Nghiên cứu tính đa dạng sinh học nhóm bướm ngày tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, Yên Bái

Nghiên cứu tính đa dạng sinh học của nhóm bướm ngày Rhopalocera tại khu bảo tồn Nà Hẩu, Yên Bái và đề xuất biện pháp bảo tồn hiệu quả.

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2013

88
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu đa dạng sinh học bướm ngày tại Nà Hẩu

Nghiên cứu đa dạng sinh học bướm ngày tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, Yên Bái là một chủ đề quan trọng trong việc bảo tồn hệ sinh thái. Khu vực này không chỉ có giá trị về đa dạng sinh học mà còn là nơi cư trú của nhiều loài bướm quý hiếm. Việc nghiên cứu này giúp đánh giá hiện trạng và đề xuất các biện pháp bảo tồn hiệu quả.

1.1. Đặc điểm sinh thái của khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu

Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu có hệ sinh thái phong phú với nhiều loại hình sinh cảnh khác nhau. Đặc điểm địa hình, khí hậu và thổ nhưỡng tại đây tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loài bướm ngày.

1.2. Vai trò của bướm ngày trong hệ sinh thái

Bướm ngày không chỉ có giá trị về mặt thẩm mỹ mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc thụ phấn cho các loài thực vật. Chúng là chỉ thị sinh thái, giúp đánh giá chất lượng môi trường sống.

II. Thách thức trong việc bảo tồn đa dạng sinh học bướm ngày

Mặc dù khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu có nhiều tiềm năng, nhưng việc bảo tồn đa dạng sinh học bướm ngày đang gặp phải nhiều thách thức. Sự suy giảm môi trường sống và tác động của con người là những yếu tố chính ảnh hưởng đến quần thể bướm ngày.

2.1. Tác động của biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu đang làm thay đổi môi trường sống của bướm ngày, ảnh hưởng đến sự phân bố và sinh sản của chúng. Nhiệt độ tăng cao và sự thay đổi lượng mưa có thể làm giảm số lượng bướm.

2.2. Sự khai thác tài nguyên thiên nhiên

Việc khai thác rừng và đất đai để phục vụ cho nông nghiệp và phát triển hạ tầng đã làm mất đi môi trường sống của nhiều loài bướm ngày. Điều này dẫn đến sự suy giảm đa dạng sinh học trong khu vực.

III. Phương pháp nghiên cứu đa dạng sinh học bướm ngày

Để nghiên cứu đa dạng sinh học bướm ngày tại Nà Hẩu, nhiều phương pháp đã được áp dụng. Các phương pháp này giúp thu thập dữ liệu chính xác về số lượng và thành phần loài bướm trong khu vực.

3.1. Phương pháp điều tra thực địa

Điều tra thực địa là phương pháp chính để thu thập mẫu bướm ngày. Các nhà nghiên cứu đã tiến hành khảo sát tại nhiều điểm khác nhau trong khu bảo tồn để ghi nhận sự đa dạng của các loài bướm.

3.2. Phân tích số liệu và đánh giá

Sau khi thu thập mẫu, các số liệu sẽ được phân tích để đánh giá mức độ đa dạng sinh học. Việc này giúp xác định các loài bướm phổ biến và hiếm gặp trong khu vực.

IV. Kết quả nghiên cứu đa dạng sinh học bướm ngày

Kết quả nghiên cứu cho thấy khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu có sự đa dạng phong phú về bướm ngày. Nhiều loài bướm quý hiếm đã được ghi nhận, cho thấy giá trị sinh học cao của khu vực này.

4.1. Thành phần loài bướm ngày

Nghiên cứu đã ghi nhận được nhiều loài bướm ngày khác nhau, trong đó có nhiều loài có giá trị bảo tồn cao. Sự phong phú này cho thấy khu vực Nà Hẩu là một điểm nóng về đa dạng sinh học.

4.2. Đặc điểm phân bố của bướm ngày

Phân bố của các loài bướm ngày trong khu vực nghiên cứu cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các sinh cảnh. Một số loài chỉ xuất hiện ở những khu vực nhất định, cho thấy mối liên hệ chặt chẽ với môi trường sống.

V. Giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học bướm ngày

Để bảo tồn đa dạng sinh học bướm ngày tại Nà Hẩu, cần có các giải pháp cụ thể và hiệu quả. Những biện pháp này không chỉ giúp bảo vệ các loài bướm mà còn bảo vệ môi trường sống của chúng.

5.1. Tăng cường quản lý và giám sát

Cần thiết lập các chương trình quản lý và giám sát chặt chẽ để theo dõi tình trạng của các loài bướm ngày. Việc này giúp phát hiện sớm các vấn đề và có biện pháp xử lý kịp thời.

5.2. Giáo dục cộng đồng về bảo tồn

Giáo dục cộng đồng về tầm quan trọng của bướm ngày và đa dạng sinh học là rất cần thiết. Sự tham gia của cộng đồng sẽ góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu đa dạng sinh học bướm ngày tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu đã chỉ ra tầm quan trọng của việc bảo tồn các loài bướm. Tương lai của nghiên cứu này cần được tiếp tục để đảm bảo sự bền vững của hệ sinh thái.

6.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc đánh giá tác động của các biện pháp bảo tồn đã thực hiện. Điều này sẽ giúp cải thiện hiệu quả bảo tồn trong tương lai.

6.2. Hướng phát triển bền vững

Phát triển bền vững là mục tiêu quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học. Cần có sự kết hợp giữa bảo tồn và phát triển kinh tế để đảm bảo lợi ích lâu dài cho cộng đồng.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay nghiên cứu tính đa dạng sinh học nhóm bướm ngày rhopalocera lepidoptera làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học tại khu bảo tồn thiên nhiên nà hẩu yên bái

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu về côn trùng nói chung và Bướm ngày nói riêng trên thế giới Côn trùng là nhóm phong phú và đa dạng nhất trong giới động vật. Ước tính số lượng loài côn trùng đã được mô tả trên thế giới khác nhau: năm 1997 có khoảng 720.000 loài (Tangley); từ năm 1998 tới năm 2008 800.000 loài ( Raven và Yeates, 2007) lên đến khoảng 8. Vào năm 2002 Groombridge và Jenkins đã thống kê được 963.000 loài gồm côn trùng và các động vật nhiều chân khác.

Ước tính tổng số lượng côn trùng rất khác nhau ở khắp nơi trên thế giới từ 2.Groombridge và Jenkins). Các tính toán dựa trên ngoại suy từ loài Coleoptera và Lepidoptera tại New Guinea bởi Novotny et al. (2002) có thể đạt tới một con số từ 3,7 triệu và 5.000 loài cho tổng số động vật chân đốt trên thế giới. Côn trùng không chỉ đa dạng về thành phần loài mà còn là nhóm có số lượng cá thể lớn, đông đúc nhất trên hành tinh chúng ta.

Lớp côn trùng có đến một tỷ tỷ (108) cá thể, có nghĩa là trên 1 km2 bề mặt trái đất có tới 10 tỷ con sâu bọ sinh sống ở đó và nếu so với dân số loài người thì có khoảng 200 triệu con côn trùng cho bình quân 1 đầu người. Với tương quan như vậy, đã có người cho rằng sâu bọ mới chính là “chủ nhân” đích thực “thống trị” hành tinh xanh của chúng ta. Côn trùng trở thành một ngành khoa học bắt đầu từ Aristoteles (384 – 322 tr. Lần đầu tiên ông đã mô tả và sắp xếp thế giới động vật thành hai nhóm: nhóm có máu và nhóm không có máu.

Ở nhóm thứ hai cơ thể phân đốt, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 chia thành đầu, ngực và bụng. Thuộc nhóm này có côn trùng và ông ghép thêm cả đa túc, nhện, một phần giáp xác thấp và một số giun đốt. Một thời gian sau đó Cajus Plinius Secundus đã công bố các công trình và đã có sự phỏng đoán về sự hô hấp của côn trùng và cho rằng chúng có máu. Những công trình của Aldrovandi (1522 – 1605), giáo sư ở Gymnasium thuộc Bologna bắt đầu được công bố, trong đó gồm có cả côn trùng.

Trong đơn vị thống nhất có tính hệ thống thuật ngữ Insecta (côn trùng) bao gồm cả bọ cạp, nhện, giun đốt, sao biển…Trong tác phẩm của ông, một khối lượng lớn những quan sát về cách sinh sống và hình dạng các nhóm động vật này được đánh giá đặc biệt có giá trị.Moufer (1550 – 1604) dựa theo bản thảo của Conrad Gesner ( 1516 – 1565) đã biên soạn thành một tài liệu và công bố năm 1634. Hệ thống phân loại của Moufet cũng tương tự như của Aldrovandi, chỉ có sự khác là sao biển đã không còn thuộc vào Insecta. Những kiến thức về giải phẫu côn trùng đáng kể nhất là của Marcello Malpighi (1628 – 1694) và Antony Leeuwenhoek( 1632 – 1723). Năm 1668 người Ý có tên là Francesco Reidi (1626 – 1697) đã phát hiện thấy hiện tượng “phát sinh tự nhiên” của côn trùng.

Ông đã chứng minh được rằng ruồi không chỉ phát triển từ những con dòi đã tồn tại trong những miếng thịt thối rữa, mà từ những miếng thịt trước đó ruồi đã đẻ trứng vào. Johannes Swammerdam (1637 – 1685) là người hoàn thiện các công trình nghiên cứu của Reidi và ông gọi đó là côn trùng ký sinh. Năm 1710, tài liệu “Historia Insectorum” của John Ray (1628 – 1704) đã được Hội Hoàng gia Anh công bố. Aurivillius (1909) đã coi Ray như là nhà côn trùng học đầu tiên và duy nhất trước Linne về hệ thống phân loại côn trùng.

Ray đã đưa ra nhiều giống và mô tả nhiều loài nhưng còn rất khó hiểu, bởi thiếu một hệ thống thuật ngữ. Đến lúc này thì một loạt các nhóm động vật LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 như nhện, mò, mạt, rận, chim, giun đất đã không còn xếp lẫn trong nhóm côn trùng. Carl von Linne (1707 – 1778) là người đã đặt nền móng cho một hệ thống phân loại hiện đại về côn trùng. Ngoài những cống hiến to lớn cho thực vật và động vật học, riêng với côn trùng ông đã phân chia chúng thành các bộ, giống, và loài.

Bộ không cánh theo ông gồm cả nhện, giáp xác, và rết, nhưng ông cũng tách riêng giun và sao biển khỏi côn trùng. Sau thời kỳ Linne, số lượng các công trình nghiên cứu về côn trùng tăng lên ồ ạt, nhưng côn trùng học vẫn chỉ là một bộ phận của động vật học. Những vấn đề lớn của côn trùng học như hệ thống phân loại học, giải phẫu học, sau này bổ sung thêm sinh thái học và sinh lý học. Trước tiên côn trùng học được phát triển từ ngành động vật rừng, sau đó trở thành một lĩnh vực riêng về nghiên cứu giảng dạy.

Theo Geiler (1967) thì J. Ratzeburg (1801 – 1871) được coi là người đầu tiên xây dựng côn trùng học lâm nghiệp, tiếp theo là các công trình nghiên cứu về côn trùng nông nghiệp như công trình của H.Nordlinge (1818 – 1897), côn trùng y học, côn trùng ứng dụng của K. sau đó lan rộng sang các nước trên toàn thế giới. Bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) là một trong những bộ có số lượng loài lớn trong lớp côn trùng bao gồm nhóm ngài (bướm đêm) và bướm ngày.

Cơ thể và cánh, chân phủ đầy những lông vảy nhỏ như bụi phấn nên còn có tên là bộ Cánh phấn. Miệng vòi hút, hàm trên thoái hóa chỉ còn lại một ít dấu vết hoặc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Râu đầu có đủ các hình dạng: sợi chỉ, lông chim, dùi đục, dùi trống. Hiện nay có khoảng 180.000 loài bướm đã được mô tả (ước lượng có khoảng: 300.000 loài trên thế giới).

Bộ Cánh vẩy được chia làm hai nhóm chính là Bướm ngày và Bướm đêm, với những đặc điểm sai khác như sau: Bảng 1.1: Đặc điểm khác nhau giữa Bướm ngày và Bướm đêm Bộ phận Bướm ngày Bướm đêm Râu đầu Hình dùi đục, hình dùi trống Hình sợi chỉ, hình lông chim Cánh Đa số ngắn lớn Đa số dài nhỏ Phần bụng Đa số thon dài Đa số mập ngắn Liên kết cánh Không có cơ quan liên kết Có cơ quan liên kết trước sau Xếp cánh khi Hai đôi cánh thường xếp Hai đôi cánh xếp bằng hoặc nghỉ ngơi thẳng trên lưng ( một số ít xếp xếp thành hình mái nhà trên bằng trên lưng) lưng Thời gian hoạt Ban ngày Hoạt động ban đêm nhiều động hơn (Cố Mậu Bân, Trần Bội Trân ,1997) 1. Tình hình nghiên cứu về Bướm ngày ở Việt Nam Những mẫu Bướm ngày được thu thập sớm nhất ở Việt Nam hiện có trong Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên quốc gia Paris. Những mẫu này có nguồn gốc từ miền Nam Việt Nam và được thu thập từ năm 1864 đến 1868 (Monastyrskii và Devyatkin, 2003). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Việc thu thập mẫu Bướm ngày được các nhà sưu tập người Pháp tiếp tục tiến hành trong những năm 1894-1990 gần 100 năm.

Kết quả là có hai công trình của Joannis (1900, 1902) với 93 loài đã được xác định ở tỉnh Cao Bằng và Lào Cai (dẫn trong Monastyrskii và Devyatkin, 2003). Từ năm 1902-1911, Fruhstorfer, nhà nghiên cứu Bướm ngày người Thụy Sĩ đã công bố một loạt các bài báo mô tả nhiều loài và phân loài mới cho khu hệ Bướm ngày Việt Nam. Có thể thấy rõ những đóng góp của ông trong Danh mục các mẫu chuẩn của Fruhstorfer (1922), trong đó hơn 150 taxon mới có xuất xứ từ vùng lãnh thổ thuộc Việt Nam ngày nay (Martin, 1922; dẫn trong Monastyrskii và Devyatkin, 2003). Một đóng góp khác rất quan trọng của ông là một loạt công trình nghiên cứu về họ Bướm phấn (Pieridae), họ Bướm giáp (Nymphalidae), họ Erycinidae và họ Bướm xanh (Lycaenidae) được công bố trong nhiều tập về vùng Đông Phương với sự chủ biên nổi tiếng của Seitz (1908-1928; dẫn trong Monastyrskii và Devyatkin, 2003).

Giai đoạn nghiên cứu tiếp theo về Bướm ngày ở Đông Phương trong đó có Việt Nam dựa trên các bộ mẫu của các nhà sưu tập người Pháp. Kết quả được trình bày trong ba công trình của Vitalis (1919), Dubois và Vitalis (1921, 1924). Các công trình này đã đề cập tới 661 taxon (kể cả loài và phân loài) và chúng có thể được xem là nền tảng cho những nghiên cứu sau này (Monastyrskii và Devyatkin, 2003). Joannis (1930) đã có công trình nghiên cứu mang tên “Lépidoptères héterocères du Tonkin” được xuất bản ở Paris.

Tác giả đã thống kê được 1.798 loài thuộc 746 giống và 45 họ côn trùng Cánh vảy ở vùng Đông Dương, trong đó có Việt Nam. Trong những năm 50 và 60 của thế kỷ XX, Bướm ngày ở Việt Nam chủ yếu do các nhà côn trùng học người Pháp, Anh và Nhật Bản thu thập. Lemee và Tams (1950) đã công bố 250 loài Bướm ngày phân bố ở miền Bắc Việt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vào thời kỳ này, Metaye là người có nhiều đóng góp nhất cho sự hiểu biết về khu hệ Bướm ngày Việt Nam (Monastyrskii và Devyatkin, 2003), ông đã xác định được danh lục 454 loài Bướm ngày tại Việt Nam (Metaye, 1957).

Tuy nhiên, danh sách của Metaye hầu hết trích dẫn từ danh sách trước đó của Dubois và Vitalis và cũng lặp lại nhiều lỗi nên không thể sử dụng được nếu thiếu cách tiếp cận phân loại cặn kẽ (Monastyrskii và Devyatkin, 2003). Những nghiên cứu ít nhiều tập trung vào họ Bướm ngao (Riodinidae), họ Bướm xanh (Lycaenidae) và họ Bướm nhảy (Hesperiidae) ở miền Nam Việt Nam được tiến hành bởi các nhà côn trùng học Nhật Bản (Inoue & Kawazoe, 1964-1970) nhưng những nghiên cứu này chưa kết thúc (Monastyrskii và Devyatkin, 2003). Một bộ sưu tập nhỏ nhưng giá trị được Russel thu thập vào cuối những năm 60 của thế kỷ XX ở miền Nam Việt Nam gồm những số liệu đáng chú ý về khu hệ và phân loại học. Một phần số liệu này đã được Eliot sử dụng trong những công trình tu chỉnh phân loại của ông liên quan đến Bướm ngày châu Á (Eliot, 1969, 1986; Eliot & Kawazoe, 1986; dẫn trong Monastyrskii và Devyatkin, 2003).

Năm 1976, kết quả điều tra côn trùng Miền Bắc Việt Nam của Viện Bảo vệ Thực vật với sự tham gia của các nhà côn trùng học hai nước Trung Quốc và Việt Nam đã xác định 181 loài thuộc 9 họ Bướm ngày. Tuy nhiên, công trình chủ yếu là xác định các loài côn trùng gây hại ( Đặng Thị Đáp và nnk, 2008). Công trình điều tra cơ bản côn trùng miền Bắc Việt Nam từ năm 1960 đến 1970 của Mai Phú Quí và nnk (1981) đã đã xác định được danh lục 161 loài thuộc 5 họ Bướm ngày. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ