Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nghiên cứu về thực vật 1. Trên thế giới - Nghiên cứu về đa dạng Nghiên cứu đa dạng sinh vật nói chung và đa dạng thực vật nói riêng cũng như vấn đề bảo tồn chúng đã trở thành một chiến lược trên toàn thế giới. Hội nghị thượng đỉnh bàn về vấn đề môi trường và đa dạng sinh vật đã được tổ chức tại Rio de Janeiro (Brazil) tháng 6 năm 1992 đã có 150 nước ký vào Công ước về đa dạng sinh vật và bảo vệ chúng.
Từ đó nhiều hội thảo được tổ chức để thảo luận và nhiều cuốn sách mang tính chất chỉ dẫn ra đời. Năm 1990, WWF đã cho xuất bản cuốn sách nói về tầm quan trọng về đa dạng sinh vật (The importance of biological diversity) hay IUCN, UNEP và WWF đưa ra chiến lược bảo tồn thế giới (World conservation strategy), Wri, IUCN and WWF đưa ra chiến lược sinh vật toàn cầu (Global biological strategy) [theo 5]. Năm 1991, Wri, WB, WWF xuất bản cuốn bảo tồn đa dạng sinh vật thế giới (Conserving the World's biological diversity) hoặc IUCN, UNEP, WWF xuất bản cuốn "Hãy quan tâm tới trái đất" (Caring for the earth). Cùng năm, Wri, IUCN và UNEP xuất bản cuốn chiến lược đa dạng sinh vật và chương trình hành động.
Tất cả các cuốn sách đó nhằm hướng dẫn và đề ra các phương pháp để bảo tồn đa dạng sinh học, làm nền tảng cho công tác bảo tồn và phát triển trong tương lai [theo 71]. - Nghiên cứu về Thảm thực vật: Theo Schmitthusen (1959) thì ở Châu Âu có 02 hệ thống phân loại thảm thực vật chủ yếu là: Hệ thống phân loại các quần xã thực vật của Braun Blanquet (1928) và hệ thống phân loại các quần thể thực vật của các nhà địa thực vật Đức [57]. 5 Tại Phần Lan, Caiande A. chủ trương phân loại rừng dựa vào thảm thực vật tươi.
Ông cho rằng, trong lâm phần thành thục, tổ thành thảm tươi không chỉ phụ thuộc vào hoàn cảnh sinh thái môi trường mà còn phụ thuộc vào cả tổ thành loài cây gỗ của lâm phần. Thảm tươi là chỉ tiêu tốt nhất để xem xét tính đồng nhất sinh học của môi trường, kể cả tính đồng nhất về hiệu quả của thực vật rừng. Ở Mỹ, phân loại rừng lại theo học thuyết cực đỉnh (Climax) của Climent. Việc phân loại theo Climax tạo cho quần xã thực vật ổn định trong quá trình phát triển lâu dài trên những vùng lãnh thổ rộng lớn với đất đai đã được hình thành từ lâu, khí hậu là nhân tố để xác định Climax [theo 57].
Ở vùng nhiệt đới, Schimper (1918) là người đầu tiên đưa ra hệ thống phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới. Schimper đã phân chia thảm thực vật thành quần hệ khí hậu, quần hệ thổ nhưỡng và quần hệ vùng núi. Trong quần hệ khí hậu lại được phân chia thành 4 kiểu là: Rừng thưa, rừng gió mùa, rừng trảng, rừng gai, ngoài ra còn có thêm 2 kiểu là thảo nguyên nhiệt đới và hoang mạc nhiệt đới. Sau Schimper là các hệ thống của Rubel, Burt - Davy, Aubréville,.
Đáng chú ý nhất là hệ thống của Aubréville. Trong hệ thống này, ông đã căn cứ độ tán che trên mặt đất của tầng ưu thế sinh thái để phân biệt các kiểu quần thể thưa thành: Rừng thưa và trảng buông [76]. Champion (1936) đã phân biệt 4 đai thảm thực vật lớn theo nhiệt độ: Nhiệt đới, Á nhiệt đới, Ôn đới và núi cao. 6 UNESCO (1973) đã công bố một khung phân loại thảm thực vật thế giới dựa trên nguyên tắc ngoại mạo cấu trúc và được thể hiện trên bản đồ 1:200.
Đây là khung phân loại hiện nay được sử dụng phổ biến phục vụ cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học trên toàn thế giới [theo 71]. - Nghiên cứu hệ thực vật: Các công trình nghiên cứu quan trọng có: Thực vật chí Hồng Kông, 1861; thực vật chí Australia, 1866; thực vật chí Ấn Độ, 1874; thực vật chí Miến Điện, 1877; Thực vật chí Malaysia, 1892 - 1925; thực vật chí Hải Nam (Trung Hoa), 1972; Thực vật chí Vân Nam (Trung Hoa), 1977 [theo 71].I (1974) đã đưa ra nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1.000 loài và ông cũng cho rằng “ chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao trùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hóa về mặt địa lý” [theo 71]. Đối với các nước thuộc châu Âu, Mỹ thì việc nghiên cứu hệ thực vật đã hoàn thành từ lâu. Hầu hết các vật mẫu đã được lưu trữ tại các bảo tàng nỗi tiếng thế giới như Kew (Anh), Paris (Pháp), New York (Mỹ), Xanh Petecbua (Nga).
Các nước như Trung Quốc và khu vực Đông Nam như Thái Lan, Inđonesia, Malaysia thì đã có bộ Thực vật chí khá hoàn chỉnh. Nghiên cứu thực vật ở Việt Nam 1. Hệ thực vật Từ những năm đầu thế kỷ đã xuất hiện một công trình nổi tiếng, là nền tảng cho việc đánh giá tính đa dạng thực vật Việt Nam, đó là Bộ thực vật chí đại cương Đông Dương do H. Lecomte chủ biên (1907-1952) [Flore Générale de L'Indo-Chine] [90].
Trong công trình này, các tác giả người Pháp đã thu mẫu và định tên, lập khoá mô tả các loài thực vật có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương. Trong đó, hệ thực vật Việt Nam có 7.850 chi và 7 289 họ bao gồm ngành Hạt kín có 3.727 chi và 239 họ; ngành Dương xỉ và họ hàng Dương xỉ có 599 loài, 205 chi và 42 họ và Ngành Hạt trần 39 loài, 18 chi và 8 họ (Thái Văn Trừng, 1978, 2000) [76]. Trên cơ sở các công trình đã có, năm 1965, Pócs Tamás đã thống kê được ở miền Bắc có 5.190 loài [theo 92] và năm 1969 Phan Kế Lộc thống kê và bổ sung nâng số loài ở miền Bắc lên 5.660 chi và 140 họ (xếp theo hệ thống Engler), trong đó có 5.069 loài thực vật Hạt kín và 540 loài thuộc các ngành còn lại [49]. Về đa dạng quần xã thực vật trên phạm vi cả nước: Phải kể đến công trình của Thái Văn Trừng (1963 - 1978) về thảm thực vật Việt Nam.
Dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh quần thể, tác giả đã phân chia thảm thực vật Việt Nam thành các kiểu kiểu phụ, kiểu trái và thấp nhất là các ưu hợp. Trong các yếu tố phát sinh thì khí hậu là yếu tố phát sinh ra kiểu thực vật, còn các yếu tố địa lý, địa hình, địa chất, thổ nhưỡng, khu hệ thực vật và con người là yếu tố phát sinh của các kiểu phụ, kiểu trái và ưu hợp [76]. Đối với mỗi miền có những tác phẩm lớn: Ở miền Nam có công trình thảm thực vật Nam Trung bộ của Schmid (1974). Ngoài điều kiện khí hậu với chế độ thoát nước khác nhau, các tiêu chuẩn phân biệt các quần xã là sự phân hoá khí hậu, thành phần thực vật đai cao.
Tác giả xác nhận các loài thuộc về hệ thực vật Malêzi ở đai thấp dưới 600m còn các loài thuộc hệ thực vật Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa ở đai trên 1.200m được coi là đai chuyển tiếp [93]. Ở miền Bắc có công trình của Trần Ngũ Phương (1970) đã chia các đai trên cơ sở độ cao, sau đó kiểu dựa vào điều kiện địa hình và tính chất sinh thái, các kiểu khu vực dựa vào thành phần thực vật [theo 71]. Song song với những công trình đó ở miền Bắc từ 1969 - 1976, Lê Khả Kế (chủ biên) đã cho xuất bản bộ sách "Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam" gồm 6 tập mô tả về các loài thực vật ở Việt Nam [42]. Phạm Hoàng Hộ (1970-1972) 8 công bố hai tập Cây cỏ miền Nam Việt Nam giới thiệu 5.326 loài, trong đó có 60 loài thực vật bậc thấp và 20 loài Rêu còn lại 5.246 loài thực vật có mạch [32].
Để phục vụ công tác khai thác tài nguyên trước hết phải kể đến 6 tập Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi (1962-1965, 1969-1970) và cho đến nay nó được tiếp tục tái bản lần thứ 10, đã giới thiệu gần 1.000 cây thuốc và vị thuốc Việt Nam [47]; Viện Điều tra Qui hoạch Rừng đã công bố 7 tập Cây gỗ rừng Việt Nam (1971-1988) giới thiệu khá chi tiết cùng với hình vẽ minh họa, đến năm 1996 công trình này được dịch ra tiếng Anh do Vũ Văn Dũng chủ biên [80], [83]. Về mặt hệ thực vật trên phạm vi toàn quốc phải kể đến bộ Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) xuất bản tại Canada và đã được tái bản có bổ sung tại Việt Nam trong hai năm 1999-2000. Đây là bộ danh sách đầy đủ nhất và dễ sử dụng nhất đã góp phần đáng kể cho khoa học thực vật ở Việt Nam [33]. Đặc biệt đáng chú ý là bộ Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2001, 2003, 2005) do tập thể các nhà thực vật Việt Nam tập hợp và xây dựng với trên 20.000 loài bao gồm Tảo, Nấm và thực vật bậc cao trên phạm vi toàn quốc đã được công bố.
Đây là tài liệu tổng hợp đã được cập nhật đầy đủ nhất, là cơ sở cho chúng ta tra cứu, chỉnh lý tên gọi. Tuy nhiên các tác giả khác nhau đã sử dụng các hệ thống khác nhau theo quan điểm riêng của mình [7], [75]. Trần Đình Lý và tập thể (1993) công bố 1900 cây loài có ích ở Việt Nam [50]. Theo hướng cây thuốc, một trong những công trình có giá trị nhất về dược liệu của Đỗ Tất Lợi là Cây thuốc và vị thuốc Việt nam, đã được tái bản nhiều lần từ năm 1986 đến năm 2003 [47].
Tiếp đến là cuốn Từ điển cây thuốc Việt Nam của Võ Văn Chi (1997) công bố đã giới thiệu 3.300 loài cây cỏ làm thuốc của Việt Nam và được tái bản vào năm 2012 nâng tổng số loài cây thuốc ở Việt Nam lên hơn 4. Viện Dược liệu đã công bố cuốn cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (2004) [9]. 9 Bên cạnh đó, từng họ riêng biệt trên phạm vi cả nước cũng đã được nhiều nhà khoa học công bố như: Họ Annonaceae ở Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân (2000) [5], Lamiaceae của Vũ Xuân Phương (2000) [53], Myrsinaceae của Trần Thị Kim Liên (2002) [45], Cyperaceae của Nguyễn Khắc Khôi (2002) [43], Verbenaceae của Vũ Xuân Phương (2007) [54], họ Rau răm (Polygonaceae) và Bộ loa kèn (Liliales) của Nguyễn Thị Đỏ (2007) [25], [26], họ Cúc của Lê Kim Biên (2007) [10]. Đây là những tài liệu quan trọng làm cơ sở cho việc đánh giá về đa dạng thực vật Việt Nam.
Phan Kế Lộc (1998) đã tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 10.