Đa dạng kiến (Insecta: Hymenoptera: Formicidae) ở khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, Khánh Hòa

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hay một số dẫn liệu về đa dạng kiến insecta hymenoptera formicidae ở khu bảo tồn thiên nhiên hòn bà, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Trường đại học

Viện Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Vật

Chuyên ngành

Động vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2015

63
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

DANH LỤC CÁC TỪ, THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

DANH LỤC HÌNH

DANH LỤC BẢNG

MỞ ĐẦU

0.1. Mục tiêu của đề tài

0.2. Nội dung của đề tài

0.3. Ý nghĩa của đề tài

1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Vai trò quan trọng của kiến

1.2. Tình hình nghiên cứu kiến trên thế giới

1.3. Tình hình nghiên cứu kiến ở Việt Nam

2. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.2. Thời gian nghiên cứu

2.1.3. Địa điểm nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Nghiên cứu thực địa

2.2.2. Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

2.2.3. Phương pháp xử lý số liệu

2.3. Hình thái ngoài của kiến

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đa dạng thành phần loài và giống kiến tại KBTTN Hòn Bà

3.2. Đa dạng thành phần loài và giống kiến tại các khu vực độ cao

3.3. Phân bố của các giống kiến theo các nhóm chức năng

3.4. Khóa phân loại và đặc điểm hình thái của các phân họ kiến tại KBTTN Hòn Bà

3.4.1. Khóa phân loại các phân họ kiến tại KBTTN Hòn Bà

3.4.2. Một số đặc điểm hình thái của các phân họ kiến ở KBTTN Hòn Bà

4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

appendix.1. Tài liệu tiếng Việt

appendix.2. Tài liệu tiếng Anh

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu đa dạng kiến Formicidae tại Hòn Bà

Nghiên cứu đa dạng kiến Formicidae tại khu bảo tồn Hòn Bà, Khánh Hòa là một chủ đề quan trọng trong sinh thái học. Kiến là một trong những nhóm động vật có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái. Chúng không chỉ là động vật ăn thịt mà còn là sinh vật phân giải các chất hữu cơ. Việc nghiên cứu này nhằm cung cấp thông tin về sự đa dạng sinh học và vai trò của kiến trong môi trường sống.

1.1. Đặc điểm sinh thái của khu bảo tồn Hòn Bà

Khu bảo tồn Hòn Bà có hệ sinh thái phong phú với nhiều loại hình địa hình và khí hậu khác nhau. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loài kiến khác nhau. Nghiên cứu sẽ tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố của kiến trong khu vực này.

1.2. Vai trò của kiến trong hệ sinh thái

Kiến đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái. Chúng tham gia vào quá trình phân hủy chất hữu cơ và là nguồn thức ăn cho nhiều loài động vật khác. Nghiên cứu sẽ chỉ ra tầm quan trọng của kiến trong việc bảo vệ và duy trì đa dạng sinh học.

II. Thách thức trong nghiên cứu đa dạng kiến tại Hòn Bà

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về đa dạng sinh học, việc nghiên cứu kiến tại Hòn Bà vẫn gặp nhiều thách thức. Các yếu tố như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và sự phát triển đô thị đang ảnh hưởng đến sự sống còn của các loài kiến. Việc hiểu rõ những thách thức này là cần thiết để bảo tồn và phát triển bền vững.

2.1. Biến đổi khí hậu và tác động đến kiến

Biến đổi khí hậu đang làm thay đổi môi trường sống của nhiều loài kiến. Nhiệt độ tăng cao và sự thay đổi lượng mưa có thể ảnh hưởng đến sự phân bố và sinh sản của chúng. Nghiên cứu sẽ phân tích các tác động cụ thể của biến đổi khí hậu đến kiến tại Hòn Bà.

2.2. Ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến đa dạng kiến

Ô nhiễm từ hoạt động nông nghiệp và công nghiệp có thể làm giảm số lượng và đa dạng của các loài kiến. Nghiên cứu sẽ chỉ ra các nguồn ô nhiễm chính và tác động của chúng đến hệ sinh thái kiến tại khu bảo tồn.

III. Phương pháp nghiên cứu đa dạng kiến tại Hòn Bà

Để nghiên cứu đa dạng kiến Formicidae, các phương pháp nghiên cứu thực địa và phòng thí nghiệm sẽ được áp dụng. Việc thu thập mẫu kiến sẽ được thực hiện tại nhiều khu vực khác nhau trong khu bảo tồn. Phân tích hình thái và phân loại sẽ giúp xác định các loài kiến hiện có.

3.1. Phương pháp thu thập mẫu kiến

Mẫu kiến sẽ được thu thập bằng các phương pháp như bẫy và quan sát trực tiếp. Việc chọn lựa địa điểm thu thập sẽ dựa trên các yếu tố sinh thái và địa lý của khu vực.

3.2. Phân tích hình thái và phân loại

Sau khi thu thập, mẫu kiến sẽ được phân tích hình thái để xác định các loài. Phương pháp phân loại sẽ dựa trên các đặc điểm hình thái và gen của kiến.

IV. Kết quả nghiên cứu đa dạng kiến tại Hòn Bà

Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin chi tiết về sự đa dạng của các loài kiến tại khu bảo tồn Hòn Bà. Số lượng và thành phần loài sẽ được thống kê, từ đó đưa ra các khuyến nghị cho công tác bảo tồn. Nghiên cứu cũng sẽ chỉ ra các loài kiến có giá trị sinh thái cao.

4.1. Thành phần loài kiến tại Hòn Bà

Nghiên cứu sẽ chỉ ra số lượng và thành phần các loài kiến hiện có tại khu bảo tồn. Các loài kiến sẽ được phân loại theo các nhóm chức năng khác nhau.

4.2. Đánh giá giá trị sinh thái của kiến

Các loài kiến sẽ được đánh giá về vai trò sinh thái của chúng trong hệ sinh thái. Nghiên cứu sẽ chỉ ra tầm quan trọng của kiến trong việc duy trì cân bằng sinh thái.

V. Kết luận và khuyến nghị cho tương lai nghiên cứu kiến

Nghiên cứu đa dạng kiến tại khu bảo tồn Hòn Bà không chỉ cung cấp thông tin về sự đa dạng sinh học mà còn giúp nâng cao nhận thức về bảo tồn. Các khuyến nghị sẽ được đưa ra để cải thiện công tác bảo tồn và nghiên cứu trong tương lai.

5.1. Tầm quan trọng của bảo tồn kiến

Bảo tồn các loài kiến là cần thiết để duy trì sự đa dạng sinh học. Nghiên cứu sẽ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường sống của kiến.

5.2. Đề xuất cho nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu sẽ đề xuất các hướng đi mới cho nghiên cứu kiến trong tương lai, bao gồm việc áp dụng công nghệ mới và hợp tác quốc tế trong nghiên cứu.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay một số dẫn liệu về đa dạng kiến insecta hymenoptera formicidae ở khu bảo tồn thiên nhiên hòn bà tỉnh khánh hòa

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Kiến thuộc lớp Côn trùng (Insecta), bộ Cánh màng (Hymenoptera), họ Kiến (Formicidae),là một trong những nhóm động vật đất chiếm ƣu thế nhất trong các vùng nhiệt đới (Bolton, 1997) [14]. Mặc dù kiến chỉ chiếm 1,5% số loài côn trùng đã biết, nhƣng chúng lại chiếm tới hơn 10% tổng sinh khối của các loài động vật trong các khu rừng nhiệt đới, đồng cỏ và có lẽ trong cả các sinh cảnh khác (Agosti et al.Chúng đồng thời là những động vật ăn thịt, là con mồi và là sinh vật phân giải các chất hữu cơ trong hệ sinh thái (Bolton, 2003) [15].Việc nghiên cứu sinh học và sinh thái của các loài kiến nhiệt đới sẽ có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu các hệ sinh thái, song kiến thức của chúng ta về kiến còn nhiều hạn chế. Thậm chí việc phân loại kiến, cơ sở nghiên cứu của nhiều lĩnh vực sinh học, đang còn phải trong quá trình tiến tới hoàn thiện (Ito et al. Đặc biệt trong vùng Đông Phƣơng (Oriental region), trong đó có Việt Nam, khu hệ kiến vẫn ít đƣợc điều tra khám phá sau các công trình tiên phong vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 của một số tác giả phƣơng Tây:Frederick Smith, Carlo Emery, Auguste Forel, William Morton Wheeler (Radchenko, 2001) [36].

Bên cạnh vai trò chức năng quan trong trọng hệ sinh thái, kiến đang đƣợc xem nhƣ là những vật chỉ thị đánh giá đa dạng sinh học (Ito et al. Một số loài kiến đang đƣợc ứng dụng trong phòng trừ sinh học các loài sâu hại bảo vệ cây trồng, một số loài kiến có thể khai thác và nhân nuôi dùng làm thực phẩm và thuốc chữa bệnh cho con ngƣời (Nguyễn Đắc Đại và nnk, 2015)[2]. Bên cạnh những mặt có lợi phục vụ phát triển kinh tế và đời sống con ngƣời, kiến còn có một số mặt tiêu cực, chẳng hạn nhƣ một số loài kiến sống trong các khu dân cƣ và thƣờng kéo theo bầy đàn với số lƣợng lớn, chúng trở thành đối tƣợng gây phiền toái cho con ngƣời. Sự xuất hiện của kiến trong thức ăn, đồ uống đã gây nên sự kinh hãi cho nhiều ngƣời.

Một số loài khi cắn Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật 1 Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Thu Hường hoặc đốt gây ra những mụn ngứa hoặc bỏng rộp cho con ngƣời. Một số loài kiến làm tổ trong gỗ gây hại các cấu kiện của gỗ. Kiến cũng là một trong những vectơ truyền nhiều loại bệnh cho ngƣời và gia súc (Vũ Quang Mạnh, 2000) [5]. Vì vậy nghiên cứu kiến cũng có ý nghĩa chỉ ra thành phần loài kiến có hại, tạo cơ sở cho việc phòng trừ chúng.

Để góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu cho việc đánh giá tính đa dạng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đồng thời bổ sung dẫn liệu về đa dạng kiến Việt Nam thêm phong phú, chúng tôi tiến hành nghiên cứu và đƣa ra “Một số dẫn liệu về đa dạng kiến (Insecta: Hymenoptera: Formicidae) ởKhu Bảo tồn Thiên nhiên Hòn Bà, tỉnh Khánh Hòa”. Mục tiêu của đề tài - Nghiên cứu sự đa dạng của các phân họ và các giống kiến tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà. - Nghiên cứu giá sự đa dạng của các giống kiến trong các nhóm chức năng. - Nghiên cứu thành phần loài kiến ở các đới độ cao khác nhau tạiKhu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà.

Nội dung của đề tài - Thống kê thành phần loài và các giống kiến tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà. - Xác định sự phân bố của các loài kiến trong các nhóm chức năng. - Xây dựng khóa phân loại các phân họ kiến tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, mô tả đặc trƣng hình thái các phân họ kiến tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà. Ý nghĩa của đề tài Đề tài cung cấp một số dẫn liệu về đa dạng kiến (Insecta: Hymenoptera: Formicidae) ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Hòn Bà, tỉnh Khánh Hòa nói riêng và khu hệ kiến Việt Nam nói chung.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật 2 Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Thu Hường 1. Vai trò quan trọng của kiến Kiến (Hymenoptera: Formicidae) là một trong những nhóm côn trùng xã hội cánh màng có vai trò quan trọng trong các hệ sinh thái (Nguyễn Đắc Đại và nnk, 2015) [2], chúng có mặt ở khắp mọi nơi, những khoảng không có sẵn đều có thể trở thành nơi cƣ trú của kiến, chúng giữ vai trò quan trọng trong hệ sinh thái. Trong thực tế,ở một vài nơi kiến phát triển với số lƣợng cực lớn và có thể tạo ra sinh khối rất lớn. Ở Tây Phi, Lamotte (1947) đã xác nhận kiến chiếm 27% số lƣợng động vật không xƣơng sống và 4% sinh khối.

Ở vùng đồng cỏ Bắc Mỹ kiến bắt mồi chiếm 1-15% tổng sinh khối của động vật không xƣơng sống dƣới mặt đất. Trong nhiều sa mạc, kiến là vật tiêu thụ chủ yếu hạt của các cây hàng năm và thƣờng gây áp lực đối với tỷ lệ tăng trƣởng quần thể của loài chuột, vì cả hai đều có chung một loại thức ăn (Vũ Quang Mạnh, 2000) [5]. Khi xâm nhập vào nhà cửa, các loài kiến thuộc giống Eciton ở châu Mỹ và các loài của giống Dorylus ở châu Âu và châu Á, đã tiêu diệt tất cả các côn trùng gây hại khác chẳng hạn nhƣ gián, rệp … Một điều rất kỳ lạ là dọc theo những cột di chuyển của kiến, ngƣời ta không thấy có sâu và chuột gây hại (Bùi Công Hiển và nnk, 2014)[3]. Ở đa số những nơi cƣ trú, kiến dẫn đầu những vật ăn thịt trong số các loài côn trùng và các loài động vật không xƣơng sống nhỏ bé sống trong đất (Jeanne, 1979; Willson, 1971) [31, 42].

Trong rừng ôn đới ở New York, kiến có tác dụng phát tán gần 1/3 số loài cây hòa thảo, các loài cây này đã sản xuất đến 40% sinh khối trên mặt đất (Handel et al. Kiến còn vận chuyển phân tán các hạt cây rừng lên Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật 3 Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Thu Hường các tảng đá trần trụi ở Phần Lan (Oinonen, 1956) [32].Những vùng có tổ kiến thƣờng có lƣợng carbon, nitrogen và phospho cao. Nồng độ nitrogen thƣờng phân bố không đồng đều trên mặt đất do đó tạo ra sự phân bố không đồng đều của thảm thực vật (Briese, 1982) [17].Thành phần dinh dƣỡng trong các tổ kiến khác với thành phần dinh dƣỡng vùng đất xung quanh tổ kiến. Hiệu quả dinh dƣỡng trong tổ kiến duy trì đƣợc trong thời gian dài, đôi khi trong suốt năm sau khi tách chúng ra khỏi các tổ (Vũ Quang Mạnh, 2000) [5].Nói chung cây trồng thƣờng phát triển tốt hơn trên đất của các tổ kiến cũ.

Kiến đặc biệt thích hợp với các chƣơng trình đánh giá và kiểm soát môi trƣờng, vì tính đa dạng và sự phong phú của chúng ở hầu hết các nơi cƣ trú. Đã có rất nhiều nghiên cứu sử dụng kiến trong đánh giá và kiểm soát môi trƣờng, ví dụ nhƣ nghiên cứu sự đa dạng của kiến theo độ cao địa hình ở Madagascar (Fisher, 1996), kết quả đã thu đƣợc 148 loài kiến thuộc 28 giống, thành phần loài kiến thay đổi theo độ cao từ 785-825m tới 1275-1680m, từ vùng đất thấp tới vùng đất cao. Andersen (1992) đã sử dụng kiến để đánh giá khả năng phục hồi môi trƣờng sau khi khai mỏ tại đất rừng savan Australia. Kết quả cho thấy thành phần loài kiến tăng theo thời gian sau 8 năm, tuy nhiên mức độ tăng vẫn chƣa đạt số lƣợng loài so với công thức đối chứng (Bolton, 1995) [13].

Kiến là một trong những nhóm côn trùng có ý nghĩa quan trọng trong đời sống kinh tế và nghiên cứu khoa học, đặc biệt nhƣ khả năng thông tin trong các quần thể kiến, sự phản ứng của chúng với những thay đổi của môi trƣờng luôn thu hút sự nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới. Tình hình nghiên cứu kiến trên thế giới Hệ thống phân loại kiến mà chúng ta tiếp thu đƣợc ngày nay là thành tựu hơn một thế kỷ tích lũy công sức của nhiều nhà khoa học. Các tác giả đầu tiên nhƣ Nylander (1846a, 1846b, 1849), Smith (1858), Mayr (1861, 1863) và Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật 4 Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Thu Hường Roger (1863b) đã tiến hành nghiên cứu tập hợp tên các taxon ở mức độ giống và loài, song họ chƣa quan tâm nhiều đến việc sắp xếp các taxon trên thành hệ thống phân loại chuẩn theo quy định. Tiếp theo là thế hệ các nhà phân loại kiến thứ hai, bên cạnh việc bổ sung số lƣợng lớn tên vào danh sách các loài kiến đang phát triển nhanh chóng, họ bắt đầu sắp xếp tên vào hệ thống phân loại chuẩn.

Sau đó, Emery (1877a, 1895j, 1896e, 1901a, 1914a, 1915i) và Forel (1878, 1893) đã phát triển thành hệ thống phân loại nhƣ ngày nay. Chính hệ thống này đã đƣợc nhiều tác giả sử dụng, nhƣ Emery sử dụng trong một loạt công trình về các giống côn trùng công bố vào các năm 1910, 1911, 1912, 1921, 1922, 1925 và các công trình của Wheeler (1920, 1925). Kết quả của họ đƣợc gọi là hệ thống phân loại Emery- Wheeler (Brown, 1958g), trong đó hai tác giả đã trình bày khóa phân loại các giống kiến của thế giới và các taxon bậc cao hơn, hệ thống phân loại này đã có ảnh hƣởng to lớn trong việc giải quyết những khó khăn tồn tại trong nhiều năm (Bolton, 1995) [13]. Vào năm 1950, sau một thời gian dài sử dụng, các nhà khoa học đã nhận thấy hệ thống phân loại kiến của Emery-Wheeler xuất hiện những sai sót rất khó có thể khắc phục và đã không đƣợc sử dụng nhiều trong giới khoa học.

Đến năm 1951, Clark và Bernard đề xuất đƣa ra hai hệ thống phân loại đặc trƣng của các phân họ kiến. Hệ thống này đã nhanh chóng đƣợc Brown (1954e) sử dụng, đồng thời đề xuất ra những thay đổi cơ bản trong phƣơng hƣớng phân loại kiến. Những công trình của Brown đã hình thành nền tảng cho các nghiên cứu hiện đại trong cả hai lĩnh vực phân loại và phát sinh loài kiến (Bolton, 1995) [13]. Trong khuôn khổ hệ thống phân loại trên bao gồm các bảng danh lục của Brown (1973b), Snelling (1981), Wheeler (1985), Dlussky và Fedoseeva (1987), Holldobler và Wilson (1990), Bolton (1994).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu đa dạng kiến Formicidae tại khu bảo tồn Hòn Bà, Khánh Hòa" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự đa dạng của loài kiến trong một trong những khu bảo tồn thiên nhiên quan trọng của Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ giúp xác định các loài kiến khác nhau mà còn phân tích vai trò của chúng trong hệ sinh thái, từ đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn đa dạng sinh học. Độc giả sẽ nhận được thông tin quý giá về các phương pháp nghiên cứu và các kết quả đáng chú ý, góp phần nâng cao nhận thức về bảo tồn thiên nhiên.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức của mình về các nghiên cứu tương tự, hãy tham khảo tài liệu Nghiên cứu tính đa dạng sinh học côn trùng và đề xuất các giải pháp bảo tồn tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hướng, Nghệ An, nơi khám phá sự đa dạng của các loài côn trùng và các biện pháp bảo tồn. Bên cạnh đó, tài liệu Nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ tại khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn về sự đa dạng thực vật trong các khu bảo tồn. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Nghiên cứu tính đa dạng loài cây dược liệu tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, tỉnh Yên Bái, một nghiên cứu quan trọng về các loài cây có giá trị dược liệu. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá thêm về sự đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn thiên nhiên.