Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu chim tại Việt Nam Nghiên cứu chim tại Việt Nam có thể chia làm hai giai đoạn cơ bản, trước năm 1954 và sau năm 1954. Trước năm 1954, đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về chim, trong đó có thể kể đến: Năm 1758, tài liệu chim đầu tiên là bản mô tả loài gà rừng (Gallus gallus) với tiêu bản chim bắt được ở đảo Côn Lôn. Sau đó 30 năm, Gơmơlanh đã mô tả loài thứ hai bắt được ở Đông Dương là loài Chim xanh Nam Bộ (Chloropsis cochinensis).
Đây được coi là hai công trình đầu tiên nghiên cứu về chim tại Việt Nam. Từ những năm 1874 đến 1903, công trình “Chim Căm pu chia, Lào, Nam Bộ và Bắc Bộ Việt Nam” của tác giả M. Oustalet được xuất bản.Từ năm 1905 đến 1907, Uxtalê và Gecmanh cho xuất bản tập “Danh sách Chim miền Nam Nam Bộ”. Cũng vào thời gian này, Butan đã công bố kết quả sưu tầm chim Việt Nam trong tập “Mười năm nghiên cứu động vật”.
Ông đã ghi nhận được 90 loài và một số dẫn liệu về sinh học của một số loài (Võ Quý, 1975)[9]. Năm 1918, Boden Klox đã tổ chức một cuộc sưu tầm chim của Đông Dương, trong đó 1525 tiêu bản được sưu tầm. Kết quả ghi nhận được 235 loài và phân loài trong đó có 34 dạng mới cho khoa học. Trong khoảng thời gian đó nhà Điểu học người Nhật Kurôđa đã phân tích bộ sưu tập chim của S.
Txikia và đã ghi nhận được 130 loài và phân loài (Võ Quý, 1975)[9]. Từ năm 1923 đến năm 1938, 7 cuộc sưu tầm lớn trên lãnh thổ Đông Dương đã được tiến hành bởi một nhóm các nhà khoa học: J. Grinuây… Kết quả 23.000 tiêu bản được thu thập và giám định tại c 4 Pháp (Võ Quý, 1981)[10]. Đến năm 1940, Dơlacua và Grinuây cho xuất bản danh sách chim thu thập được trong cuộc sưu tầm chim lần thứ 7 gồm 224 loài và phân loài.
Từ năm 1941 – 1950, chỉ có một số công trình nhỏ nghiên cứu về chim tại Đông Dương. Năm 1951, Dơlacua lại bổ sung lần thứ 3 danh sách chim Đông Dương dựa trên một số kết quả nghiên cứu trước đó (J. Lần này tác giả đã mở rộng thêm danh sách đến 1085 loài và phân loài trong đó có 2 loài mới (Võ Quý, 1981)[10]. Như vậy, trước năm 1954 các công trình nghiên cứu về chim còn hạn chế và chủ yếu được thực hiện bởi các tác giả người nước ngoài.
Sau 1954, các công trình nghiên cứu về chim mới được thực hiện trở lại sau khi bị gián đoạn do chiến tranh. Đáng chú ý là các công trình nghiên cứu của các tác giả: Năm 1971, Võ Quý đã công bố công trình “Sinh học các loài chim thường gặp ở Việt Nam”[8]. Đó là kết quả tổng hợp nghiên cứu hơn 7 năm về đời sống của các loài chim phổ biến ở miền Bắc Việt Nam. Trong sách tác giả đã trình bày đầy đủ các đặc điểm về nơi ở, thức ăn, sinh sản và một số tập tính khác của gần 200 loài chim ở miền Bắc Việt Nam.
Năm 1975 và 1981, Võ Quý đã xuất bản công trình “Chim Việt Nam, hình thái và phân loại (tập I, II)”[9,10]. Đây là công trình nghiên cứu về chim Việt Nam đầy đủ nhất từ trước đến nay. Năm 1983, Võ Quý đã cho xuất bản công trình “Danh sách Chim Việt Nam và Khu hệ sinh thái động vật Việt Nam” bằng tiếng Nga. Năm 1999 Võ Quý, Nguyễn Cử đã xuất bản “Danh lục chim Việt Nam”[7].
Bảng danh lục gồm 19 bộ, 81 họ và 828 loài chim đã tìm thấy ở Việt Nam tính đến năm 1995. Với mỗi loài, các tác giả đã đưa ra các đặc điểm về hiện trạng và vùng phân bố của chúng. c 5 Năm 2000, cuốn “Chim Việt Nam” của tập thể các tác giả Nguyễn Cử, Lê Trọng Trải, Karren Phillips được được xuất bản[4]. Tài liệu này đã mô tả khoảng 500 loài chim trong tổng số khoảng 850 loài chim đã được ghi nhận ở Việt nam.
Mỗi loài tác giả trình bày các mục: Mô tả đặc điểm, phân bố, tình trạng và nơi ở có kèm theo ảnh minh hoạ. Đây là một trong những cuốn sách được sử dụng phổ biến để nhận dạng các loài chim ngoài thực địa hiện nay. Những năm gần đây, do nhiều dự án bảo tồn đa dạng sinh học của chính phủ nước ngoài như: Hà Lan, Úc, Đức. các tổ chức phi chính phủ: Tổ chức Bảo tồn chim Quốc tế (Bidlife international), tổ chức Bảo vệ động thực vật Quốc tế (IUCN), quỹ Quốc tế và bảo vệ thiên nhiên (WWF), Ngân hàng Thế giới (WB)… đầu tư vào Việt Nam, công tác nghiên cứu bảo tồn da dạng sinh học ở nước ta ngày càng được quan tâm.
Cho đến nay, tại nhiều VQG, KBTTN của Việt Nam, công tác điều tra cơ bản tài nguyên sinh vật, trong đó có tài nguyên chim đã được tiến hành ở nhiều mức độ khác nhau. Nghiên cứu hệ động vật nói chung và chim nói riêng tại KBTNSNL Khu vực hành lang xanh nối từ VQG Cúc Phương đến KBTTN Pù Luông là một khu vực quan trọng, có tính đa dạng sinh học cao. Chính vì vậy đã có khá nhiều chương trình điều tra đa dạng sinh học tại đây nhằm đánh giá mức độ đa dạng của cả hành lang nói chung và mỗi khu vực nói riêng. Riêng tại KBTNSNL cũng đã có một số chương trình điều tra, tiêu biểu có thể kể đến: Năm 2003, Phân viện điều tra quy hoạch rừng Tây Bắc với sự hỗ trợ của Dự án Cảnh quan núi đá vôi Cúc Phương – Pù Luông đã thực hiện một cuộc điều tra sơ bộ về hệ động vật có xương sống tại KBTNSNL, trong đó trọng điểm là thú, chim, bó sát, lưỡng cư; không điều tra về cá.
Tổng cộng ghi nhận được 296 loài, gồm 68 loài thú, 179 loài chim, 31 loài bò sát và 18 loài lưỡng cư tại khu vực này (Đỗ Tước và Dương Anh Tuấn, 2003 )[18]. c 6 Gần đây nhất, tháng 12/2007, Lê Trọng Đạt và cộng sự đã thực hiện một cuộc điều tra đa dạng sinh học tại KBTNSNL, nằm trọng Dự án Ngọc Sơn - Ngổ Luông với sự tư vấn kỹ thuật của tổ chức động thực vât hoang dã quốc tế (FFI)[14]. Kết quả ghi nhận được tổng cộng 455 loài động vật có xương sống, bao gồm 93 loài thú, 253 loài chim, 48 loài bò sát, 34 loài lưỡng cư và 27 loài cá. Trong những loài đã ghi nhận được qua cuộc điều tra thì có 56 loài được liệt kê trong sách đỏ của IUCN (IUCN, 2006), 55 loài có tên trong sách đỏ Việt Nam (Anon, 2000) và 2 loài phụ địa phương (Lê Trọng Đạt et al.
Như vậy, có thể thấy KBTNSNL có tính đa dạng sinh học cao, nhiều loài quý hiếm, đặc hữu cần được bảo tồn. Tuy nhiên, các chương trình trên chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn. Ngay cả chương trình điều tra gần đây nhất của Lê Trọng Đạt và cộng sự, mặc dù đã ghi nhận được thêm nhiều loài mới so với chương trình năm 2003, tuy nhiên toàn bộ đợt điều tra chỉ diễn ra trong vòng 14 ngày; mặt khác lại vào thời điểm mùa đông nên có thể sẽ bỏ sót nhiều loài do tập tính của các loài chim là thường không sinh sản và hoạt động mạnh vào mùa đông. c 7 Chương 2 MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - ĐỊA ĐIỂM - THỜI GIAN - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.
Mục tiêu chung Góp phần vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại KBTNSNL cũng như của cả khu vực hành lang xanh Cúc Phương – Pù Luông. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá tính đa dạng loài và giá trị của khu hệ chim KBTNSNL - Đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn cho khu vực nghiên cứu 2. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 2. Đối tượng nghiên cứu Các loài chim tại KBTNSNL 2.
Địa điểm nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu tại KBTNSNL, tỉnh Hoà Bình, trong đó chủ yếu tập trung tại 2 xã: Tự Do, huyện Lạc Sơn và Ngổ Luông, huyện Tân Lạc. Thời gian nghiên cứu Thời gian nghiên cứu của đề tài từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2011, trong đó: - Thời gian thu thập tài liệu và khảo sát thực địa: tháng 4 năm 2011 - Thời gian điều tra thực địa: tháng 6 – tháng 7 năm 2011 - Xử lý số liệu và hoàn thiện luận văn: tháng 8 – tháng 9 năm 2011 2. Nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu tính đa dạng về thành phần loài chim tại KBTNSNL - Nghiên cứu đặc điểm phân bố và tình trạng của một số loài chim ưu tiên bảo tồn trong khu vực - Xác định các yếu tố đe doạ tới Khu hệ chim tại KBTNSNL c 8 - Hiện trạng công tác quản lý, bảo tồn của KBTNSNL - Đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn cho khu vực nghiên cứu 2. Phương pháp nghiên cứu 2.
Kế thừa tài liệu Thu thập các tài liệu, thông tin có liên quan đến công tác nghiên cứu: - Các báo cáo điều tra đa dạng sinh học tại KBTNSNL - Bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng, bản đồ địa hình, bản đồ khu dân cư của khu vực. - Báo cáo định hướng phát triển kinh tế - xã hội của UBND tỉnh Hoà Bình 2. Phỏng vấn bán định hướng Phỏng vấn bán định hướng được thực hiện song song với quá trình điều tra thực địa. Các đối tượng được phỏng vấn bao gồm: + Phỏng vấn cán bộ (Cán bộ KBTNSNL, chính quyền địa phương, kiểm lâm,…) + Phỏng vấn thợ săn + Phỏng vấn người dân địa phương khác Phương pháp này cung cấp cho chúng ta những thông tin có ý nghĩa về tình hình tài nguyên động vật rừng của địa phương điều tra trên các phương diện thành phần loài, mức độ phong phú, phân bố thực tại, thức ăn, sinh sản, tình trạng các loài.
Trong khi trao đổi thu thập thông tin, chúng tôi đã sử dụng tranh ảnh chuẩn về hình thái bên ngoài của các loài. Với hình thức các câu hỏi ngắn gọn, dễ hiểu về những đặc điểm dễ nhận dạng của loài. Gặp gỡ người dân địa phương hay đi rừng để thu thập thông tin về các loài động vật có mặt ở địa phương và tìm hiểu về nơi ở, tập tính hoạt động, thành phần thức ăn, sinh cảnh, phân bố theo độ cao, thành phần và số lượng các loài động vật bị đánh bắt cũng như ý nghĩa kinh tế của các loài đó. c 9 Toàn bộ thông tin thu thập được từ thợ săn được ghi chép đầy đủ vào phiếu phỏng vấn (Mẫu biểu 01) và các thông tin từ nguồn khác được ghi vào sổ ghi chép thực địa.
Mẫu biểu 01: Phiếu phỏng vấn thợ săn Ngày .