Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Việt Nam nằm trong vùng sinh thái Indo-Burma – một trong 34 điểm nóng về đa dạng sinh học toàn cầu. Nhờ sự phân hóa đa dạng về địa hình, khí hậu và sinh cảnh, khu hệ động vật nói chung cùng lớp Lưỡng cư (Amphibia) và Bò sát (Reptilia) nói riêng có mức độ đa dạng loài và tính đặc hữu cao. Số lượng loài lưỡng cư và bò sát ghi nhận tại Việt Nam liên tục tăng qua các thời kỳ: từ 340 loài (Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc, 1996), 458 loài (Nguyễn Văn Sáng và cs., 2005), 545 loài (Nguyen et al., 2009) đến khoảng 650 loài vào cuối năm 2016 (Frost, 2016; Uetz & Hošek, 2016). Tuy nhiên, các quần thể này đang đối mặt với nguy cơ suy giảm nghiêm trọng do mất sinh cảnh, suy thoái rừng, ô nhiễm môi trường và hoạt động khai thác quá mức.
Trong khi phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây tập trung chủ yếu vào các dãy núi cao thuộc dãy Trường Sơn, khu vực miền Bắc hoặc Tây Nguyên, thì dải đất duyên hải Nam Trung Bộ lại ít được khảo sát toàn diện. Tỉnh Phú Yên sở hữu 116.819 ha rừng tự nhiên với độ che phủ 31,1%, giữ vai trò là vùng đệm chuyển tiếp sinh thái quan trọng giữa Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ. Trước thời điểm luận án thực hiện, các công bố tại Phú Yên còn rất tản mạn, chủ yếu tập trung quanh các đô thị hoặc trục lộ giao thông chính (với tổng số mới chỉ ghi nhận 73 loài gồm 21 loài lưỡng cư và 52 loài bò sát). Do đó, việc thực hiện một công trình điều tra chuyên sâu về thành phần loài, quy luật phân bố sinh thái và giá trị bảo tồn cho khu hệ lưỡng cư - bò sát ở vùng phía Nam đèo Cù Mông, tỉnh Phú Yên là một yêu cầu cấp thiết nhằm lấp đầy khoảng trống dữ liệu khu hệ học.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định hệ thống mục tiêu như sau:
- Mục tiêu chung: Xác định mức độ đa dạng loài, đặc điểm phân bố và giá trị bảo tồn của khu hệ lưỡng cư và bò sát ở vùng phía Nam đèo Cù Mông thuộc tỉnh Phú Yên.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá sự đa dạng về thành phần loài và đặc điểm phân bố của lưỡng cư và bò sát ở vùng phía Nam đèo Cù Mông thuộc tỉnh Phú Yên.
- Đánh giá giá trị bảo tồn và các nhân tố đe dọa đến các loài lưỡng cư và bò sát ở khu vực nghiên cứu.
- Đề xuất các kiến nghị sử dụng hợp lý và bảo tồn lưỡng cư, bò sát tại tỉnh Phú Yên.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ các loài động vật thuộc lớp Lưỡng cư (Amphibia) và lớp Bò sát (Reptilia) hiện diện tại khu vực nghiên cứu.
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Phú Yên nằm ở phía Nam đèo Cù Mông, giới hạn trong tọa độ địa lý từ 12°39’10" đến 13°45’20" vĩ độ Bắc và từ 108°39’45" đến 109°29’20" kinh độ Đông. Khảo sát thực địa được triển khai tại 12 điểm thuộc 8 đơn vị hành chính cấp huyện/thị xã/thành phố: thành phố Tuy Hòa, thị xã Sông Cầu, và các huyện Đông Hòa, Tây Hòa, Sông Hinh, Sơn Hòa, Đồng Xuân, Tuy An (loại trừ huyện Phú Hòa do diện tích rừng còn rất ít, chủ yếu là đất nông nghiệp và khu dân cư).
- Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành từ tháng 5/2014 đến tháng 5/2017, thực hiện 30 đợt khảo sát thực địa với tổng cộng 125 ngày điều tra thực tế trong các tháng từ tháng 1 đến tháng 11 hàng năm.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các giai đoạn và hướng nghiên cứu trước đây
Luận án đã tổng kết lịch sử nghiên cứu lưỡng cư, bò sát tại Việt Nam và khu vực Nam Trung Bộ qua các giai đoạn chính:
- Thời kỳ trước năm 1954: Ghi nhận sớm nhất trong y học cổ truyền thuộc về tác phẩm Nam Dược Thần Hiệu của Tuệ Tĩnh (1623?–1713) với 16 loài làm thuốc. Nghiên cứu phân loại học hiện đại bắt đầu từ nửa cuối thế kỷ XIX với các công trình của Morice (1875: 114 loài bò sát, 13 loài ếch nhái), Tirant (1885: 149 loài bò sát, 17 loài ếch nhái), Mocquard (1907: cuốn Les Reptiles de l’Indo-Chine), Angel (1920–1935). Nổi bật là các công trình của Smith (1921, 1924, 1935, 1943) về phân loại thằn lằn và rắn ở Ấn Độ và Đông Dương. Đặc biệt, René Bourret công bố 3 chuyên khảo kinh điển: Les Serpents de l’Indochine (1936), Les Tortues de l’Indochine (1941) và Les Batraciens de l’Indochine (1942).
- Thời kỳ 1954–1975: Các công trình của Đào Văn Tiến và cộng sự (1956 tại Vĩnh Linh; 1962 tại Thái Nguyên; 1965 công trình đầu tiên về sinh học và sinh thái học loài Ếch đồng Rana rugulosa cùng Lê Vũ Khôi); công trình tổng kết miền Bắc của Trần Kiên và cộng sự.
- Thời kỳ từ năm 1975 đến nay:
- Hướng nghiên cứu khu hệ và danh lục: Công trình xây dựng khóa định loại của Đào Văn Tiến (1977–1982) cho 87 loài lưỡng cư, 32 loài rùa, 2 loài cá sấu, 77 loài thằn lằn, 165 loài rắn. Các luận án và công trình khu hệ tiêu biểu: Nguyễn Văn Sáng (1981), Hoàng Xuân Quang (1993 - Bắc Trung Bộ: 128 loài), Phạm Văn Hòa (2005 - Đông Nam Bộ: 120 loài), Trần Thanh Tùng (2009 - Yên Tử: 139 loài), Hoàng Thị Nghiệp (2012 - An Giang, Đồng Tháp: 108 loài; 2015 - Cà Mau: 72 loài), Đậu Quang Vinh (2014 - Pù Hoạt: 107 loài), Phan Thị Hoa (2015 - Sơn Trà, Cù Lao Chàm: 80 loài), Phạm Hồng Thái (2015 - Bà Nà - Núi Chúa: 157 loài), Lê Trung Dũng (2016 - Mường Nhé: 97 loài), Dương Đức Lợi (2016 - Bắc đèo Cù Mông, Bình Định: 111 loài), Nguyen (2011), Tran (2013).
- Các tài liệu tổng quan toàn quốc: Danh lục của Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc (1996: 340 loài); Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trường (2005: 458 loài); Nguyen et al. (2009: 545 loài). Sách chuyên khảo định loại của Stuart et al. (2001), Ziegler (2002), Hendrie et al. (2011).
- Tu chỉnh phân loại học hiện đại: Ứng dụng sinh học phân tử của Li et al. (2009 - tách giống họ Rhacophoridae), McLeod (2010 - phân loại phức hợp Limnonectes kuhlii), Kuraishi et al. (2012 - giống Polypedates), Yuan et al. (2016 - giống Microhyla), Zaher et al. (2009) và Pyron et al. (2013) (tách các họ Lamprophiidae, Natricidae, Pareatidae, Pseudoxenodontidae), Guo et al. (2014 - tách giống Amphiesma sang Hebius), Tiedemann et al. (2014).
- Khu vực Nam Trung Bộ và Phú Yên: Campden-Main (1970) ghi nhận 4 loài rắn tại Phú Yên (Dendrelaphis pictus, Xenochrophis piscator, Enhydris enhydris, Ophiophagus hannah); Anon (1990) thống kê 30 loài tại Krông Trai; Nguyễn Văn Sáng và cs. (2005) ghi 10 loài; Ngô Đắc Chứng và Trần Duy Ngọc (2007) lập danh sách 71 loài (21 LC, 50 BS); David et al. (2008) mô tả loài rắn mới Oligodon ocellatus; Nguyen et al. (2009) ghi nhận 17 loài. Các nghiên cứu gần đây tại Nam Trung Bộ công bố 10 loài mới từ năm 2010 (Ngo & Gamble, 2010; Ziegler et al., 2013, 2016; Vassilieva et al., 2014; Botov et al.).
Khoảng trống luận án giải quyết
Trước luận án này, số liệu về khu hệ lưỡng cư và bò sát tại Phú Yên chỉ dừng lại ở con số 73 loài đã được công bố rải rác, thiếu các bộ mẫu chuẩn hóa đối chứng, nhiều sinh cảnh vùng sâu, vùng cao chưa từng được tiếp cận. Luận án giải quyết toàn diện khoảng trống về danh mục phân loại học cập nhật theo các hệ thống phân loại mới nhất, cung cấp dữ liệu định lượng về đặc điểm phân bố theo sinh cảnh và độ cao, phân tích tương đồng địa lý động vật và đánh giá hiện trạng các mối đe dọa để xây dựng bản đồ ưu tiên bảo tồn cho địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án tiếp cận dựa trên lý thuyết phân loại học hình thái so sánh kết hợp cập nhật hệ thống phát sinh loài phân tử; sinh thái học cá thể và quần xã động vật (phân tích sự phân bố theo sinh cảnh, đai độ cao); địa lý sinh vật học (phân tích mức độ tương đồng khu hệ theo không gian địa lý); và sinh học bảo tồn (đánh giá mức độ bị đe dọa, tính đặc hữu và xác định vùng ưu tiên bảo tồn).
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Nghiên cứu áp dụng quy trình kết hợp giữa khảo sát thực địa, phân tích mẫu vật trong phòng thí nghiệm và xử lý số liệu thống kê sinh học:
[Đánh giá hiện trạng bảo tồn (IUCN, Sách Đỏ, NĐ 160/2013)]
[Phân tích thống kê & Chỉ số Sorensen-Dice (PAST, Excel)]
1. Khảo sát thực địa và thu thập mẫu vật
- Thiết lập tuyến: Tại mỗi điểm khảo sát thiết lập 2–4 tuyến điều tra, chiều dài 1–1,5 km/tuyến. Tuyến bám dọc khe suối, đường mòn và mở rộng 10 m sang hai bên theo dạng xương cá.
- Thời gian thu mẫu: Nhóm lưỡng cư khảo sát ban đêm từ 18h00 đến 24h00. Nhóm bò sát khảo sát ban ngày từ 7h00 đến 17h00 (kết hợp quan sát ban đêm đối với các loài rắn ăn đêm).
- Kỹ thuật bắt và xử lý mẫu: Bắt bằng tay, vợt hoặc cần câu mồi tẩm thuốc đối với lưỡng cư, thằn lằn và rắn nhỏ không độc; dùng gậy móc chuyên dụng đối với rắn độc và rắn kích thước lớn. Gây mê bằng bông thấm ethylacetate trong bình kín; lấy mẫu mô cơ/gan bảo quản trong cồn 95% để phân tích DNA; cố định mẫu bằng cồn 80–90% (4–10 giờ) hoặc formalin 10% (2–5 giờ); bảo quản lâu dài trong cồn 70%.
- Điều tra xã hội học: Thực hiện 40 phiếu phỏng vấn trực tiếp người dân địa phương thường xuyên đi rừng kết hợp sử dụng bộ ảnh màu nhận dạng.
2. Phân tích hình thái trong phòng thí nghiệm
Mẫu vật được phân tích tại phòng thí nghiệm Trường Đại học Phú Yên (ký hiệu PYU) bằng thước kẹp điện tử có độ chính xác 0,1 mm theo các bộ chỉ tiêu chuẩn:
- Lưỡng cư: Đo 20 chỉ tiêu hình thái cơ bản (SVL, HL, HW, SL, SND, END, ED, UEW, IOD, IND, TD, TYE, FHL, HAL, FL1-4, FeL, TbL, FL, OMTL, IMTL) và công thức màng bơi theo Glaw & Vences (2007); lưỡng cư không chân theo Nishikawa et al. (2012).
- Thằn lằn: Phân tích vảy và kích thước theo Darevsky & Kupriyanova (1993), Brown et al. (1997), Nguyen et al. (2013, 2015), Ziegler et al. (2016).
- Rắn: Phân tích vảy và hình thái theo Nguyễn Văn Sáng (2007) gồm chiều dài thân (SVL), chiều dài đuôi (TAL), số hàng vảy thân (ASR, MSR, PSR), vảy bụng (VEN), vảy dưới đuôi (SC), vảy hậu môn (CL), vảy môi trên (SL), vảy môi dưới (IL), vảy má (LR), vảy trước ổ mắt (PreOc), vảy sau ổ mắt (PostOc), vảy thái dương (T), số băng thân (BB) và băng đuôi (TB).
- Rùa: Đo trọng lượng (P), chiều dài mai (SCL), chiều cao mai (CH), chiều rộng mai (CW), chiều dài yếm (PL), chiều dài đuôi (TaL).
3. Định loại và hệ thống hóa
Sử dụng các khóa định loại và tài liệu chuyên khảo của Bourret (1936, 1941, 1942), Smith (1935, 1943), Taylor (1962, 1963), Đào Văn Tiến (1977, 1978, 1979, 1981, 1982), Nguyễn Văn Sáng (2007), Stuart et al. (2001), Vassilieva et al. (2016). So sánh đối chiếu trực tiếp với các bộ mẫu chuẩn tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (VAST). Danh pháp và hệ thống phân loại cập nhật theo Frost (2016) đối với Lưỡng cư và Uetz & Hošek (2016) đối với Bò sát.
4. Đánh giá bảo tồn và xử lý thống kê
- Tình trạng bảo tồn được tra cứu theo: Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ IUCN (2016), Nghị định 32/2006/NĐ-CP, Nghị định 160/2013/NĐ-CP và Phụ lục CITES (2017).
- Xử lý số liệu và phân tích đa dạng bằng phần mềm MS-Excel 2010 và PAST Statistics (Hammer et al., 2001).
- Đánh giá mức độ tương đồng khu hệ bằng chỉ số Sorensen-Dice:
$$d_{jk} = \frac{2M}{2M + N}$$
Trong đó $d_{jk}$ là hệ số tương đồng giữa hai vùng $j$ và $k$; $M$ là số loài chung; $N$ là tổng số loài chỉ có ở một trong hai vùng. Thuật toán phân nhóm lặp lại 1.000 lần (bootstrap).
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- 335 mẫu vật thực tế thu được (130 mẫu lưỡng cư, 205 mẫu bò sát).
- 8.352 bức ảnh chụp tiêu bản và sinh cảnh ngoài thực địa.
- 40 phiếu điều tra phỏng vấn người dân.
- Hệ thống bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng và thảm thực vật từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Phú Yên.
Nội dung chính theo từng chương
Sơ lược tình hình nghiên cứu về lưỡng cư, bò sát và Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Phú Yên
Chương này tổng kết toàn diện lịch sử nghiên cứu lưỡng cư - bò sát tại Việt Nam từ thời kỳ phong kiến đến năm 2016; làm rõ những biến động về số lượng loài qua các công trình công bố toàn quốc.
Về điều kiện tự nhiên, Phú Yên có địa hình đồi núi xen kẽ đồng bằng, độ cao phổ biến từ 300–600 m, đỉnh cao trên 1.000 m tập trung tại ranh giới phía Tây và Tây Nam (Đồng Xuân, Tây Hòa, Sông Hinh) với các đỉnh La Hiêng (1.318 m), Chư Treng (1.238 m), Hòn Kỳ Đà (1.193 m). Tỉnh có hệ thống thủy văn dày đặc với 3 sông chính: sông Ba (sông Đà Rằng), sông Kỳ Lộ (sông Cái) và sông Bàn Thạch (sông Bánh Lái), tổng lưu vực 16.400 km², lưu lượng 11,8 tỷ m³. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình 26,6°C (đồng bằng) và 26,0°C (miền núi), lượng mưa trung bình 1.980 mm. Thảm thực vật có 2 kiểu tự nhiên chính: rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới (chiếm 96,5% diện tích rừng tự nhiên) và rừng rụng lá/khộp (chiếm 3,5%).
Về kinh tế - xã hội, dân số năm 2015 là 893.383 người (nông thôn chiếm 636.655 người, mật độ 178 người/km²). Thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn thấp (khoảng 1.200.000 đồng/tháng/người), tạo áp lực khai thác tài nguyên rừng rất lớn.
Thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết 12 điểm khảo sát thực địa tại 8 đơn vị hành chính cấp huyện/thị xã/thành phố trong 30 đợt (125 ngày điều tra). Mô tả chi tiết 5 dạng sinh cảnh nghiên cứu:
- S1: Rừng thường xanh ít bị tác động.
- S2: Rừng thứ sinh đang phục hồi.
- S3: Rừng trồng và nương rẫy.
- S4: Đất canh tác nông nghiệp và khu dân cư.
- S5: Khu vực ven biển, bãi cát có cây bụi và cỏ.
Quy chuẩn hóa toàn bộ phương pháp định lượng hình thái, kỹ thuật thu mẫu, xử lý mẫu mô học và công thức tính toán chỉ số tương đồng Sorensen-Dice cùng hệ thống chấm điểm phân vùng bảo tồn.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này trình bày toàn bộ các phát hiện khoa học cốt lõi của luận án:
| Bậc phân loại |
Lớp Lưỡng cư (Amphibia) |
Lớp Bò sát (Reptilia) |
Tổng cộng toàn khu hệ |
| Số bộ |
2 |
3 |
5 |
| Số họ |
7 |
18 |
25 |
| Số giống |
17 |
68 |
85 |
| Số loài |
38 |
97 |
135 |
Cơ cấu chi tiết theo mẫu: Thu được mẫu vật thực tế của 122 loài; ghi nhận qua quan sát và chụp ảnh 3 loài (Varanus nebulosus, Python molurus, Mauremys annamensis); kế thừa từ các công trình trước có dẫn liệu chuẩn 10 loài.
1. Các phát hiện mới và bổ sung khu hệ
- Ghi nhận mới cho khu hệ Việt Nam: Bổ sung 01 loài rắn là Rắn khuyết ca-da-mon (Lycodon cardamomensis Daltry & Wüster, 2002), thu được mẫu tại xã Phú Mỡ, huyện Đồng Xuân.
- Ghi nhận bổ sung cho khu vực Nam Trung Bộ: 24 loài (gồm 7 loài lưỡng cư và 17 loài bò sát).
- Ghi nhận bổ sung cho tỉnh Phú Yên: 63 loài thuộc 28 giống và 1 họ mới.
- Ghi nhận lại: Xác nhận sự hiện diện thực tế của 60 loài từng được công bố trong quá khứ.
- Loài chưa định tên: Phát hiện 02 dạng loài chưa xác định rõ tên khoa học (Leptobrachium sp. và Cyrtodactylus sp.), cần tiếp tục phân tích sâu về sinh học phân tử.
2. Cập nhật và tu chỉnh phân loại học
Luận án áp dụng hệ thống phân loại mới, tách các phân họ rắn trước đây thuộc họ Colubridae thành các họ độc lập: Natricidae, Pareatidae, Lamprophiidae, Pseudoxenodontidae (theo Zaher et al., 2009; Pyron et al., 2013). Chuyển đổi tên giống cho nhiều loài: tách chi Amphiesma sang Hebius; chuyển một số loài từ Hylarana sang Sylvirana; chuyển Xenophrys sang Megophrys; đổi Python reticulatus thành Malayopython reticulatus; và đổi Enhydris plumbea thành Hypsiscopus plumbea.
3. Đặc điểm phân bố sinh thái và địa lý động vật
- Phân bố theo độ cao: Số lượng loài tập trung phong phú nhất ở đai độ cao dưới 300 m và giảm dần khi lên các đai độ cao trên 600 m và trên 1.000 m.
- Phân bố theo sinh cảnh: Sinh cảnh rừng thứ sinh đang phục hồi (S2) và rừng thường xanh ít bị tác động (S1) có mức độ phong phú loài cao nhất; thấp nhất ở sinh cảnh vùng ven biển, bãi cát cây bụi (S5).
- Phân tích tương đồng khu hệ (Sorensen-Dice):
- So sánh giữa phía Nam đèo Cù Mông (Phú Yên: 135 loài) và phía Bắc đèo Cù Mông (Bình Định: 111 loài) cho thấy chỉ số tương đồng đạt mức cao, chứng minh đèo Cù Mông không phải là ranh giới cô lập địa lý động vật triệt để mà tạo nên một vùng chuyển tiếp sinh thái liên tục.
- So sánh với các tỉnh Nam Trung Bộ (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận), khu hệ Phú Yên có quan hệ mật thiết nhất với khu hệ tỉnh Bình Định và tỉnh Khánh Hòa.
4. Giá trị bảo tồn và các mối đe dọa
- Loài có giá trị bảo tồn cao: Xác định danh mục các loài quý hiếm, nguy cấp:
- Có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007): Ghi nhận nhiều loài nguy cấp bậc EN và VU (như Cuora picturata, Mauremys annamensis, Ophiophagus hannah, Python molurus...).
- Có tên trong Danh lục Đỏ IUCN (2016): Nhiều loài thuộc diện Cực kỳ nguy cấp (CR), Nguy cấp (EN) và Sắp nguy cấp (VU).
- Nghị định 32/2006/NĐ-CP và Nghị định 160/2013/NĐ-CP: Nhiều loài thuộc nhóm IB và IIB (như Rồng đất Physignathus cocincinus, Kỳ đà hoa Varanus salvator, Trăn gấm Malayopython reticulatus, các loài Rùa hộp Cuora spp.).
- Loài đặc hữu: Ghi nhận nhiều loài đặc hữu cho Việt Nam và vùng Đông Dương (Ichthyophis nguyenorum, Cyrtodactylus kingsadai, Dixonius minhlei, Gekko truongi, Calotes bachae, Oligodon cattienensis...).
- Các nhân tố đe dọa:
- Suy thoái và chia cắt sinh cảnh do phá rừng làm nương rẫy, khai thác gỗ, trồng rừng kinh tế (keo).
- Săn bắt và buôn bán trái phép phục vụ thương mại ẩm thực, ngâm rượu thuốc, lấy da và nuôi sinh vật cảnh.
- Ô nhiễm môi trường nông nghiệp do sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước và bãi đẻ của lưỡng cư.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận
- Xây dựng danh lục cập nhật đầy đủ và chuẩn hóa nhất cho khu hệ lưỡng cư và bò sát vùng phía Nam đèo Cù Mông, tỉnh Phú Yên với 135 loài (38 loài lưỡng cư, 97 loài bò sát) thuộc 85 giống, 25 họ, 5 bộ.
- Ghi nhận bổ sung lần đầu tiên cho khu hệ bò sát Việt Nam 01 loài rắn: Lycodon cardamomensis (Rắn khuyết ca-da-mon).
- Ghi nhận bổ sung 24 loài cho khu hệ khu vực Nam Trung Bộ (7 loài lưỡng cư, 17 loài bò sát).
- Ghi nhận bổ sung 63 loài, 28 giống và 1 họ mới cho tỉnh Phú Yên; đồng thời cung cấp đầy đủ dữ liệu đo đạc hình thái cho 63 loài mới bổ sung và 2 loài chưa định tên (Leptobrachium sp., Cyrtodactylus sp.).
- Làm sáng tỏ cấu trúc phân bố theo không gian (huyện/thị), đai độ cao và 5 dạng sinh cảnh; cung cấp căn cứ định lượng (chỉ số Sorensen-Dice với 1.000 lần lặp) chứng minh mối quan hệ địa lý động vật học chặt chẽ giữa khu hệ phía Nam đèo Cù Mông (Phú Yên) với phía Bắc đèo Cù Mông (Bình Định) và các tỉnh Nam Trung Bộ.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Xác định chính xác danh mục các loài đặc hữu, nguy cấp, quý hiếm làm căn cứ pháp lý cho Chi cục Kiểm lâm và các cơ quan quản lý tài nguyên tỉnh Phú Yên xây dựng quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học.
- Thiết lập thang điểm đánh giá các vùng ưu tiên bảo tồn, xác định các tọa độ trọng điểm (như vùng rừng giáp ranh huyện Sông Hinh, Đồng Xuân, Tây Hòa và Khu BTTN Krông Trai) cần được ưu tiên khoanh nuôi, giám sát nghiêm ngặt.
- Đề xuất các giải pháp bảo tồn đồng bộ:
- Bảo tồn tại chỗ (In-situ): Bảo vệ nguyên vẹn các sinh cảnh rừng tự nhiên S1 và S2, phục hồi các hành lang sinh thái suối.
- Quản lý khai thác: Tăng cường kiểm soát nạn buôn bán, săn bắt trái phép các loài có giá trị thương mại cao; xử lý nghiêm các vi phạm theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP.
- Bảo tồn chuyển chỗ và phát triển kinh tế (Ex-situ): Xây dựng mô hình nhân nuôi sinh sản thương mại đối với một số loài bò sát thông thường có giá trị kinh tế để giảm áp lực săn bắt tự nhiên và tăng thu nhập cho cộng đồng.
- Nâng cao nhận thức: Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục môi trường cho người dân vùng đệm các xã miền núi.
- Xây dựng và lưu trữ bộ mẫu chuẩn gồm 335 mẫu vật có giá trị tại phòng thí nghiệm Trường Đại học Phú Yên và Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Địa bàn khảo sát chưa bao phủ toàn bộ diện tích rừng trên đỉnh các dãy núi cao trên 1.000 m ở vùng giáp ranh Gia Lai, Đắk Lắk do điều kiện địa hình chia cắt phức tạp.
- Còn 02 đơn vị phân loại (Leptobrachium sp. và Cyrtodactylus sp.) cùng một số mẫu vật chưa xác định được chính xác tên loài do chưa hoàn thiện phân tích giải trình tự gen sinh học phân tử chuyên sâu.
- Một số loài quý hiếm chỉ mới ghi nhận qua ảnh chụp hoặc tư liệu kế thừa mà chưa thu được mẫu vật tươi.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiến hành phân tích sinh học phân tử (DNA barcoding, giải trình tự gen ty thể và nhân) kết hợp phân tích âm sinh học (acoustic analysis) đối với các phức hợp loài khó phân loại (Leptobrachium, Cyrtodactylus, Limnonectes).
- Mở rộng khảo sát vào các đợt thời tiết khắc nghiệt, mùa khô hạn đặc trưng của Nam Trung Bộ và các khu vực đỉnh núi cao hiểm trở giáp ranh Tây Nguyên.
- Nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm sinh thái cá thể, sinh học sinh sản và cấu trúc quần thể của các loài đặc hữu nguy cấp (như Gekko truongi, Dixonius minhlei, Cuora picturata).
Giá trị tham khảo
- Đối với các nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Động vật học, Sinh thái học: Cung cấp tài liệu tra cứu chuẩn xác về số liệu hình thái học chi tiết (bảng đo đạc các chỉ tiêu, công thức vảy rắn, công thức màng bơi ếch nhái), khóa phân loại cập nhật và hệ thống danh mục phân loại học mới nhất theo Frost (2016) và Uetz & Hošek (2016).
- Đối với các trường đại học và cơ sở đào tạo (đặc biệt là Trường Đại học Phú Yên và Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế): Cung cấp tư liệu thực tế và bộ mẫu vật đối chứng trực tiếp phục vụ giảng dạy các học phần Động vật học có xương sống, Đa dạng sinh học và Quản lý tài nguyên sinh vật.
- Đối với các nhà quản lý, Chi cục Kiểm lâm, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Yên: Cung cấp cơ sở khoa học và bản đồ phân vùng các điểm ưu tiên bảo tồn, danh mục loài cần bảo vệ nghiêm ngặt để xây dựng kế hoạch hành động bảo tồn đa dạng sinh học cấp tỉnh và quy hoạch các khu bảo tồn thiên nhiên mới.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đã ghi nhận tổng cộng bao nhiêu loài lưỡng cư và bò sát tại tỉnh Phú Yên?
Luận án đã ghi nhận tổng cộng 135 loài thuộc 85 giống, 25 họ, 5 bộ. Trong đó có 38 loài lưỡng cư (thuộc 2 bộ, 7 họ, 17 giống) và 97 loài bò sát (thuộc 3 bộ, 18 họ, 68 giống).
2. Phát hiện mới nổi bật nhất cho khu hệ động vật Việt Nam trong luận án là gì?
Luận án lần đầu tiên ghi nhận bổ sung loài Rắn khuyết ca-da-mon (Lycodon cardamomensis Daltry & Wüster, 2002) cho khu hệ bò sát của Việt Nam, với mẫu vật thu thập được tại xã Phú Mỡ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.
3. Có bao nhiêu loài được ghi nhận bổ sung cho tỉnh Phú Yên và khu vực Nam Trung Bộ?
- Ghi nhận bổ sung cho tỉnh Phú Yên: 63 loài, 28 giống và 1 họ mới.
- Ghi nhận bổ sung cho khu vực Nam Trung Bộ: 24 loài (gồm 7 loài lưỡng cư và 17 loài bò sát).
4. Dữ liệu thực tế phục vụ cho các phân tích của luận án gồm những gì?
Tác giả đã thu thập và xử lý tổng cộng 335 mẫu vật (130 mẫu lưỡng cư và 205 mẫu bò sát), chụp 8.352 bức ảnh thực địa và thực hiện 40 phiếu điều tra phỏng vấn người dân địa phương tại 12 điểm khảo sát trong 30 đợt thực địa (125 ngày).
5. Kết quả phân tích mức độ tương đồng khu hệ (Sorensen-Dice) chỉ ra điều gì về ranh giới đèo Cù Mông?
Phân tích hệ số tương đồng Sorensen-Dice (với 1.000 lần lặp bootstrap) cho thấy khu hệ lưỡng cư - bò sát phía Nam đèo Cù Mông (Phú Yên) có độ tương đồng rất cao với phía Bắc đèo Cù Mông (Bình Định) và tỉnh Khánh Hòa, chứng minh dãy đèo Cù Mông không tạo ra sự ngăn cách hay cô lập sâu sắc về mặt địa lý động vật học mà là dải sinh cảnh chuyển tiếp sinh thái liên tục của khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Đỗ Trọng Đăng đã hoàn thành việc khảo sát, thống kê và đánh giá toàn diện khu hệ lưỡng cư và bò sát vùng phía Nam đèo Cù Mông, tỉnh Phú Yên với danh lục cập nhật gồm 135 loài. Công trình đã đóng góp 01 ghi nhận loài mới cho Việt Nam (Lycodon cardamomensis), 24 loài cho Nam Trung Bộ và 63 loài cho tỉnh Phú Yên, kèm theo các dẫn liệu hình thái và sinh thái học định lượng. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ quy luật phân bố theo độ cao, sinh cảnh và mức độ tương đồng địa lý động vật học của vùng chuyển tiếp sinh thái duyên hải Nam Trung Bộ. Đây là cơ sở khoa học quan trọng và có giá trị thực tiễn cao, phục vụ trực tiếp cho công tác quy hoạch, quản lý tài nguyên sinh vật và bảo tồn đa dạng sinh học tại tỉnh Phú Yên.