phần Mở đầu, Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo và Phụ lục luận có nội dung gồm 4 chƣơng: CHƢƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ ĐẠI VIỆT THẾ KỶ XVI-XVII VÀ VÙNG ĐẤT TUYÊN QUANG CHƢƠNG 2: CHÚA BẦU THẾ KỶ THẾ KỶ XVI-XVII THÔNG QUA TƢ LIỆU THƢ TỊCH CHƢƠNG 3: DẤU TÍCH THÀNH BẦU TRÊN THỰC ĐỊA CHƢƠNG 4: CHÚA BẦU TRONG KÝ ỨC VÀ TÍN NGƢỠNG CỦA HẬU THẾ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ ĐẠI VIỆT THẾ KỶ XVI-XVII VÀ VÙNG ĐẤT TUYÊN QUANG 1. Bối cảnh lịch sử Đại Việt thế kỷ XVI-XVII 1. Chính trị Đại Việt đầu thế kỷ XVI Thế kỷ XVI, tình hình chính trị Đại Việt có nhiều biến động với nhiều cuộc chính biến đổi dời triều đại, những cuộc thanh trừng, tình trạng tranh giành quyền lực tạo thế lực, sự cát cứ diễn ra, khiến cho đất nƣớc nhiều phen điêu đứng. Vua Lê Hiến Tông (1497-1504) trị vì từ 1497, quốc gia Đại Việt tuy không vƣơn lên mạnh mẽ, phát triển rực rỡ nhƣ thời vua Lê Thánh Tông nhƣng vua biết giữ kỷ cƣơng phép nƣớc, quan lại sắp đặt cẩn thân, duy trì những luật lệ của vua trƣớc nên đất nƣớc vẫn đƣợc thịnh trị ổn định.
Hiến Tông chuộng văn học, giữ vững cơ đồ, tiết kiệm tiêu dùng, thận trọng hình phạt, sửa chính sự, dùng người hiền kính trời chăm dân, cũng là bậc vua hiền” [61, tr. “Vua đặc biệt anh minh, thông duệ, vượt hẳn mọi người, mà nhân từ, hòa dịu, không hề tỏ vẻ nghiêm khắc” [61, tr. Tuy nhiên, năm 1504, vua Lê Hiến Tông mất tình hình chính trị Đại Việt bắt đầu bƣớc sang giai đoạn suy sụp nhanh chóng. Vua Lê Túc Tông (1504-1505) lên ngôi ban bố lệnh giải phóng các tù nhân, cung nữ, cho ngừng những việc không cần thiết và làm nhẹ đi những việc gây áp lực nặng.
Ông cũng cắt giảm lễ vật, hạn chế dựa vào sức lao động của dân và tiếp tục tôn kính các vị công thần. Ông thâu tóm trong tay quyền lực tuyệt đối, luôn ra sức kìm hãm không để cho ngoại thích lộng quyền, lại vui sống hòa thuận với các Thân vƣơng trong hoàng gia. Tuy vậy, ông làm vua chƣa đầy một năm mọi dự định chƣa kịp thực hiện thành công thì đã băng. Tháng 6 mùa hạ, năm Cảnh Thống thứ 7, Túc Tông lên ngôi vua, chưa qua sang năm sau đổi niên hiệu, đến tháng 12 thì Túc Tông mất.
Kể từ đây, Đại Việt bắt đầu rơi vào khủng hoảng suy thoái nhanh chóng. Các vua Lê Uy Mục (1505-1509), vua Lê Tƣơng Dực (1510-1516) chỉ ham ăn chơi, tham chém giết, xây cất cung điện lầu các mà dần quên đi việc quân quốc, trị nƣớc, an dân, ổn định xã tắc. Vua Lê Uy Mục ham vui, thích uống, thích chém giết, là ngƣời không rộng lƣợng. Các quan ngƣời nào trƣớc không lập mình thì thƣờng giết đi.
Triều chính đều rơi vào tay ngoại thích và thế lực hoạn quan, cung đình đều bị nhơ nhuốc. Ông một tay dần giết hại các đại thần nhƣ Đàm Văn Lễ, Nguyễn Quang Bật, chèn ép Nguyễn Văn Lang khiến ông này phải chạy đi, vì tất cả đều không thuận lập Uy Mục sau khi Hiến Tông qua đời. Đã vậy, ông còn nghi kị tông thất, giết cả anh em cha chú của mình, từ quần thần đến thân 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuộc đều lo sợ, càng quyết tâm phản loạn.Ngầm sai nội nhân Nguyễn Khoa đi dò cả 26 vương là các chú và các anh em của vua” [61, tr. 45], khiến cho họ kinh hãi.
“Tháng 5 năm Giáp Tuất (1514), vua nghe lời tâu của Hiệu úy Hữu Vĩnh giết chết 15 vương công, cho gọi các cung nhân của Mẫn Lệ Công vào triều dưới vào để gian dâm” [61, tr. Vua đêm đêm uống rƣợu, vui chơi cùng cung nhân, ai uống rƣợu say thì vua giết đi. Quyền hành thì về tay thế lực ngoại thích “. phía đông thì có làng Lăng Hoa (quê cha nuôi), phía tây thì làng Nhân Mục (quê vợ vua), phía bắc thì làng Phù Chẩn (quê mẹ của vua) đều chuyện cậy quyền thế vùi dập các quan, kẻ thì vì ý riêng giết hại sinh dân, kẻ thì dùng ngón kín mà yêu sách tiền của, mọi thứ súc vật, hoa màu của dân, chúng đều cướp đoạt cả, nhà nào có vật lạ,.
Khiến cho triều đình rối loạn đến nỗi vua phải uống thuốc. Vua Lê Tƣơng Dực lên ngôi lúc đầu tiến hành nhiều chính sách an định quốc gia nhƣ: “sai quan trùng tu Quốc tử giám và làm nhà bia, lại nghĩ tới hai khoa thi Ất Sửu, Mậu thìn chưa có dựng bia, liền sai quan khắc bia soạn ký để dựng” [61, tr. Phân định lệ thuế vàng bạc trong nƣớc, cho quân đi đánh dẹp phản loạn [61, tr. Ban hành sách “trị bình bảo phạm” nhằm giáo hóa dân, ổn định đất nƣớc, phát triển nông nghiệp, ổn định nhân tâm, ban thƣởng công, xét xử tội với quan lại.
Tuy nhiên, chƣa đƣợc bao lâu vua Lê Tƣơng Dực lại tiến hành xây dựng cung điện, hƣởng lạc khiến hao mòn sức dân. Năm 1512,“ làm điện lớn trăm nóc. Trước đây xã Minh Quyết, huyện Cẩm Giàng có người thợ Vũ Như Tô( tức Đô Nhạn), ở nhà lấy cây nứa dựng kiểu điện lớn trăm nóc, đến đây đem kiểu nhà ấy dâng lên, khuyên vua dựng” [61, tr. Năm 1511, ở Kinh Bắc (Bắc Ninh ngày nay), Thân Duy Nhạc, Ngô Văn Tổng nổi lên đánh phá chiếm giữ nhiều vùng đất thuộc huyện Yên Phú, Đông Ngàn, Gia Lâm.
Ngô Bích và Trịnh Bá Quát thừa lệnh vua đi đánh dẹp. Cũng năm này ở vùng Sơn Tây, Trần Tuấn khởi nghĩa chống lại triều đình. Trịnh Duy Sản cất quân đi đánh dẹp. Năm 1512, Lê Hy, Trịnh Hƣng, Lê Minh Triệt nổi dậy ở Nghệ An.
Ở Sơn Tây, Hƣng Hóa, Nguyễn Nghiêm dấy binh chống triều đình. Năm 1515, Phùng Chƣơng kêu gọi nông dân đánh phá vùng núi Tam Đảo (Vĩnh Phúc). Thiều Khê bá Ngô Thứ nổi loạn. Đặng Hân và Lê Hất làm loạn ở huyện Ngọc Sơn.
Năm 1516, khởi nghĩa nông dân nổ ra mạnh mẽ ở khắp nơi, phát triển mạnh với nhiều cuộc khởi nghĩa lớn nhƣ: Trần Công Ninh đánh phá Yên Lãng (Vĩnh Phúc), Trần Cảo khởi nghĩa ở (Thủy Đƣờng), Đông Triều (Quảng Ninh). Năm 1516, vua Tƣơng Dực bị Trịnh Duy Sản, Lê Quảng Độ, Trịnh Chí Sâm giết hại. Loạn Trịnh Duy Sản khiến cho triều đình hỗn loạn chỉ trong vòng mấy năm cầm quyền của hai vua Lê Uy Mục, Lê Tƣơng Dực đã biến Đại Việt từ một 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quốc gia thịnh trị trở thành một quốc gia khủng hoảng, nổi loạn khắp nơi. Quan lại chém giết lẫn nhau để giành quyền lực, vơ vét của cải trong nhân dân.
Đời sống nhân dân vô cùng đói khổ các cuộc khởi nghĩa nổ ra đã minh chứng cho điều đó. Sau khi vua Tƣơng Dực bị giết, việc phế lập vua diễn ra liên tục khiến cho triều đình nhà Lê rối loạn, không biết ai là vua. Trịnh Duy Sản có ý lập Quang Trị con của Mục Ý vƣơng, Phùng Mại lại muốn lập con trƣởng của Cẩm Giang vƣơng là Lê Ý. Cuối cùng Duy sản thắng, Quang Trị đƣợc đƣa lên ngôi.
Nguyễn Hoằng Dụ nhân thế đại quân của Trịnh Duy Sản rút quân về Tây Kinh đã đốt phá Thăng Long. Vua Quang Trị bị giết chƣa có niên hiệu, Trịnh Duy Sản đƣa con trƣởng của Cẩm Giang Vƣơng tên Ý lên ngôi tức vua Lê Chiêu Tông. Vua Lê Chiêu Tông lên ngôi, tổ chức nhiều đợt phản công chiếm lại kinh thành Thăng Long. Ngay trong nội bộ lực lƣợng nhà vua cũng nổ ra nhiều mâu thuẫn.
Năm 1517, Nguyễn Hoằng Dụ đánh nhau với Trần Chân gây loạn ở kinh đô Thăng Long. Các tƣớng tự xƣng hùng chiếm giữ các địa phƣơng. Trần Chân chiếm giữ kinh đô, Nguyễn Hoằng Dụ đƣa binh về Thanh Hóa. Các thổ hào nhiều nơi cũng vơ vét của cái tạo thế lực cho mình.
66, 67, 70,71,72,76] Trong số những công thần có công phò vua Lê Chiêu Tông lên ngôi, Mạc Đăng Dung là ngƣời có mƣu đồ lớn. Trƣớc cảnh đất nƣớc bị chia cắt, giặc dã nổi lên khắc nơi, nông dân khởi nghĩa vì khổ cực, quan lại tranh giành nhau đất đai, quyền lực, chia bè kết phái, Mạc Mặc Đăng Dung đã khôn khéo mềm mỏng dần dần tạo niềm tin của vua Lê Chiêu Tông, đồng thời cũng ngầm tạo thế lực cho mình. Vương triều Mạc thành lập Triều Lê suy yếu, các tƣớng chia bè phái đánh lẫn nhau, bên ngoài nông dân nổi dậy khởi nghĩa, mạnh nhất là lực lƣợng Trần Cảo. Cảo đánh chiếm kinh thành Thăng Long, các tƣớng gác mâu thuẫn cùng đánh dẹp.
Đến khi Trần Cảo rút đi, các tƣớng lại chia bè phái đánh nhau. Nguyễn Hoằng Dụ (con Nguyễn Văn Lang) đánh nhau với Trịnh Tuy. Trịnh Tuy thua chạy về Tây Đô (Thanh Hoá). Trần Chân về phe với Trịnh Tuy đánh đuổi Hoằng Dụ, nắm lấy quyền trong triều.
Mạc Đăng Dung thấy uy quyền của Trần Chân lớn liền kêt thông gia với Trần Chân, cho con gái Trần Chân lấy con trai cả mình là Mạc Đăng Doanh. Năm 1518, Lê Chiêu Tông nghe lời gièm pha, sợ uy quyền của Trần Chân nên sai ngƣời giết Chân. Thủ hạ của Chân là Nguyễn Kính nổi loạn. Bấy giờ, Đăng Dung đang trấn thủ Hải Dƣơng.
Chiêu Tông bèn triệu Mạc Đăng Dung và Nguyễn Hoằng Dụ về cứu giá. Hoằng Dụ đánh bị thua chạy về Thanh Hóa rồi chết. Đăng Dung một mình nhân cầm quân dẹp 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com loạn mà nắm hết quyền bính. Cũng trong năm này Trịnh Tuy và Nguyễn Sử ở Sơn Tây lập Lê Bảng lên ngôi hiệu là Đại Đức Đế, đƣợc vài tháng lại lập Lê Do đổi thành Thiên Hiến Đế.
Đất nƣớc hỗn loạn giặc cƣớp, vua, chúa xuất hiện nhiều nơi. 90, 91] Tháng 7 năm 1519, “Mạc Đăng Dung thống lĩnh các quân thuỷ bộ vây Lê Do ở Từ Liêm, rồi phá đê cho nước vỡ vào quân Lê Do. Do và Nguyễn Sử chạy đến Ninh Sơn, bị Mạc Đăng Dung bắt được, giải về giết chết. Trịnh Tuy bỏ chạy về Thanh Hoá.
Các tƣớng Sơn Tây là Nguyễn Kính, Nguyễn Áng, Nguyễn Duy Nhạc đều xin hàng. Năm 1920, Mạc Đăng Dung đƣợc phong Minh quận công, tiết chế các xứ thủy bộ chƣ dinh Kể từ đây quyền hành của Mạc Đăng Dung ngày càng mạnh, quân theo Mạc Đăng Dung tăng nhanh lại thêm các văn thần thấy thế của họ Mạc mà theo về. 92] “Năm 1521, phong Mạc Đăng Dung là Nhân Quốc Công, lĩnh quản binh lực thủy bộ của 13 đạo” [61, tr 94], lại phong làm Thái phó. Tháng 8, Mạc Đăng Dung lãnh quân đến vùng Kinh Bắc, dẹp đƣợc Trần Cung, con của Trần Cảo.