mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể.I cho rằng: “chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao trùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hóa về mặt địa lý”. Tác giả đã đưa ra nhận định một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường khoảng 1500 đến 2000 loài. Trong đó, ngành Hạt kín có 13477 chi, 454 họ và được chia ra làm hai lớp: lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) bao gồm 10715 chi, 357 họ và lớp Một lá mầm (Môncotyledoneae) bao gồm 2762 chi, 97 họ. Từ thế kỷ XX, với các thành tựu của nhiều môn khoa học khác đã hỗ trợ nhiều cho các nghiên cứu về đa dạng thực vật, tạo cơ sở về dẫn liệu và phương pháp để xây dựng các bảng hệ thống tiến hóa.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nghiên cứu đa dạng thực vật ở Việt Nam Việt Nam là quốc gia có khí hậu nóng ẩm, lượng mưa hàng năm tương đối cao, tạo điều kiện thuận lợi cho các loài thực vật phát triển, vì thế nước ta có mức độ đa dạng sinh học cao so với các nước trên thế giới. Việc nghiên cứu về hệ thực vật ở nước đã có từ lâu. Vào năm 1417, tác giả Tuệ Tĩnh đã đưa ra cuốn sách “Nam dược thần hiệu” mô tả 579 loài thuốc, năm 1595 Lý Thời Trân trong cuốn “Bản thảo cương mục” đã đề cập đến hơn 1000 vị thuốc thảo mộc.
Việc nghiên cứu hệ thực vật Việt Nam diễn ra với quy mô lớn vào thời Pháp thuộc, trước hết là công trình nghiên cứu “Thực vật chí Nam Bộ” của tác giả Leureiro; thực vật chí rừng Nam bộ của tác giả Pierre; công trình lớn nhất là bộ “Thực vật chí đại cương Đông Dương” của tác giả Lecomete trong đó phân loại, thống kê, mô tả các loài cây từ Dương xỉ cho đến thực vật Hạt kín toàn Đông Dương, trong nghiên cứu này thì toàn Đông Dương có hơn 7000 loài; cho đến nay bộ sách vẫn còn nguyên giá trị đối với những người nghiên cứu thực vật Đông dương nói chung và hệ thực vật Việt Nam nói riêng. Bên cạnh những nghiên cứu của các tác giả người Pháp, sau năm 1954 đã xuất hiện nhiều các nghiên cứu của các tác giả trong nước; có thể kể đến các công trình sau: “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của tác giả Đỗ Tất Lợi (1969, 1977); bộ “ Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” do Lê Khả Kế chủ biên (1969, 1975); thảm thực vật rừng Việt Nam (1978) của Thái Văn Trừng, bộ “ Cây gỗ rừng Việt Nam” (1971-1988) gồm 7 tập và cuốn “Những loài thực vật rừng quý hiếm cần bảo vệ ở Việt Nam” do Viện điều tra qui hoạch rừng biên soạn. Năm 1984, Nguyễn Tiến Bân, Trần Bình Đại, Phan kế Lộc cùng tập thể các tác giả đã xuất bản tập “Danh lục thực vật Tây Nguyên” công bố 3754 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com loài thực vật bậc cao có mạch. Trong công trình “Thực vật ở đảo Phú Quốc ” (1985), tác giả Phạm Hoàng Hộ đã thống kê được 929 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó có 112 loài cây trồng, 817 loài cây có phân bố tự nhiên và ghi nhận thêm 19 loài mới cho Việt Nam, không kể Nấm.
Trong số đó, đáng chú ý nhất là bộ “Cây cỏ Việt Nam” lần đầu tiên xuất bản tại Canada (1991- 1993) đã thống kê được 10419 loài thực vật bậc cao có mạch ở Việt Nam. Trong hai năm 1999- 2000, tác giả đã chỉnh lí, bổ sung và tái bản tại Việt Nam. Bộ sách mới đã thống kê, mô tả 11611 loài thuộc 3179 chi, 295 họ và 6 ngành. Năm 1993, Trần Đình Lý và tập thể cũng công bố cuốn “1900 loài cây có ích của Việt Nam”.
Năm 1996, “Tên cây gỗ rừng Việt Nam” là kết quả đóng góp của nhiều tác giả đã được chỉnh lý và dịch sang tiếng Anh. Cùng năm này, Võ Văn Chi công bố cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam” và gần đây là cuốn “Từ điển thực vật thông dụng” (2003). Nguyễn Tiến Bân công bố cuốn “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật ở Việt Nam” (1997). Võ Văn Chi và Trần Hợp (1999) công bố cuốn “Cây cỏ có ích ở Việt Nam”.
Đỗ Tất Lợi giới thiệu “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” và các tài liệu do Viện dược liệu biên soạn như “Cây thuốc Việt Nam” (1990); “Tài nguyên cây thuốc Việt Nam”(1993); năm 1999, trong cuốn “Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam”, tác giả Lê Trần Chấn đã thống kê được 10192 loài, 2298 chi và 285 họ thuộc 7 ngành thực vật bậc cao có mạch. Gần đây nhất, năm (2001- 2005), tập thể các tác giả thuộc trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường- Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật- Viện khoa học và công nghệ Việt Nam, đã xuất bản bộ sách gồm 3 tập đó là “Danh lục các loài thực vật Việt Nam”. Bộ sách này đã thông kê được đầy đủ nhất các loài thực vật có ở Việt Nam. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghiên cứu về tính đa dạng thực vật tại các vườn Quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam cho đến nay đã có nhiều công trình.
Điển hình phải kể đến các nghiên cứu của Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Bá Thụ ở vườn quốc gia Cúc Phương (1995), Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thanh Nhàn ở vườn quốc gia Pù Mát (2004), Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự ở vườn quốc gia Bạch Mã (2003), Lê Thị Huyên ở Vườn quốc gia Cát Bà (1998). Bên cạnh các công trình nghiên cứu về toàn thể hệ thực vật thì còn phải kể đến các nghiên cứu về các họ thực vật riêng biệt trong cả nước như “Orchidaceae Đông Dương” của Seidenfaden (1992), “Orchidaceae Việt Nam” của Leionid Averyanov (1994), Nguyễn Nghĩa Thìn với “Euphorbiaceae Việt Nam” (1995, 1999, 2007), Nguyễn Tiến Bân với “Annonaceae Việt Nam” (2000), “Lamiaceae” của Vũ Xuân Phương (2000); “Myrsinaceae” của Trần Thị Kim Liên (2002), “Cyperaceae” của Nguyễn Khắc Khôi (2002), và Vũ Xuân Phương với “Verbenaceae” (2007)… Tuy chỉ đề cập đến một họ nhất định nhưng đây là những công trình nghiên cứu chuyên sâu, trình bày đầy đủ các thông tin cần thiết về các loài trong họ. Đây là những tài liệu quan trọng làm cơ sở cho việc đánh giá về đa dạng phân loại của các họ thực vật Việt Nam. Nghiên cứu về các yếu tố địa lý Yếu tố địa lí là một trong những yếu tố quan trọng trong việc đánh giá sự đa dạng của hệ thực vật.
Gagnepain là người đầu tiên phân tích các yếu tố địa lý của hệ thực vật Việt Nam với hai tác phẩm “Góp phần nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương” (1926) và “Giới thiệu về hệ thực vật Đông Dương” (1944). Ông đã chia hệ thực vật Đông Dương thành 5 yếu tố. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Yếu tố Trung Quốc 33,8% Yếu tố nhập nội và phân bố rộng 20,8% Yếu tố Xích Kim - Himalaya 18,5% Yếu tố Malaysia và nhiệt đới khác 15% Yếu tố đặc hữu bán đảo Đông Dương 11,9% Sau đó vào năm 1965, khi nghiên cứu về hệ thực vật Bắc Việt Nam, Pócs Tamás đã phân chia thành các nhóm yếu tố như sau: - Nhân tố bản địa đặc hữu 39,9% Của Việt Nam 32,55% Của Đông Dương 7,35% - Nhân tố di cư từ các vùng nhiệt đới: 55,27% Từ Trung Quốc 12,89% Từ Ấn Độ và Himalaya 9,33% Từ Malaysia - Indonesia 25,69% Từ các vùng nhiệt đới khác 7,36% - Nhân tố khác 4,83% Ôn đới 3,27% Thế giới 1,56% Trong nhân tố khác thì nhân tố nhập nội, trồng trọt chiếm 3,08% Tổng 100% Năm 1978, Thái Văn Trừng căn cứ vào bản thống kê của các loài thực vật Bắc Việt Nam đã cho rằng ở Việt Nam có 3% số chi và 27,5% số loài đặc hữu. Nhưng khi thảo luận tác giả đã gộp các nhân tố di cư từ nam Trung Hoa và nhân tố đặc hữu bản địa Việt Nam làm một và căn cứ vào khu phân bố hiện tại, nguồn gốc phát sinh của loài đó đã cho ra tỉ lệ như sau: 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Nhân tố bản địa đặc hữu 50% - Nhân tố di cư 39% Từ Malaysia - Indonesia 15% Từ Himalaya - Vân Nam - Quí Châu 10% Từ Ấn Độ - Miến Điện 14% - Nhân tố khác 11% Nhiệt đới 7% Ôn đới 3% Thế giới 1% Trong nhân tố khác thì nhân tố nhập nội vẫn là 3,08%.
Tổng 100% Căn cứ các khung phân loại của Pócs Tamás (1965), Ngô Chinh Dật (1993), Lê Trần Chấn (1994) và trên cơ sở các công trình nghiên cứu của mình, Nguyễn Nghĩa Thìn (1999) đã xây dựng thang phân loại các yếu tố địa lý thực vật cho hệ thực vật Việt Nam và áp dụng cho việc sắp xếp các chi thực vật Việt Nam vào các yếu tố địa lý. Thang phân loại này đã được tác giả chỉnh sửa, bổ sung vào các năm 2004 trong “Hệ sinh thái rừng nhiệt đới” (Nxb ĐHQGHN, 2004) và năm 2008 trong cuốn “Các phương pháp nghiên cứu thực vật” theo đó hệ thực vật Việt Nam bao gồm các yếu tố chính sau: 1. Yếu tố toàn thế giới 2. Liên nhiệt đới 2.
Nhiệt đới châu Á, châu Úc và châu Mỹ 2. Nhiệt đới châu Á, châu Phi và châu Mỹ 2. Nhiệt đới châu Á và Mỹ 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Cổ nhiệt đới 3.
Nhiệt đới châu Á và châu Úc 3. Nhiệt đới châu Á và châu Phi 4. Nhiệt đới châu Á (Inđô - Malêzi) 4. Đông Dương - Malêzi 4.
Đông Dương - Ấn Độ hay Lục địa châu Á nhiệt đới 4. Đông Dương - Himalaya hay lục địa Đông Nam Á (trừ Malêzi, Ấn Độ) 4. Đông Dương - Nam Trung Hoa 4. Ôn đới Bắc 5.
Đông Á - Bắc Mỹ 5. Ôn đới cổ thế giới 5. Vùng ôn đới Địa Trung Hải, châu Âu, châu Á 5. Đặc hữu Việt Nam 6.
Cận đặc hữu 7. Yếu tố cây trồng 8. Yếu tố không xác định: bao gồm các taxon không có đủ thông tin để xếp vào một trong các yếu tố ở trên. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Nghiên cứu về phổ dạng sống của hệ thực vật Dạng sống là một đặc tính biểu hiện sự thích nghi của thực vật với điều kiện môi trường. Vì vậy, việc nghiên cứu dạng sống sẽ cho thấy mối quan hệ chặt chẽ của các dạng với điều kiện tự nhiên của từng vùng và biểu hiện sự tác động của điều kiện sinh thái đối với từng loài thực vật. Nghiên cứu về phổ dạng sống chính là tìm hiểu bản chất sinh thái của hệ thực vật. Nghiên cứu về phân loại dạng sống ở trên thế giới cũng có nhiều kiểu khác nhau.