Tổng quan nghiên cứu

Họ Kiến (Formicidae) thuộc bộ Cánh màng (Hymenoptera) là một trong những nhóm côn trùng xã hội chiếm ưu thế sinh thái vượt trội tại các vùng rừng nhiệt đới. Dù chỉ chiếm khoảng 1,5% tổng số loài côn trùng đã biết, kiến lại đóng góp hơn 10% tổng sinh khối động vật tại các hệ sinh thái rừng tự nhiên. Tại khu vực Đông Dương và Việt Nam, các dẫn liệu về phân loại học kiến còn nhiều khoảng trống, đặc biệt tại các khu rừng nhiệt đới núi cao có tính chia cắt địa hình mạnh mẽ.

Nghiên cứu được triển khai tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Hòn Bà, tỉnh Khánh Hòa – khu vực được thành lập theo Quyết định số 98/QĐ-UBND ngày 15/12/2005 của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Địa bàn nghiên cứu có tổng diện tích 20.978 ha, đỉnh núi cao 1574 m so với mực nước biển, tọa độ địa lý trải dài từ 12°01’45" đến 12°12’00" vĩ Bắc và 108°54’04" đến 109°05’00" kinh Đông. Đề tài tập trung giải quyết 3 mục tiêu trọng tâm: khảo sát thành phần phân loại các phân họ và giống kiến; phân tích sự phân bố của các giống kiến theo nhóm chức năng sinh thái; và đánh giá sự biến động thành phần loài theo 4 đai độ cao từ 372 m đến 1564 m.

Giai đoạn điều tra thực địa được thực hiện từ tháng 03/2013 đến tháng 12/2015. Kết quả ghi nhận 79 loài thuộc 39 giống và 11 phân họ kiến. Dữ liệu này không chỉ bổ sung cơ sở khoa học quan trọng cho hệ thống phân loại học côn trùng Việt Nam mà còn cung cấp chỉ số sinh học định lượng phục vụ công tác giám sát diễn thế sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học tại vùng Nam Trung Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống phân loại học côn trùng hiện đại bắt nguồn từ nền tảng của Emery và Wheeler, kết hợp với các cải tiến căn bản của Brown và hệ thống chia nhánh của Bolton. Khung định loại phân họ và giống kiến dựa trên các đặc điểm hình thái chuẩn hóa của Eguchi cùng các cộng sự tại khu vực Đông Nam Á.

Bên cạnh lý thuyết phân loại học hình thái, đề tài áp dụng mô hình phân chia nhóm chức năng kiến của William và Brown. Mô hình này phân loại các giống kiến thành 5 nhóm sinh thái: nhóm chuyên gia khí hậu nhiệt đới, nhóm chuyên hoạt động ngầm, nhóm chuyên bắt mồi ăn thịt, nhóm cơ hội và nhóm kiến phổ thông.

Các khái niệm trọng tâm xuyên suốt nghiên cứu bao gồm: cấu trúc đốt eo (petiole và postpetiole), tấm lưng đốt bụng thứ bảy (pygidium), tấm bụng đốt bụng thứ bảy (hypopygium), lỗ chứa axit đặc trưng ở phân họ Formicinae và vai trò sinh thái của kiến như sinh vật chỉ thị chất lượng môi trường đất và thảm mục.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thiết lập tuyến khảo sát dọc theo trục đường chính từ chân núi lên đỉnh Hòn Bà, chia thành 4 đai độ cao tiêu biểu: 372-410 m (rừng phục hồi chịu tác động), 740-800 m (rừng thứ sinh ít tác động), 913-1038 m (địa hình dốc, thảm thực vật thưa) và 1505-1564 m (rừng thường xanh á nhiệt đới nguyên sinh).

Cỡ mẫu và quy trình thu mẫu thực địa kết hợp 2 phương pháp chuẩn:

  • Thu thập thủ công: Sử dụng khay nhựa kích thước 30x40 cm và lưới kim loại mắt 5x5 mm để sàng lọc các lớp đất thảm mục, dùng panh và ống hút bắt sống mẫu cho vào ống nghiệm chứa cồn 80%.
  • Thu thập bằng bẫy hố đào: Đặt hệ thống 20 ống nhựa dài 15 cm, đáy nhọn, có đục 2 hàng lỗ đường kính 3 mm, chôn sâu 20 cm dưới mặt đất, cách đều nhau 1 m. Mỗi bẫy đặt 5 gram mồi xúc xích giàu protein, thu mẫu sau 24 giờ liên tục.

Phương pháp xử lý phòng thí nghiệm bao gồm kỹ thuật tạo tiêu bản khô, định danh hình thái thông qua kính lúp soi nổi Nikon AZ100 và chụp ảnh vi cấu trúc bằng máy ảnh kỹ thuật số Nikon Coolpix 8400. Toàn bộ mẫu vật được đối chiếu với bộ mẫu chuẩn tại Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam và xử lý số liệu định lượng bằng phần mềm Excel. Việc kết hợp bẫy đào và rây thảm mục bảo đảm thu thập triệt để cả nhóm kiến hoạt động trên bề mặt lẫn nhóm sống ngầm trong cấu trúc đất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Tổng số mẫu thu thập đã xác định được 79 loài kiến thuộc 39 giống và 11 phân họ tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Hòn Bà. Trong đó, 64 loài đã được định danh chính xác đến tên khoa học và 15 loài được ghi nhận ở dạng phân loại chưa định danh loài cụ thể.

Cấu trúc phân loại thể hiện sự chiếm ưu thế rõ rệt của một số nhóm chính:

  • Phân họ Myrmicinae phong phú nhất với 36 loài thuộc 16 giống, chiếm 45,6% tổng số loài và 41,0% tổng số giống.
  • Phân họ Ponerinae đứng thứ hai với 17 loài thuộc 9 giống, chiếm 21,5% tổng số loài và 23,1% tổng số giống.
  • Phân họ Formicinae ghi nhận 7 loài thuộc 4 giống, chiếm 8,9% tổng số loài.
  • Phân họ Dolichoderinae đạt 5 loài thuộc 2 giống, chiếm 6,3% tổng số loài.
  • Các phân họ còn lại như Aenictinae, Cerapachyinae, Proceratiinae mỗi phân họ có 3 loài; Leptanillinae có 2 loài; Amblyoponinae, Dorylinae và Ectatomminae mỗi phân họ chỉ ghi nhận 1 loài.

Xét về cấp giống, giống Pheidole sở hữu độ phong phú lớn nhất với 11 loài (chiếm 13,9% tổng số loài), tiếp theo là giống Leptogenys với 7 loài (8,9%), Tetramorium với 5 loài (6,3%) và Technomyrmex với 4 loài (5,1%).

Sự phân bố theo độ cao cho thấy đai 1505-1564 m đạt số lượng loài cao nhất với 29 loài (36,7%) thuộc 18 giống. Đai 740-800 m bám sát với 28 loài (35,4%) thuộc 23 giống. Đai 913-1038 m giảm xuống còn 19 loài (24,0%) thuộc 15 giống và đai thấp 372-410 m ghi nhận thấp nhất với 17 loài (21,5%) thuộc 12 giống.

Phân tích 5 nhóm chức năng sinh thái cho thấy nhóm chuyên gia khí hậu nhiệt đới chiếm tỷ lệ giống cao nhất với 13 giống (32,5%), nhóm chuyên hoạt động ngầm gồm 11 giống (27,5%), nhóm cơ hội gồm 7 giống (17,5%), nhóm chuyên bắt mồi ăn thịt gồm 6 giống (15,0%) và nhóm kiến phổ thông có 3 giống (7,5%) nhưng đóng góp tới 28 loài.

Thảo luận kết quả

Thành phần phân loại tại Hòn Bà đại diện cho 91,7% tổng số 12 phân họ và 42,4% tổng số 92 giống kiến đã được ghi nhận trên toàn lãnh thổ Việt Nam, chỉ thiếu vắng đại diện của phân họ Pseudomyrmecinae.

Khi so sánh với khu hệ kiến tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu nằm cách 360 km về phía Nam, sự tương đồng thể hiện ở việc phân họ Myrmicinae luôn chiếm ưu thế vượt trội (tại Bình Châu – Phước Bửu chiếm 35,0% số loài và 32,5% số giống) và Ponerinae giữ vị trí thứ hai (23,8% số loài và 20,9% số giống). Tuy nhiên, Hòn Bà có độ đa dạng về giống cao hơn hẳn và có sự hiện diện của các nhóm cổ sơ, chuyên hóa hẹp như Leptanillinae và Proceratiinae.

Sự biến thiên số lượng loài theo độ cao phản ánh rõ nét tính chất sinh cảnh và tác động nhân vi sinh. Đai độ cao trên 1500 m có khí hậu á nhiệt đới mát mẻ quanh năm, độ ẩm cao và lớp thảm mục dày, tạo điều kiện thuận lợi cho các loài chuyên hoạt động ngầm và bắt mồi phát triển. Đai 913-1038 m có độ dốc lớn khiến lớp đất mặt bị xói mòn, thảm thực vật nghèo nàn hơn nên số loài suy giảm. Trong khi đó, đai 372-410 m chịu áp lực mạnh mẽ từ các hoạt động canh tác và trồng rừng phục hồi, làm suy giảm vi sinh cảnh của các giống kiến chuyên hóa.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột thể hiện tương quan số lượng loài và giống giữa 4 đai độ cao, kết hợp cùng biểu đồ tròn phân chia tỷ lệ phần trăm giữa 5 nhóm chức năng sinh thái, giúp minh chứng trực quan cho sự phân hóa sinh cảnh tại khu vực núi cao Nam Trung Bộ.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Ban Quản lý Khu Bảo tồn Thiên nhiên Hòn Bà cần thiết lập phương án bảo vệ nghiêm ngặt đối với 10.448 ha phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, đặc biệt là sinh cảnh rừng thường xanh á nhiệt đới ở đai độ cao trên 1500 m. Mục tiêu duy trì nguyên vẹn 100% diện tích thảm mục tự nhiên nhằm bảo tồn 29 loài kiến bản địa và các phân họ hiếm trong giai đoạn 2026-2030.
  2. Chi cục Kiểm lâm tỉnh Khánh Hòa cần phối hợp với các cơ quan chuyên môn đưa chỉ số đa dạng thành phần loài kiến (Formicidae) vào chương trình quan trắc sinh học định kỳ 6 tháng một lần. Việc theo dõi tỷ lệ xuất hiện của nhóm kiến hoạt động ngầm sẽ giúp đánh giá chính xác mức độ phục hồi tầng đất mặt tại các khu vực rừng trồng ở đai thấp 372-410 m.
  3. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Khánh Hòa cùng Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật cần chủ trì xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa và bản đồ phân bố không gian cho 79 loài kiến tại Hòn Bà trong vòng 18 tháng, làm tài liệu tham chiếu phục vụ công tác quy hoạch phát triển lâm nghiệp bền vững.
  4. Các đơn vị nghiên cứu côn trùng học cần mở rộng thu mẫu bổ sung bằng bẫy ánh sáng và bẫy hố bả cải tiến, đồng thời áp dụng phương pháp sinh học phân tử giải trình tự DNA mã vạch để giám định hoàn chỉnh 15 loài kiến chưa định danh tên khoa học trong vòng 24 tháng tới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Các nhà khoa học, nghiên cứu viên chuyên ngành Côn trùng học và Động vật học: Luận văn cung cấp khóa phân loại hình thái chi tiết 11 phân họ kiến, bộ mô tả giải phẫu các đốt bụng, cuống eo, lỗ axit và danh lục 79 loài làm chuẩn đối sánh cho các nghiên cứu phân loại khu hệ sinh vật Đông Dương.
  • Ban Quản lý các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên: Áp dụng trực tiếp phương pháp phân tích 5 nhóm chức năng sinh thái kiến làm công cụ chỉ thị sinh học để theo dõi tác động của biến đổi khí hậu và can thiệp nhân tác lên hệ sinh thái rừng.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các ngành Sinh học, Sinh thái học, Quản lý tài nguyên rừng: Sử dụng luận văn làm tài liệu học thuật tham khảo về phương pháp thiết kế tuyến điều tra thực địa, kỹ thuật thu mẫu bằng bẫy hố đào đất và quy trình làm tiêu bản côn trùng chuẩn quốc tế.
  • Chuyên viên hoạch định chính sách bảo tồn thiên nhiên và môi trường tại các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Khai thác các dữ liệu phân bố loài theo đai cao để xây dựng tiêu chí phân vùng bảo vệ nghiêm ngặt và phân khu phục hồi sinh thái.

Câu hỏi thường gặp

Họ Kiến Formicidae có vai trò gì trong việc đánh giá chất lượng hệ sinh thái tại Hòn Bà?
Kiến chiếm hơn 10% tổng sinh khối động vật rừng nhiệt đới và có độ nhạy cảm cao với vi khí hậu. Việc ghi nhận 11 phân họ với 32,5% giống thuộc nhóm chuyên gia khí hậu nhiệt đới phản ánh hệ sinh thái rừng Hòn Bà có độ che phủ tốt và tầng thảm mục giàu dinh dưỡng.

Phân họ kiến nào chiếm ưu thế tuyệt đối về thành phần loài tại khu bảo tồn?
Phân họ Myrmicinae chiếm ưu thế tuyệt đối với 36 loài thuộc 16 giống, chiếm 45,6% tổng số loài và 41,0% tổng số giống ghi nhận. Trong đó, giống Pheidole thuộc phân họ này là giống đa dạng nhất với 11 loài phân bố ở hầu hết các đai độ cao.

Vì sao đai độ cao trên 1500 m lại có số lượng loài kiến cao nhất?
Đai độ cao 1505-1564 m sở hữu khí hậu mát mẻ, độ ẩm quanh năm cao cùng kiểu rừng thường xanh á nhiệt đới ít bị con người tác động. Tầng thảm mục dày tại đây tạo nơi cư trú lý tưởng cho 29 loài kiến thuộc 18 giống sinh sống.

Phương pháp thu thập nào đạt hiệu quả cao nhất với các loài kiến hoạt động ngầm?
Phương pháp bẫy hố đào sử dụng ống nhựa 15 cm có đục lỗ chôn sâu 20 cm kết hợp mồi xúc xích giàu protein và kỹ thuật sàng đất thảm mục qua lưới 5x5 mm giúp thu bắt hiệu quả 11 giống thuộc nhóm kiến chuyên hoạt động ngầm.

Luận văn đóng góp gì mới cho cơ sở dữ liệu phân loại học kiến Việt Nam?
Nghiên cứu đã xây dựng khóa định loại hình thái hoàn chỉnh cho 11 phân họ kiến dựa trên hình thái kiến thợ, đồng thời ghi nhận các phân họ hiếm như Leptanillinae, Proceratiinae và Amblyoponinae tại vùng Nam Trung Bộ.

Kết luận

  • Đề tài đã điều tra toàn diện và xác lập danh lục 79 loài kiến thuộc 39 giống, 11 phân họ tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Hòn Bà, tỉnh Khánh Hòa.
  • Xác định phân họ Myrmicinae (36 loài) và Ponerinae (17 loài) là hai nhóm giữ vai trò ưu thế cốt lõi trong cấu trúc quần xã côn trùng đất tại khu bảo tồn.
  • Chứng minh quy luật phân hóa đa dạng theo độ cao, trong đó đai trên 1500 m và đai 740-800 m duy trì độ phong phú cao nhất với tỷ lệ loài lần lượt là 36,7% và 35,4%.
  • Phân loại thành công 5 nhóm chức năng sinh thái kiến, khẳng định vị trí ưu thế của nhóm chuyên gia khí hậu nhiệt đới (32,5% số giống) và nhóm hoạt động ngầm (27,5% số giống).
  • Xây dựng hoàn chỉnh khóa định loại hình thái đến cấp phân họ kèm các dẫn liệu chi tiết về giải phẫu học cơ thể kiến thợ phục vụ nghiên cứu lâm sinh.

Công trình là tiền đề khoa học quan trọng phục vụ công tác giám sát sinh thái dài hạn. Các cơ quan quản lý và viện nghiên cứu cần tiếp tục phối hợp mở rộng giám định phân tử đối với các taxon chưa định danh trong giai đoạn 2026-2028 nhằm hoàn thiện bức tranh đa dạng sinh thái côn trùng Việt Nam.