Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam được ghi nhận là một trong những trung tâm đa dạng sinh học hàng đầu thế giới với 856 loài chim thuộc 81 họ và 19 bộ. Nằm trên dải núi đá vôi kéo dài từ Tây Bắc xuống đồng bằng Bắc Bộ, Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông thuộc tỉnh Hòa Bình có tổng diện tích 19.254 ha, đóng vai trò là mắt xích hành lang xanh sinh thái kết nối Vườn quốc gia Cúc Phương rộng 22.220 ha với Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông rộng 17.662 ha.

Mặc dù có vị trí chiến lược, các tài liệu nghiên cứu trước đây tại khu bảo tồn còn khá hạn chế. Nghiên cứu của Lê Trọng Đạt và cộng sự vào năm 2007 chỉ diễn ra trong 14 ngày vào mùa đông, ghi nhận 253 loài nhưng chưa phản ánh đầy đủ thành phần loài do tập tính giảm hoạt động sinh sản của chim trong mùa lạnh. Đề tài luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp của tác giả Nguyễn Chí Thành tại Trường Đại học Lâm nghiệp đã được thực hiện nhằm khảo sát toàn diện tính đa dạng thành phần loài, đánh giá hiện trạng phân bố sinh cảnh, định lượng các mối đe dọa và đề xuất giải pháp bảo tồn khả thi.

Nghiên cứu được triển khai từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2011 trên địa bàn 7 xã vùng đệm và vùng lõi thuộc hai huyện Lạc Sơn và Tân Lạc, tập trung khảo sát trọng điểm tại xã Tự Do và xã Ngổ Luông. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn khi xác định được khu hệ chim tại đây chiếm 73,68% tổng số bộ, 59,26% tổng số họ và 30,84% tổng số loài chim của toàn quốc, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học để bảo vệ bền vững 16.833,1 ha diện tích đất lâm nghiệp có rừng đặc dụng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết về mối quan hệ giữa độ phức tạp cấu trúc thảm thực vật và tính đa dạng loài chim của MacArthur & MacArthur (1961) cùng mô hình sinh thái học quần xã của Wiens (1992). Khung lý thuyết này giải thích cấu trúc rừng nhiều tầng tán tại vùng núi đá vôi sẽ cung cấp ổ sinh thái phong phú, quyết định sự phân hóa độ phong phú của khu hệ chim.

Đề tài sử dụng phương pháp đánh giá suy giảm hiểm họa sinh học TRA (Threats Reduction Assessment) do Margoluis và Salafsky (2001) phát triển. Mô hình TRA định lượng các áp lực ngoại cảnh tác động lên quần xã sinh vật thông qua ba biến số định lượng gồm: phạm vi ảnh hưởng, cường độ tác động và tính cấp thiết của hiểm họa.

Hệ thống phân loại học của luận văn tuân thủ cấu trúc phân loại quốc tế của Richard Howard và Alick Moore (1991), kết hợp với ba chuẩn đánh giá tình trạng nguy cấp gồm: Sách đỏ IUCN (2010), Sách đỏ Việt Nam (2007) và danh mục động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ. Các khái niệm nền tảng được định vị rõ gồm: đa dạng sinh học bậc taxon, sinh cảnh đặc trưng rừng núi đá vôi, phân vùng sinh thái và các loài chim ưu tiên bảo tồn.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu được thu thập kết hợp giữa điều tra thực địa, phỏng vấn xã hội học và kiểm chứng mẫu vật bảo tàng. Tác giả thiết lập 8 tuyến khảo sát cố định đại diện cho các sinh cảnh còn nguyên vẹn nhất, gồm 5 tuyến tại xóm Kháy thuộc xã Tự Do và 3 tuyến tại xóm Trẩm thuộc xã Ngổ Luông. Mỗi tuyến điều tra được lặp lại từ 5 đến 7 lần trong các khung giờ chim hoạt động mạnh nhất (từ sáng sớm đến 12 giờ trưa và từ 15 giờ đến 18 giờ chiều) với thiết bị quang học chuyên dụng Nikon và tài liệu giám định hình thái của Craig Robson (2005).

Cỡ mẫu khảo sát thực địa kết hợp điều tra xã hội học đã ghi nhận được 125 loài quan sát trực tiếp ngoài tự nhiên, 49 loài phát hiện qua tiếng hót, 64 loài thông qua phỏng vấn bán định hướng thợ săn cùng cán bộ kiểm lâm địa phương, và 7 loài được xác thực qua mẫu vật lưu trữ tại nhà dân. Phương pháp chọn mẫu tuyến có chủ đích kết hợp phỏng vấn sâu được lựa chọn vì tính phù hợp với địa hình núi đá Karst hiểm trở, chia cắt phức tạp với độ dốc từ 30 đến 45 độ. Dữ liệu không gian được xử lý bằng phần mềm MapInfo 10 để định vị tọa độ phân bố các loài nguy cấp, kết hợp công cụ Microsoft Excel phân tích tỷ lệ phần trăm các bậc phân loại taxon trong khoảng thời gian 6 tháng nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu đã thống kê được 264 loài chim thuộc 48 họ và 14 bộ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông. Đáng chú ý, đề tài đã phát hiện và bổ sung mới 11 loài chim cho danh lục khu bảo tồn, bao gồm: Tìm vịt xanh (Chrysoccoryx maculatus), Cao cát bụng trắng (Anthracoceros albirostris), Cu rốc đầu vàng (Megalaima franklinii), Gõ kiến nhỏ ngực đỏ (Dendrocopos cathpharius), Gõ kiến xanh gáy vàng (Picus flavinucha), Chim nghệ lớn (Aegithina lafresnayei), Lách tách họng hung (Alcippe rufogularis), Lách tách mày trắng (Alcippe vinipectus), Đớp ruồi Hải Nam (Cyornis hainanus), Đớp ruồi đầu xám (Culicicapa ceylonensis) và Hút mật bụng vạch (Hypogramma hypogrammicum).

Thứ hai, bộ Sẻ (Passeriformes) chiếm ưu thế tuyệt đối về mặt phân loại với 26 họ (chiếm 54,17% tổng số họ) và 159 loài (chiếm 60,23% tổng số loài toàn khu hệ). Các họ có độ đa dạng loài cao nhất gồm: họ Chích chòe với 21 loài, họ Khướu với 20 loài, họ Chim chích với 17 loài, họ Gõ kiến và họ Cu cu cùng có 13 loài, họ Chào mào, họ Ưng và họ Đớp ruồi đều sở hữu 12 loài. Ngược lại, có 10 họ đơn loài chỉ ghi nhận duy nhất 1 đại diện (chiếm 2,08% mỗi họ), chẳng hạn như họ Chim lặn, họ Cuốc, họ Vẹt, họ Nuốc và họ Đầu rìu.

Thứ ba, sự phân bố của các loài chim có sự khác biệt rõ rệt theo 5 dạng sinh cảnh:

  • Rừng trên núi đất: 213 loài (chiếm 80,68% tổng số loài)
  • Rừng trên núi đá vôi: 188 loài (chiếm 71,21% tổng số loài)
  • Đồng ruộng, ao hồ, nương rẫy: 100 loài (chiếm 37,88% tổng số loài)
  • Trảng cỏ, cây bụi, rừng thứ sinh nghèo: 78 loài (chiếm 29,55% tổng số loài)
  • Khu dân cư, làng bản: 43 loài (chiếm 16,29% tổng số loài)

Thứ tư, đề tài xác lập danh mục 19 loài chim ưu tiên bảo tồn có nguy cơ bị đe dọa. Trong đó có các loài nằm trong nhóm IB và IIB của Nghị định 32/2006/NĐ-CP, Sách đỏ Việt Nam và Sách đỏ IUCN như: Gà lôi trắng (Lophura nycthemera), Gà tiền mặt vàng (Polyplectron bicalcaratum), Gà so ngực gụ (Arborophila charltonii), Niệc nâu (Anorrhinus tickelli), Niệc mỏ vằn (Aceros undulatus), Cú lợn lưng nâu (Tyto capensis), Trèo cây mỏ lưng đen (Sitta formosa) và Ác là (Pica pica).

Thảo luận kết quả

Sự tập trung thành phần loài cao nhất tại sinh cảnh rừng trên núi đất (213 loài) và rừng trên núi đá vôi (188 loài) hoàn toàn phù hợp với quy luật sinh thái học. Đây là các hệ sinh thái có tầng tán cây gỗ lớn phát triển liên tục, độ ẩm cao từ 75% đến 86%, cung cấp nguồn thức ăn dồi dào từ hạt, quả rừng, côn trùng và các loài bò sát nhỏ, đồng thời tạo các hốc cây rỗng làm tổ an toàn cho các loài chim kích thước lớn như họ Hồng hoàng và họ Cú.

Khi so sánh tương quan khu hệ với các khu bảo tồn lân cận trên cùng vĩ độ và dạng địa hình Karst, Ngọc Sơn - Ngổ Luông sở hữu số lượng 264 loài, cao hơn đáng kể so với Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (162 loài) và Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia - Pà Cò (163 loài, 47 họ, 15 bộ), chỉ đứng sau Vườn quốc gia Cúc Phương (336 loài, 55 họ, 17 bộ). Cơ cấu dữ liệu này có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ phân bố tần suất bậc họ và biểu đồ phân bố sinh cảnh để làm nổi bật vị trí then chốt của vùng lõi Thung La Bán và xóm Trẩm.

Tuy nhiên, thảo luận nghiên cứu cũng chỉ ra áp lực sinh thái nghiêm trọng. Kết quả khảo sát TRA chỉ ra 6 mối đe dọa chính, dẫn đầu là nạn săn bắn chim rừng bằng súng tự chế, bẫy chim mồi và trèo cây bắt tổ non (đặc biệt đối với loài Yểng, Chích chòe lửa, Họa mi và Khướu bạc má). Điểm nóng khai thác gỗ trái phép tại Thung La Bán và sức ép sinh kế từ 2.164 hộ dân bản địa với tỷ lệ nghèo từ 57,5% đến 60,6% đang đe dọa trực tiếp đến tính toàn vẹn của các quần thể chim quý hiếm.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả định lượng về sinh cảnh và các nguy cơ hiểm họa, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Tăng cường thực thi pháp luật và tuần tra bảo vệ nghiêm ngặt vùng lõi: Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông cần phối hợp với Công an hai huyện Tân Lạc và Lạc Sơn thiết lập các trạm kiểm soát cố định tại Thung La Bán và xóm Trẩm. Mục tiêu đạt được là giảm 85% các vụ bẫy bắt chim trái phép và thu hồi 100% súng săn tự chế trong vòng 12 tháng triển khai.

  2. Quy hoạch và phục hồi sinh cảnh hành lang xanh: Ban Quản lý Khu bảo tồn cần triển khai các biện pháp lâm sinh nhằm bảo vệ nguyên vẹn 13.942 ha rừng tự nhiên hiện có, đồng thời tiến hành khoanh nuôi tái sinh 3.058,2 ha đất trống, đồi núi trọc trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2020 để mở rộng hành lang di chuyển cho các loài chim quý hiếm giữa Cúc Phương và Pù Luông.

  3. Phát triển sinh kế bền vững gắn với chi trả dịch vụ môi trường rừng: Ủy ban nhân dân 7 xã phối hợp cùng các tổ chức phi chính phủ triển khai mô hình nông lâm kết hợp và du lịch sinh thái quan sát chim (bird-watching) có sự tham gia của cộng đồng. Đặt mục tiêu nâng thu nhập bình quân của 2.164 hộ dân người Mường tăng thêm từ 25% đến 30%, hạ tỷ lệ hộ nghèo từ trên 57% xuống dưới 35% sau 3 năm nhằm giảm thiểu áp lực khai thác rừng tự nhiên.

  4. Đẩy mạnh giáo dục truyền thông bảo tồn đa dạng sinh học: Thiết kế chương trình giáo dục môi trường song ngữ (tiếng Việt và tiếng Mường) tại hệ thống trường học của 7 xã. Đảm bảo 100% học sinh từ bậc tiểu học đến trung học cơ sở và trên 90% thợ săn địa phương ký cam kết không săn bắt, buôn bán hoặc nuôi nhốt các loài chim rừng thuộc danh mục bảo tồn trong thời hạn 24 tháng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống dữ liệu thực chứng của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cho nhiều nhóm độc giả chuyên ngành:

  • Ban quản lý các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia: Cán bộ quản lý tại Ngọc Sơn - Ngổ Luông, Cúc Phương, Pù Luông có thể khai thác trực tiếp bản đồ sinh cảnh và danh lục 19 loài chim ưu tiên để xây dựng phương án quản lý rừng bền vững và quy hoạch phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 11.000 ha.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên ngành Lâm nghiệp, Sinh thái học: Tài liệu là nguồn tham khảo phương pháp luận chuẩn xác về điều tra tuyến cố định, phương pháp đánh giá TRA và hệ thống khóa định loại 264 loài chim theo phân loại học quốc tế.
  • Các tổ chức phi chính phủ và quỹ bảo tồn quốc tế: Các tổ chức như WWF, BirdLife International, IUCN hay FFI có thể sử dụng số liệu của đề tài để thẩm định tài trợ cho các chương trình bảo tồn loài nguy cấp và phát triển kinh tế vùng đệm tại Tây Bắc.
  • Các đơn vị phát triển du lịch sinh thái và cộng đồng địa phương: Doanh nghiệp du lịch trải nghiệm có thể dựa trên tọa độ phân bố của các loài chim đẹp như Hồng hoàng, Chích chòe lửa, Gà lôi trắng để khảo sát các tour du lịch chụp ảnh chim hoang dã tại xóm Kháy và xóm Trẩm.

Câu hỏi thường gặp

Đề tài đã bổ sung được bao nhiêu loài chim mới cho Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông? Nghiên cứu đã phát hiện và bổ sung 11 loài chim mới chưa từng xuất hiện trong danh lục khảo sát năm 2007 của Lê Trọng Đạt, nâng tổng số loài của toàn khu hệ lên 264 loài. Một số loài nổi bật gồm Tìm vịt xanh (Chrysoccoryx maculatus), Cao cát bụng trắng (Anthracoceros albirostris) và Gõ kiến xanh gáy vàng (Picus flavinucha), được ghi nhận thông qua quan sát trực tiếp ngoài thực địa.

Tại sao sinh cảnh rừng trên núi đất lại có số lượng loài chim cao nhất? Rừng trên núi đất ghi nhận 213 loài (chiếm 80,68%) nhờ sở hữu cấu trúc rừng đa tầng, thảm thực vật phong phú và độ ẩm cao. Đây là môi trường lý tưởng cung cấp sinh khối thức ăn dồi dào từ các loài sâu bọ, côn trùng và hạt cây rừng, thu hút đại đa số các loài thuộc bộ Sẻ và các loài chim di cư đến kiếm ăn.

Những loài chim nào tại khu vực đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng cao nhất? Có 19 loài ưu tiên bảo tồn, trong đó nguy cấp nhất là Gà tiền mặt vàng (Polyplectron bicalcaratum - Nhóm IB, VU), Niệc nâu (Anorrhinus tickelli - Nhóm IIB, VU), Niệc mỏ vằn (Aceros undulatus - Nhóm IIB, VU) và Cú lợn lưng nâu (Tyto capensis - Nhóm IIB, VU). Các loài này có kích thước quần thể rất nhỏ và bị săn bắt làm cảnh hoặc mất nơi cư trú.

Phương pháp đánh giá TRA được ứng dụng như thế nào trong luận văn? Phương pháp TRA định lượng 6 nhóm nguy cơ dựa trên 3 tiêu chí: phạm vi tác động, cường độ phá hủy và tính cấp thiết theo thang điểm từ 1 đến 6. Tổng điểm giúp xếp hạng các mối đe dọa chính, chỉ ra nạn săn bắt chim bằng súng săn và khai thác gỗ làm tổ tại Thung La Bán là hai tác nhân nguy hại nhất.

Giải pháp nào giúp giải quyết triệt để xung đột giữa bảo tồn chim rừng và sinh kế người dân? Giải pháp cốt lõi là chuyển đổi sinh kế cho 2.164 hộ dân bản địa thông qua chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và phát triển du lịch sinh thái cộng đồng. Khi tỷ lệ hộ nghèo tại 7 xã giảm từ mức 57,5% - 60,6% xuống mức thấp, người dân sẽ chấm dứt việc vào rừng bẫy chim và khai thác gỗ trái phép.

Kết luận

  • Xác lập danh lục toàn diện gồm 264 loài chim thuộc 48 họ và 14 bộ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông, đóng góp 30,84% tổng số loài chim của Việt Nam.
  • Ghi nhận mới 11 loài chim cho khu bảo tồn, khẳng định giá trị đa dạng sinh học độc đáo của hệ sinh thái núi đá vôi chuyển tiếp giữa Tây Bắc và đồng bằng Bắc Bộ.
  • Xác định rừng trên núi đất (213 loài) và rừng trên núi đá (188 loài) là hai sinh cảnh cốt lõi duy trì sự tồn tại của 19 loài chim nguy cấp, quý hiếm.
  • Định lượng 6 nhóm hiểm họa sinh thái bằng phương pháp TRA, chỉ rõ áp lực săn bắt và khai thác gỗ vùng lõi là mối đe dọa hàng đầu cần ngăn chặn.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp liên ngành kết hợp giữa tuần tra bảo vệ nghiêm ngặt vùng lõi, phục hồi 3.058,2 ha đất trống và nâng cao sinh kế cho 2.164 hộ dân.

Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là cung cấp bộ cơ sở dữ liệu thực chứng và bản đồ phân bố hỗ trợ đắc lực cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học dải núi đá vôi Hòa Bình. Trong lộ trình 12 đến 24 tháng tới, các cơ quan chức năng cần tiếp tục chương trình giám sát định kỳ biến động quần thể các loài chim quý hiếm vào mùa sinh sản. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và tổ chức phát triển hãy khai thác triệt để các dữ liệu học thuật này nhằm xây dựng chính sách bảo vệ bền vững hành lang xanh sinh thái Ngọc Sơn - Ngổ Luông.