MỞ ĐẦU VQG Xuân Thủy là vùng đất và bãi bồi nơi sông Hồng đổ ra biển thuộc huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, có tổng diện tích tự nhiên là 15.100 ha bao gồm: 7.100 ha vùng lõi VQG Xuân Thủy (đất nổi 3.100 ha; đất ngập nƣớc 4.000 ha gồm: Phần Bãi trong của Cồn Ngạn, toàn bộ Cồn Lu và Cồn Xanh) và 8.000 ha vùng đệm (bao gồm phần diện tích còn lại của Cồn Ngạn, bãi Trong và 5 xã vùng đệm: Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc, Giao Xuân và Giao Hải [32]. Đây là bãi vùng triều cửa sông ven biển có diện tích rừng ngập mặn lớn, điển hình nhất cho hệ sinh thái ven biển không những đối với tỉnh Nam Định mà còn đối với cả miền Bắc Việt Nam. Khu vực này nằm ở vị trí cửa sông - nơi tốc độ bồi lắng, tốc độ phù sa trung bình hàng năm của bãi vùng triều khoảng vài chục mét. Bãi bồi cửa sông ven biển cũng là nơi có tiềm năng về kinh tế và giá trị đa dạng sinh học.
Với Quốc tế VQG Xuân Thủy còn là Ga chim quan trọng đối với dòng chim di trú Quốc tế, trong số đó có loài cò mỏ thìa mặt đen, là loài chim đã đƣợc ghi vào sách đỏ của IUCN về các loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng. Hiện nay, việc quản lý bảo vệ tài nguyên môi trƣờng ở VQG Xuân Thủy vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề phức tạp. Do dân số quá đông, thiếu công ăn việc làm nên sức ép về khai thác nguồn lợi tự nhiên của ngƣời dân từ vùng đệm lên vùng lõi VQG Xuân Thủy ngày càng lớn. Mặt khác, hoạt động sản xuất của vùng đệm nuôi trồng thủy sản và sản xuất nông nghiệp cũng là nguyên nhân gây ra tác động xấu về môi trƣờng, tác động tiêu cực đến cân bằng sinh thái tự nhiên đe dọa sự phát triển bền vững Vƣờn quốc gia.
Từ những vấn đề cấp thiết ở trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng sinh học Vườn quốc gia Xuân Thủy làm cơ sở khoa học định hướng cho bảo tồn và phát triển”. Đề tài hƣớng tới mục tiêu đánh giá đƣợc hiện trạng đa dạng sinh học, các áp lực tác động và các giá trị lợi ích của VQG Xuân Thuỷ, định hƣớng cho công tác bảo tồn và phát triển cho Vƣờn trong thời gian tới. Để đạt đƣợc mục đích nghiên cứu, chúng tôi đã thực hiện các nội dung nghiên cứu nhƣ sau: - Đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học Vƣờn quốc gia Xuân Thủy. 1 z - Đánh giá lợi ích đa dạng sinh học Vƣờn quốc gia Xuân Thủy.
- Đánh giá các tác động lên đa dạng sinh học Vƣờn quốc gia Xuân Thủy. - Định hƣớng và đề xuất các giải pháp cho bảo tồn và phát triển. Chúng tôi hy vọng những nội dung nghiên cứu này là những tƣ liệu hữu ích góp phần giúp các nhà hoạch định chính sách có các hoạt động ƣu tiên cải thiện công tác quy hoạch phát triển, quản lý và sử dụng hợp lý các dạng tài nguyên thiên nhiên cũng nhƣ bảo vệ nguồn lợi sinh vật, bảo tồn đa dạng sinh học, đồng thời đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội về nhiều mặt của cộng đồng. 2 z Chƣơng 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Khái quát chung về Đất ngập nƣớc 1. Khái niệm Đất ngập nước ĐNN rất đa dạng, có mặt khắp mọi nơi và là cấu thành quan trọng của các cảnh quan trên mọi miền của thế giới. Tuỳ thuộc vào sự khác nhau về loại hình đất ngập nƣớc, sự phân bố cùng với những mục đích sử dụng hay mục đính quản lý mà các tổ chức, quốc gia khác nhau đƣa ra các định nghĩa khác nhau về ĐNN. Theo Công ƣớc Ramsar, vùng đất ngập nƣớc đƣợc bảo vệ bởi Công ƣớc này đƣợc hiểu một cách rất rộng.
Theo văn kiện của Công ƣớc này (Điều 1.1), đất ngập nƣớc đƣợc xác định là: “Những vùng đầm lầy, miền đầm lầy, vùng đất than bùn, vùng đất tù nhiên hoặc nhân tạo, có thể tồn tại lâu dài hay tạm thời, có nƣớc tĩnh hoặc nƣớc chảy, là nƣớc ngọt, nƣớc lợ hay nƣớc mặn, bao gồm cả những vùng nƣớc biển có độ sâu không quá 6 mét khi triều kiệt”. Theo luật ĐDSH (2008) quy định: “ĐNN tự nhiên là vùng đầ m lầ y, than bùn hoă ̣c vùng nƣớc thƣờng xuyên hoặc ta ̣m thời, kể cả vùng biể n có đô ̣ sâu không quá 6 mét khi ngấn nƣớc thủy triều thấp nhất” (Khoản 1, Điều 35). Đây là định nghĩa về ĐNN chính thống của Việt Nam đƣợc quy định bằng pháp luật nhằm mục đích bảo tồn các HST ĐNN tự nhiên và ĐDSH. Mọi hoạt động liên quan đến ĐNN ở nƣớc ta đều phải sử dụng định nghĩa này.
Phân loại Đất ngập nước Tuỳ thuộc vào sự khác nhau về loại hình, phân bố khác nhau của vùng ĐNN mà các tác giả, các tổ chức đƣa ra hệ thống phân loại khác nhau về ĐNN. * Phân loại ĐNN của công ƣớc Ramsar Vào những năm đầu của thập kỷ 70, Công ƣớc Ramsar (1971) đã phân ĐNN thành 22 kiểu mà không chia thành các hệ và lớp. Trong quá trình thực hiện Công ƣớc và thực tiễn áp dụng vào các vùng và các quốc gia khác nhau, sự phân hạng này đã thay đổi. Vào năm 1994, phụ lục 2B của Công ƣớc Ramsar đã chia ĐNN thành 3 nhóm chính đó là: 1.
ĐNN ven biển và biển (11 loại hình); 2. ĐNN nội địa (16 loại hình); 3. ĐNN nhân tạo (8 loại hình) (Davis, 1994 - Ramsar Convention Bureau) với tổng 3 z cộng 35 loại hình. Cũng theo Ramsar Convention Bureau (1997a,b - 2nd edition), thì các loại hình ĐNN đã đƣợc xem xét lại và chia thành 40 kiểu khác nhau [4].
* Công ƣớc Ramsar và phân loại đất ngập nƣớc của Việt Nam/ Cục Bảo vệ Môi trƣờng Theo dự thảo Chiến lƣợc Đất ngập nƣớc Việt Nam của Cục Môi trƣờng (thuộc Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trƣờng), các kiểu đất ngập nƣớc đƣợc liệt kê và mô tả bao gồm [45]: 1. Các vịnh nông và các eo biển có độ sâu 6m khi triều thấp. Các vùng cửa sông, châu thổ; bãi triều 3. Những vùng bờ biển có đá, vách đá,bãi cát hay bãi sỏi.
Vùng đầm lầy ngập mặn, rừng ngập mặn. Những đầm phá ven biển dù là nƣớc mặn hay nƣớc lợ. Ao nuôi trồng thủy sản. Sông suối và hệ thống thoát nƣớc nội địa.
Đầm lầy ven sông; đầm lầy nƣớc ngọt. Hồ chứa nƣớc tự nhiên; hồ chứa nƣớc nhân tạo. Rừng ngập nƣớc theo mùa (nhƣ rừng Tràm). Đất cầy cấy ngập nƣớc, đất đƣợc tƣới tiêu.
Bãi than * Phân loại/ Kiểm kê đất ngập nƣớc của Lê Diên Dực (1989) Hệ thống phân loại đất ngập nƣớc này dựa trên hệ thống phân loại của công ƣớc Ramsar (1971). Theo hệ thống phân loại này Việt Nam có 20 loại đất ngập nƣớc nhƣ sau: 1. Các vịnh nông từ 6m trở lại khi triều thấp; 2. Các vùng cửa sông, châu thổ; 3.
Những đảo nhỏ xa bờ; 4. Những vùng bờ biển có đá, vách đá ven biển; 5. Những bãi biển dù là cát hay là sỏi; 6. Những bãi triểu dù là bùn hay là cát; 7.
Vùng đầm lầy có rừng ngập mặn; 8. Những đầm phá ven biển dù là nƣớc lợ hay nƣớc mặn; 4 z 9. Những ruộng muối; 10. Sông suối chảy chậm dƣới mức trung bình; 12.
Sông suối chảy nhanh trên mức trung bình; 13. Đầm lầy ven sông; 14. Hồ nƣớc ngọt; 15. Ao nƣớc ngọt (< 8 ha), đầm lầy nƣớc ngọt; 16.
Ao nƣớc mặn, những hệ thống thoát nƣớc nội địa; 17. Đập chứa nƣớc; 18. Rừng ngập nƣớc, đất đƣợc tƣới tiêu; 19. Đất cày cấy ngập nƣớc, đất đƣợc tƣới tiêu; 20.
Đây là công trình phân loại đất ngập nƣớc đầu tiên của Việt Nam do PGS. Lê Diên Dực chủ trì đã đƣợc hoàn thành năm 1989. Tác giả và các cộng sự đã tiến hành điều tra, kiểm kê, mô tả các vùng đất ngập nƣớc tiêu biểu của Việt Nam dựa trên khái niệm về đất ngập nƣớc của Công ƣớc Ramsar [12]. * Phân loại đất ngập nƣớc của Phan Nguyên Hồng và cộng sự (1996) Năm 1996, theo yêu cầu của Cục Môi trƣờng (nay là Cục Bảo vệ Môi trƣờng, thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng), GS.
Phan Nguyên Hồng và các cộng sự thuộc Trung tâm Tài nguyên và Môi trƣờng (Đại học Quốc gia Hà Nội) đã xây dựng bản dự thảo Chiến lƣợc quản lý đất ngập nƣớc Việt Nam, trong đó có nội dung phân loại đất ngập nƣớc Việt Nam. Để giới thiệu một cách tổng quát các loại đất ngập nƣớc chủ yếu, tùy theo tính chất ngập nƣớc mặn hay nƣớc ngọt, thƣờng xuyên hay định kỳ, tác giả đã xác định những vùng đất ngập nƣớc sau đây là đối tƣợng nghiên cứu của “Chiến lƣợc bảo vệ và quản lý đất ngập nƣớc Việt Nam giai đoạn 1996 - 2020”: Kiểu phân loại này cũng tƣơng tự nhƣ cách phân loại của IUCN, tác giả đã phân chia đất ngập nƣớc theo các sinh cảnh, nhƣng sắp xếp các sinh cảnh này theo tính chất ngập nƣớc mặn (đới biển ven bờ) hay ngập nƣớc ngọt (đất ngập nƣớc nội địa). Cách thức phân loại này đúng nhƣ mục đích của tác giả là phục vụ cho việc nghiên cứu xây dựng chiến lƣợc quản lý đất ngập nƣớc ở cấp quốc gia, còn đối với các cấp chi tiết hơn sẽ không thể đáp ứng đƣợc [45]. Theo đó, đất ngập nƣớc nội địa bao gồm: 5 z 1.
Các hệ thống dòng chảy (sông, suối); 2. Các hồ tự nhiên; 3. Các hồ chứa nhân tạo; 4. Vùng đồng bằng châu thổ sông; 5.
Các vùng ngập nƣớc không thƣờng xuyên. Đất ngập nƣớc ven biển bao gồm: 1. Các loại hình cửa sông; 2. Rừng ngập mặn; 3.
Vùng dƣới triều trên độ sâu 6m nƣớc; 6. Các bãi cỏ biển và bãi tảo; 7. Các rạn san hô. Tổng quan các nghiên cứu về đa dạng sinh học hệ sinh thái đất ngập nƣớc trên Thế giới và Việt Nam 1.
Tổng quan các nghiên cứu về đa dạng sinh học đất ngập nước trên Thế giới ĐNN rất đa dạng, có mặt khắp mọi nơi và là cấu thành quan trọng của các cảnh quan trên mọi miền của thế giới. Hàng thế kỷ nay, con ngƣời và các nền văn hoá nhân loại đƣợc hình thành và phát triển dọc theo các triền sông hoặc ngay trên các vùng ĐNN. ĐNN đã và đang bị suy thoái và mất đi ở mức báo động, mặc dù ngày nay ngƣời ta đã nhận biết đƣợc các chức năng và giá trị to lớn của chúng [46, 48, 53]. ĐNN đƣợc cấu thành từ nhiều hợp phần, nhiều cảnh quan, đa dạng về kiểu loại, phong phú về tài nguyên, ĐDSH, có nhiều chức năng và giá trị quan trọng.