BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI --------------------------------------- LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÀNH : NGÀNH ĐIỀU KHIỂN TỰ ĐỘNG Nghiên cứu công nghệ và thiết bị cô đặc chân không thùng quay nằm nghiêng để cô đặc hỗn hợp dịch-Quả Bùi Thế Cường Người hướng dẫn khoa học: Bùi Thế Cường HÀ NỘI - 2007 17051113914561000000 1 Mục lục trang Lời nói đầu 1 Phần I: Tổng quan công nghệ & thiết bị sản xuất mứt dẻo 5 I. Nguyên liệu & công nghệ sản xuất mứt dẻo 5 I. Công nghệ sản xuất mứt dẻo 17 I. Thiết bị cô đặc trong sản xuất mứt dẻo 23 I.
Một số yêu cầu đối với thiết bị cô đặc trong sản xuất mứt 24 dẻo I. Thiết bị cô đặc thủ công 26 I. Thiết bị cô đặc chân không 26 I.Thiết bị cô đặc chân không 2 vỏ có cánh khuấy thẳng 28 đứng 28 I. Thiết bị cô đặc chân không ống chùm 30 Phần II.
Nghiên cứu, thiết kế và tính toán thiết bị cô đặc chân không thùng quay nằm nghiêng 30 II. Cơ sở lý thuyết của quá trình cô đặc (Rim) 30 II. Những khái niệm cơ bản của quá trình cô đặc 30 II. Bản chất vật lý của quá trình bốc hơi 31 II.
Một số tính chất của dung dịch. Các phương pháp cô đặc 41 II. Phân tích lựa chọn thiết bị 41 II. Tính nhiệt cho quá trình cô đặc 44 II.
Tính bền cho thiết bị 2 Phần III. Phương pháp nghiên cứu 52 III. Thiết bị thí nghiệm 55 III. Phương pháp quy hoạch toán học các thực nghiệm trong nghiên 55 cứu tìm tối ưu 55 III.
Một số phương pháp và dụng cụ hoá chất thí nghiệm trong nghiên cứu 57 III. Dụng cụ và Hoá chất thí nghiệm Phần IV. Thực nghiệm – Xây dựng phương trình hồi quy tìm chế độ cô 58 đặc 59 IV. ứng dụng lý thuyết thực nghiệm tìm vùng ảnh hưởng – thí nghiệm lấy số liệu IV.
Xây dựng phương trình hồi quy 59 IV. Tìm chế độ cô đặc tối ưu 61 Phần V. Kết luận 68 Tài liệu tham khảo 72 Tóm tắt luận văn 74 Summary 76 Phụ lục 77 78 3 LỜI NÓI ĐẦU Mứt dẻo là loại thực phẩm được nhân dân ta sử dụng từ lâu. Trong các dịp lễ tết không nhà nào không có một hộp mứt để cúng ông bà tổ tiên.
Mứt dẻo được làm từ các loại quả và đường (nguyên liệu chính). Nó có nhiều giá trị dinh dưỡng và mùi vị đặc trưng. Từ trước tới nay việc cô đặc mứt dẻo thường được tiến hành bằng phương pháp rim trên chảo ở áp suất thường với năng suất nhỏ. Chất lượng sản phẩm thường không cao, mầu sắc mùi vị mứt không hấp dẫn và sản phẩm mứt đang mất dần chỗ đứng trong đời sống người tiêu dùng.
Để nâng cao chất lượng của mứt dẻo, tăng năng suất và tiến tới hạ giá thành sản phẩm chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu luận văn “ Nghiên cứu công nghệ và thiết bị cô đặc chân không thùng quay nằm nghiêng để cô đặc hỗn hợp dịch quả”. Đây là thiết bị mới cho sản xuất mứt dẻo và chưa được sử dụng ở nước ta. Với việc nghiên cứu trên thiết bị loại này, chúng tôi muốn tìm ra được những ảnh hưởng của 1 số thông số cơ bản (nhiệt độ, áp suất, tốc độ vòng quay và số cánh đảo của thùng) tới quá trình cô đặc hỗn hợp dịch quả để làm sao cho ra được một sản phẩm có chất lượng cao hơn so với sản phẩm truyền thống từ trước tới nay. Nội dung luận văn gồm 4 phần chính : - Tổng quan chung về công nghệ và thiết bị sản xuất mứt dẻo - Nghiên cứu thiết kế và tính toán thiết bị - Phương pháp nghiên cứu - Thực nghiệm – xây dựng phương trình hồi quy tìm tối ưu Với thời gian làm luận văn không nhiều.
Việc chế tạo thiết bị và thử nghiệm chúng gặp nhiều khó khăn, xong luận văn đã được hoàn thành nhờ sự tận tình giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn và các thầy trong bộ môn Máy và tự động hoá Công nghệ Sinh học và Thực phẩm. Những kết quả nghiên cứu cũng chưa 4 được như mong muốn và còn nhiều nội dung cần được hoàn thiện thêm. Chúng tôi rất mong đựơc sự góp ý, chỉ dẫn của các thầy giáo, các nhà khoa học để công trình có ý nghĩa thực tiễn, góp phần nhỏ bé vào sự phát triển của ngành công nghiệp thực phẩm và đặc biệt là nghề sản xuất mứt của nước ta. Xin cảm ơn! Tác giả Bùi Thế Cường 5 Phần I.
TỔNG QUAN CÔNG NGHỆ VÀ THIẾT BỊ SẢN XUẤT MỨT DẺO I. Nguyên liệu và công nghệ sản xuất mứt dẻo. Nguyên liệu sản xuất. Chúng tôi khảo sát trên bốn loại củ, quả và một số nguyên liệu thường được dùng để sản xuất mứt dẻo sau: I.
Phân chi này được phân biệt với các phân chi khác của chi này (đào, anh đào, hạnh v.v) ở chỗ các đoạn thân cây có chồi cuối và các chồi bên đơn độc (không mọc thành cụm), hoa mọc thành nhóm từ 1 tới 5 hoa trên các đoạn thân ngắn, và quả có khía chạy dọc xuống ở một phía, hạt nhẵn. Quả các loài mận, khi chín có vị ngọt và nhiều nước. Chúng có thể ăn tươi hay sử dụng để làm mứt hay các dạng chế biến khác. Nước mận thể cho lên men để sản xuất rượu vang; khi được chưng cất, nó tạo ra một loại rượu mạnh và ở Đông Âu được gọi là Slivovitz.
Quả sấy khô có vị ngọt và chứa một số chất chống ôxy hóa. Mận Việt Nam nhìn chung có chất lượng kém hơn so với mận các nước ôn đới và có nhiều giống khác nhau: Mận hậu, mận cơm, mận chua chát … Trong đó loại mận chua chát quả nhỏ, chất lượng kém, không được ưa chuộng nên sản lượng ngày càng ít dần. Mận có sản lượng lớn nhất được kể đến là mận hậu (ruột tím), sau đó là mận cơm (ruột vàng). Hiện nay, nhờ chính sách phát triển kinh tế vùng đồi núi, các loại mận này ngày càng phát triển, sản lượng thu hái hàng năm rất lớn (chỉ tính riêng Lào Cai, Sapa mỗi năm thu khoảng 20.
Thời vụ thu hái mận vào khoảng tháng 5, 6 (rộ nhất trong vòng một tháng). Đặc điểm kĩ thuật của mận Các chỉ tiêu Mận ruột tím Mận ruột vàng Khồi lượng quả (g) 15 – 20 10 – 15 Khối lượng hạt (g) 1,3 – 1,8 1,5 – 1,8 Đường kính quả (mm) 25 – 35 20 – 30 Độ khô (%) 10 9,2 Độ axit (%) 2,5 1,5 Thành phần hoá học của mận: − H2O: 82 ÷ 87% − Đường: 7,4 ÷12,4 % − Axit: 1,35 ÷ 2,5% Nhìn chung hai loại mận ruột tím và mận ruột vàng đều có thể dùng chế biến mứt được. Để đảm bảo chất lượng sản phẩm đồng đều, nên chọn các loại mận đạt độ chín kĩ thuật, có kích thước quả 25 ÷ 35mm. Quả táo : Táo có thể là một trong hai loài có danh pháp khoa học sau: Ziziphus mauritiana (đồng nghĩa: Rhamnus jujuba L., nay không được dùng do là tên khoa học của táo tàu) và Ziziphus nummularia (Burm.
(đồng nghĩa: Ziziphus rotundifolia Lam. Đây là loại cây ăn quả của vùng nhiệt đới, thuộc về họ Táo ta (Rhamnaceae). Tại Trung Quốc, nó được gọi là táo chua, táo Ấn Độ hay táo Điền (táo Vân Nam), táo gai Vân Nam. Cây có thể lớn rất nhanh thậm chí trong các khu vực khô và cao tới 12 mét và đạt tuổi thọ 25 năm.
Nó có nguồn gốc ở châu Á (chủ yếu là Ấn Độ) mặc dù cũng có thể tìm thấy ở châu Phi. Quả là loại quả hạch, khi chín nó mềm, chứa nhiều nước, có vị ngọt. Các quả chín vào các khoảng thời gian khác nhau ngay cả khi chỉ trên một cây và có màu lục nhạt khi còn xanh và vàng nhạt khi chín. Kích thước và hình dạng 7 quả phụ thuộc vào các giống khác nhau trong tự nhiên cũng như loại được trồng.
Quả được dùng để ăn khi đã chín hoặc ngâm rượu hay sử dụng để làm đồ uống. Nó là một loại quả giàu chất dinh dưỡng và chứa nhiều vitamin C. Táo là một loại quả khá lâu đời được trồng trong các vườn gia đình của nhân dân ta ở nhiều địa phương. Cây táo sinh trưởng và phát triển nhanh, sau một năm đã cho thu hoạch, sản lượng cao và ổn định.
Cây 4 ÷ 5 tuổi năng suất đạt 80 ÷ 150 kg quả/cây, cá biệt có giống cho năng suất từ 120 ÷ 180 kg quả/cây. Quả hạch nạc, hình cầu hay hình trứng, màu vàng hoặc màu xanh. Thời vụ thu hái từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau, rộ nhất là vào tháng 12, tháng 1, tháng 2 năm sau (dịp gần tết và sau tết). Táo nước ta có nhiều giống khác nhau như: Thiện Phiến, Gai Lộc và một số giống mới được lai tạo như: H12, H32, ZM4, ZM5, ZM9… Táo được trồng nhiều ở Hải Dương, Hà Nội và một số địa phương miền Bắc.
Đặc điểm kĩ thuật của một số giống táo: Các chỉ tiêu Thiện Thiện Gia lộc H12 H32 Táo má phiến phiến hồng ngọt chua Khối lượng quả 20 ÷ 25 15÷ 20 25 ÷30 20÷ 30 ÷35 15 ÷20 (g) 25 Dạng quả Tròn dẹt Tròn dẹt Trái Tròn Tròn Tròn xoan Màu quả Vàng Vàng Vàng Vàng Vàng Hồng trắng sáng da cam nhạt xanh tím Độ khô (%) 8,4 8,5 11,35 13,70 13,69 11,35 Độ axit (%) 0,10 0,13 0,97 0,34 0,57 0,87 Thời kì thu hái Tháng 2 Tháng 3 Tháng Tháng Tháng Tháng 1 12, 1 2 2,3 8 Thành phần hóa học của táo: Thay đổi tuỳ theo giống táo. − Chất khô: 8,4 ÷14,2 % − Đường tổng số: 9,35% ÷15,98% (Trong đó đường khử: 4,32% 6,33%) − Axit: 0,97 ÷1,03% − Vitamin C: 8,35 ÷ 42,10 mg% Nhìn chung các loại táo đều có thể chế biến mứt được. Nhưng để sản phẩm có vị hài hoà, hình thức đẹp, chúng tôi sử dụng loại táo có vị hơi chua. Để đảm bảo chất lượng sản phẩm đồng đều, nên chọn các loại táo có kích thước ổn định và (20 ÷ 25 g/quả) và đạt độ chín kĩ thuật, còn tươi.
Phân loại dứa Họ dứa (Bromeliaceae) là một họ lớn của thực vật có hoa, có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và các khu vực có khí hậu nóng trên thế giới. Họ này bao gồm các loài thực vật biểu sinh, chẳng hạn như loài rêu Tay Ban Nha, cũng như các loài thực vật tự dưỡng sống trên đất như dứa (Ananas comosus). Nhiều loài trong họ này có khả năng lưu giữ nước trong “quả”, được tạo ra nhờ sự chồng lên nhau khá chặt của các gốc lá.