phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan tài liệu Chƣơng 2. Đối tƣợng, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Kết quả và thảo luận 2 CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nguồn gốc, phân loại, phân bố 1. Nguồn gốc Dƣa chuột là loại cây đƣợc trồng từ lâu đời và đã có mặt ở Ấn Độ khoảng trên 3000 năm. Decandoole 1920), dƣa chuột xuất xứ từ vùng Tây Bắc Ấn Độ, từ đây phát triển lên phía Tây và sau đó sang phía Đông Nam Á.
Nh ng ghi chép về cây dƣa chuột xuất hiện ở Pháp vào thế kỷ thứ 9, ở Anh vào thế kỷ 14 và Bắc Mỹ vào gi a thế kỷ 16. Vào thế kỷ 16, dƣa chuột đƣợc mang tới Trung Quốc [theo 16]. Tuy nhiên, theo Vavilop 1926 , khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam giáp Lào là nơi phát sinh cây dƣa chuột vì ở đây còn tồn tại các dạng dƣa chuột hoang dại, Kallo 1958 cho rằng Trung Quốc là trung tâm thứ hai hình thành cây dƣa chuột do các giống dƣa chuột Trung Quốc có hàng loạt tính trạng lặn có giá trị nhƣ: quả dài, tạo quả không qua thụ tinh, gai quả trắng, không đắng [theo 3]. Vào nh ng năm cuối thế kỷ 20, dƣa chuột là loại cây chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất rau trên thế giới.
Nh ng nƣớc dẫn đầu về diện tích gieo trồng và năng suất là: Trung Quốc, Liên Xô, Nhật Bản, Mỹ, Hà Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Aicập, Tây Ban Nha. Theo FAO 1993 diện tích dƣa chuột trên thế giới là 1.000 ha, năng suất 15,56 tấn/ha và sản lƣợng đạt 1. Ở nƣớc ta nh ng năm gần đây dƣa chuột đã trở thành cây rau quan trọng trong sản xuất, có ý nghĩa lớn về hiệu quả kinh tế và giải quyết vấn đề về thực ph m [theo 3]. Phân loại Bộ: Cucurbitales Họ: Cucurbitaceae Chi: Cucumis Loài: C.
sativus Tên tiếng Anh: cucumber 3 Tên khoa học: cucumis sativus L. Họ bầu bí: cucurbitaceae Dƣa chuột dƣa leo, hồ qua , tên nƣớc ngoài Common cucumber (Anh), Concombre Pháp , thuộc họ bầu bí Cucubitaceae [10], chi Cucumis, loài Sativus L., số lƣợng NST 2n = 14 [39]. Có nhiều nhà khoa học đã tiến hành phân loại dƣa chuột, trong đó có nhà thực vật học A. Trên cơ sở nghiên cứu về tiến hóa sinh thái ông đã đƣa ra bảng phân loại chính xác, ông xếp dạng hoang dại vào một trong các loài phụ Ssp.
Agrostis Gab, còn lại các dạng khác là trồng trọt và tập trung vào các loài phụ sau: 1. Europaeo – americanus Fil. Loài phụ Âu – Mỹ là loài phụ lớn nhất về địa bàn phân bố. Loài phụ Tây Á phân bố rộng rãi tại các vùng khô hạn Trung và Tiểu Á, Iran, Afganistan và Azecbaizan với các đặc tính chịu nóng.
Loài phụ Trung Quốc đƣợc sử dụng phổ biến để trồng trong nhà kính ở Châu Âu gồm các giống quá ngắn cần thụ phấn và quả dài không qua thụ phấn. Loài phụ Nhật - Ấn đƣợc phân bố tại khu vực nhiệt đới và á nhiệt đới với lƣợng mƣa lớn [39]. Giá trị của dƣa chuột 1. Giá trị dinh dưỡng Dƣa chuột là loại rau có giá trị dinh dƣỡng cao.
Trong số các loại rau, củ, quả đƣợc dùng làm rau thì dƣa chuột là loại thực ph m chứa nhiều vitamin, khoáng chất và các hoạt chất sinh học, đây là loại thực ph m tốt cho sức khỏe. Giá trị dinh dƣỡng trong 100g dƣa chuột: 0,6g đạm, 0,1g chất béo, 10kcal năng lƣợng, 95g nƣớc, 1,2g đƣờng, 0,8g protit, 3g gluxit, 0,7g xenlulozơ tƣơng đƣơng với nhiều loại rau tƣơi khác nhƣ ngó sen, cải cúc, cải xoong. 4 Ngoài ra, dƣa chuột còn chứa nhiều vitamin và khoáng chất cần thiết cho cơ thể nhƣ caroten 0,3 mg trong 100g, vitamin B1 0,03 mg, vitamin B2 0,04 mg, vitamin PP 0,1 mg, canxi 23 mg, phốt pho 27 mg, sắt 1 mg, kali 150mg/100g , phốt pho 23mg/100g), canxi 19mg/100g , natri 13mg/100g , sắt 1mg/100g), vitamin B, C, tiền vitamin A có trong vỏ dƣa , vitamin E có trong vỏ dƣa). Giá trị kinh tế Theo Trần Khắc Thi [15], dƣa chuột là một trong nh ng loại rau có giá trị kinh tế rất cao trong ngành sản xuất rau của nhiều nƣớc trên thế giới.
Ở Việt Nam, năng suất dƣa chuột bình quân hiện nay xấp xỉ 90% mức trung bình của thế giới 173,1 tạ/ha) với sản lƣợng hàng năm khoảng 300.000 tấn, trong đó ở Đồng bằng sông Hồng có năng suất cao nhất với 204,85 tạ/ha trên diện tích hàng năm hơn 3. Phần lớn dƣa chuột đƣợc sử dụng trong nƣớc ở dạng tƣơi, phần còn lại đƣợc chế biến để xuất kh u. Theo số liệu của Tổng Công ty Rau quả và Nông sản, năm 2003, kim ngạch xuất kh u dƣa chuột đạt gần 11 triệu USD với dƣa chuột muối và dƣa chuột muối [15]. Trong nh ng năm gần đây, diện tích trồng dƣa chuột của cả nƣớc đã đƣợc tăng lên.
Miền Bắc trồng 5.500 ha chiếm 33% diện tích trồng dƣa chuột cả nƣớc , 2/3 diện tích còn lại trồng ở Miền Nam. Bốn tỉnh có diện tích trồng dƣa chuột lớn nhất là An Giang 2.872 ha , Tây Ninh 1.092 ha) và Thái Nguyên (1. Có thể nói dƣa chuột là cây trồng quan trọng mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nƣớc ta trong nh ng năm trở lại đây, góp phần phát triển nền kinh tế chung của cả nƣớc. Giá trị dược liệu Ngoài giá trị về dinh dƣỡng, kinh tế, dƣa chuột còn có nhiều giá trị về dƣợc liệu [37].
5 Giảm axit: tính kiềm của các khoáng chất trong dƣa chuột có tác dụng trung hòa axit trong cơ thể và điều hòa, ổn định độ pH trong máu, nƣớc ép dƣa chuột còn có tác dụng làm dịu hệ tiêu hóa, hỗ trợ điều trị bệnh, dùng cho bệnh nhân viêm loét dạ dày, tá tràng. Điều hòa huyết áp: giống nhƣ nƣớc ép cần tây, nƣớc ép dƣa chuột cũng chứa các khoáng chất có tác dụng điều hòa huyết áp. Giải nhiệt cơ thể: khi thời tiết khô nóng, bạn chỉ cần uống một ly nƣớc ép dƣa chuột sẽ giúp cơ thể thanh nhiệt. L i tiểu: Do đặc tính lợi tiểu, dƣa chuột giúp cơ thể loại bỏ chất thải và độc tố qua nƣớc tiểu, quá trình này cũng giải quyết “vấn đề” sỏi thận.
Hạ sốt: Nƣớc ép dƣa chuột chứa các thành phần có đặc tính điều chỉnh nhiệt độ cơ thể. Vì vậy, khi bị sốt, bạn nên uống một vài ly nƣớc ép dƣa chuột. hống viêm: Theo quan niệm xƣa, dƣa chuột có tính hàn nên không thích hợp với nh ng ngƣời bị đau nhức xƣơng khớp. Tuy nhiên, các phân tích khoa học cho thấy vì dƣa chuột có thể “nhạy cảm” với axit uric, là thủ phạm gây ra các cơn đau.
Khi dƣa chuột vào cơ thể, chúng sẽ làm công việc “dọn dẹp” tại các khớp xƣơng, giúp đào thải axit uric ra ngoài đáng kể. Ngoài ra, dƣa chuột còn có tác dụng chống viêm trong các trƣờng hợp hen suyễn, bệnh gút thống phong. Tăng trưởng tóc: Silic và lƣu huỳnh có trong nƣớc ép dƣa chuột cực kỳ hiệu quả trong việc giúp mọc tóc, đặc biệt là khi ép dƣa chuột với cà rốt và xà lách. Đôi mắt sưng húp: Một số ngƣời thức dậy vào buổi sáng với đôi mắt sƣng húp, có thể do “mù mắt” vì “có niềm tin riêng” trƣớc khi ngủ.
Để giải quyết vấn đề này, bạn chỉ cần đắp 2 lát dƣa chuột lên mắt trong 10 phút. Đẹp a: Do chứa nhiều vitamin C và các chất chống oxy hóa khác, dƣa chuột đã đƣợc các nhà bào chế “chiêu mộ” để sản xuất các loại kem mỹ ph m, kem dƣợc trị bệnh về da nhƣ eczema, vải nến, mụn trứng cá. 6 Da ị ỏng: khi đi nắng, đi bơi biển, da bị phồng rộp, dùng nƣớc ép dƣa chuột thoa lên vùng da bị cháy nắng, da sẽ lấy lại dáng trong thời gian ngắn nhất. Đặc điểm hình thái và yêu cầu ngoại cảnh của cây dƣa chuột 1.
Đặc điểm hình thái * Bộ rễ dƣa chuột Bộ rễ dƣa chuột phát triển rất yếu, rễ chủ yếu phân bố ở lớp đất mặt 30 - 40 cm. Bộ rễ chính tƣơng đối phát triển, phân bố chủ yếu ở tầng canh tác ở độ sâu từ 0 đến 30 cm, rộng 50 - 60 cm. Nếu đất tơi xốp, rễ chính có thể đâm sâu đến 60-100 cm, nếu trong điều kiện lý tƣởng đất trồng dày, nhiều mùn, tơi xốp, thoáng khí rễ chính có thể chui sâu hơn [40]. Nguồn: Internet [40] Hình 1.
Rễ cây dƣa chuột * Thân dƣa chuột Cây thảo thuộc loại hàng năm, dài trung bình 1-3m, có nhiều tua để bám vào khi bò. Thân tròn hay góc cạnh, lông nhiều hay ít tùy theo giống. Thân chính thƣờng phân nhánh, nhƣng có nh ng giống dƣa chuột hoàn toàn không phân nhánh. Chiều dài thân phụ thuộc vào điều kiện trồng trọt và giống.
Giống trồng ngoài ruộng thƣờng dài 0,5-2m, giống trồng trong nhà kính có thể dài 5m. 7 Sự phân cành của cây phụ thuộc vào nhiệt độ ban đêm. Thân trên lá mầm và lóng trong điều kiện m độ cao có thể hình thành nhiều rễ phụ [40]. Nguồn: Internet [40] Hình 1.
Thân cây dƣa chuột * Lá dƣa chuột Lá dƣa chuột gồm có lá mầm và lá thật. + Lá mầm: lá mầm đầu tiên mọc lên có dạng hình trứng tròn dài có nhiệm vụ quang hợp tạo ra vật chất lá và cây mới. + Lá thật là nh ng lá đơn to mọc ở thân, lá hơi hình tam giác (hình chân vịt 5 cạnh hai mặt của phiến lá có lông, cuống lá dài 5-15 cm; mép nguyên hoặc răng cƣa. Các lá trên cùng một cây cũng khác nhau về kích thƣớc và hình dạng [40].
Nguồn: Internet [40] Hình 1. Lá mầm cây dƣa chuột 8 Nguồn: Internet [40] Hình 1. Lá cây dƣa chuột * Hoa dƣa chuột Hoa dƣa chuột là hoa đơn tính. Hoa cái mọc ở nách lá thành từng cặp riêng biệt, hoa đực mọc thành chùm từ 5-7 bông, hoa dƣa chuột cũng có hoa lƣỡng tính.
Có giống có cả ba loại hoa trên cây và có giống chỉ có một loại hoa. Hoa màu vàng, do côn trùng thụ phấn, bầu nhụy của hoa cái phát triển rất nhanh ngay trƣớc khi nở. Sự biến đổi về đặc điểm giới tính ở dƣa chuột rất rộng, đây là khả năng thích ứng mạnh của cây với điều kiện môi trƣờng. Các cây khác giới trên dƣa chuột đƣợc nghiên cứu chọn tạo để sử dụng trong nghiên cứu và lai tạo [40].
Ảnh Hoàng Thị Huế Hình 1. Hoa dƣa chuột 9 * Quả dƣa chuột Quả non có gai sần sùi, khi quả lớn gai dần biến mất. Quả từ khi hình thành có màu xanh lục, xanh nhạt, có hoa văn sọc, vằn, gai khi chín chuyển sang màu vàng đậm, nâu hoặc xanh trắng.