NĐ – CP. * Kiểu thảm thực vật như sau: - Rừng thường xanh nguyên sinh đai núi thấp trên núi đá vôi: là kiểu thảm chính trong vùng với diện tích gần như toàn bộ tổng số diện tích rừng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 toàn khu hệ, phân bố ở độ cao trên 700 m so với mực nước biển.
Rừng gần như giữ được tính nguyên sinh, gồm hai phân kiểu rừng: + Phân kiểu rừng thường xanh hỗn giao cây lá rộng – cây lá kim nguyên sinh đai núi thấp trên núi đá vôi: phân bố ở khu vực đỉnh và gần đỉnh của các núi đá vôi. Tầng cây gỗ thấp khoảng từ 6 – 10 m duy nhất và được ưu thế bởi các loài: Đỗ quyên – Rhododendron spp. (Ericaceae), Hồi – Illicium spp. (Illiciaceae), Trẩu – Vernicia spp.
(Euphorbiaceae), Thích – Acer spp. (Aceraceae), Chân chim – Schefflera spp. Ngoài ra còn có nhiều loài đặc trưng cho thực vật trên giông núi với khả năng chịu hạn và gió tốt là: các loài của họ Thượng tiễn – Gesneriaceae, họ Cói – Cyperaceae, Mã hồ – Mahonia nepalensis, họ Anh thảo – Primulaceae… và đặc biệt là các loài lan: Hài Vân Nam – Paphiopedilum malipoense, Tiên hài vàng xanh – Paphiopedilum hirsitissimu, Hài Henry – Paphiopedilum henryanum (Orchidaceae). + Phân kiểu rừng thường xanh nguyên sinh cây lá rộng đai núi thấp trên núi đá vôi: phân bố ở thung lũng và chân núi, là kiểu thảm thực vật chính trong khu vực, đặc trưng bởi các cây gỗ lớn với đường kính khoảng từ 60 cm đến hơn 100 cm và chiều cao có thể lên đến 50 m như: Nghiến – Excentrodendron tonkinense (Tiliaceae), Trai – Garcinia spp.
Tầng tán ở độ cao từ 20 đến 35 m gồm các cây gỗ khá lớn, tán rộng và đan gần như kín tạo nên màn rừng với độ che phủ tới trên 80%: các loài Thị – Diospyros spp. Tầng dưới tán gồm các cây có chiều cao xấp xỉ 10m: Các loài Nhọc – Polyalthia spp.(Annonaceae), Lòng mang – Pterospermum spp. (Sterculiaceae)… Tầng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 cây bụi chủ yếu là cây con của cá tầng cây gỗ lớn, thưa thớt (khoảng 20%). Tầng thảm tươi cũng thưa thớt nhưng cũng có các loài đặc trưng: Bóng nướcv Impatiens sp.
(Balsaminaceae), Thu hải đường – Begonia spp. (Begoniaceae), Sam rừng – Elatostema spp. (Urticaceae), Xà căn – Ophiorrhiza spp. Thực vật ngoại tầng gồm: các loài bì sinh – ký sinh như: Tổ điểu – Asplenium nidus (Aspleniaceae), Đại cán nam – Macrosolen cochinchinensis, Mộc vệ Trung Hoa – Taxillus chinensis (Loranhthaceae) và các loài thuộc họ Phong Lan – Orchidaceae.; các loài dây leo khá đơn diệu như: Dây bù khai – Erythropalum scandens (Olacaceae), họ Thiên lý – Asclepiadaceae, họ Bầu bí – Cucurbitaceae, họ Nho – Vitaceae, Họ Tiết dê – Menispermaceae,… - Rừng thường xanh thứ sinh lá rộng đai núi thấp trên núi đã vôi: là trạng thái suy thoái của các kiểu trên hoặc trạng thái tái sinh sau nương rẫy.
Các loài đặc trưng gồm: Bụp bạc – Mallotus spp. (họ Thầu dầu – Euphorbiaceae); Bọ mắm – Pouzolzia sp. (họ Gai – Urticaceae), Lòng mang – Pterospermum spp., Sảng – Sterculia spp. (Sterculiaceae), các loài Sung – Ficus spp.
Ở trạng thái tác động nặng nề hơn hoặc mới tái sinh sau nương rẫy có các loài đặc trưng: Ráy – Allocasia macrorrhiza, Chuối – Mussa sp.