Mở đầu là mô hình lý thuyết về cấu trúc trí tuệ gồm 120 thành tố của Guilfort, trong đó trí tuệ của con người được phân định thành hai phần cơ bản là trí thông minh (intelligence) hiểu theo nghĩa truyền thống và tính sáng tạo 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nhiều mô hình lý thuyết về cấu trúc của tính sáng tạo đã ra đời trong thời gian này trong đó có thể kể đến hoạt động nghiên cứu của các nhà tâm lý học Mỹ như John Henry Holland, Donald Wallace Mackinnon, Benjamin Samuel Bloom, Ellis Paul Torrance, Richard Block. Họ đã quan tâm nghiên cứu và xuất bản những tài liệu quan trọng về sáng tạo như: các tiêu chuẩn cơ bản của hoạt động sáng tạo, sự khác biệt giữa sáng tạo và không sáng tạo, những thuộc tính của nhân cách sáng tạo, vấn đề kích thích hoạt động sáng tạo.Torrance cho rằng, sáng tạo là một quá trình trong đó chủ thể cân nhắc những yếu tố khách quan, chủ quan, khám phá, tìm tòi các giả thuyết, thử nghiệm, khi đó con người sẽ thử đi thử lại các giả thuyết đó và cuối cùng tìm ra kết quả. Ông đã chỉ ra các thuộc tính của sự sáng tạo gồm: tính nhanh nhạy (fluency), tính linh hoạt (flexibility), tính chi tiết (elaborality) và tính độc đáo (originality).
Còn nhà tâm lý học R. Block lại nêu ra ba yếu tố của sự sáng tạo là tưởng tượng, nhu cầu và yếu tố ngẫu nhiên sau khi nghiên cứu tiểu sử của hơn 200 nhà khoa học ở các thời đại khác nhau. Theo Block, yếu tố học tập và năng khiếu bẩm sinh tác động rất ít đến sáng tạo; bằng chứng ông đưa ra là một số nhà khoa học có kết quả học tập khi còn nhỏ rất kém. Tiếp sau Mỹ, một số quốc gia Châu Âu cũng có những nghiên cứu về sáng tạo: chẳng hạn như Vương quốc Anh với các nghiên cứu về sáng tạo ở trẻ em; ở Liên Xô, các nhà tâm lý học cũng đã tiến hành nghiên cứu có hệ thống, toàn diện về tính sáng tạo của con người.Luk nghiên cứu những vấn đề lý luận chung của hoạt động sáng tạo (bản chất, quá trình, sản phẩm sáng tạo.) và ông coi hoạt động sáng tạo là biểu hiện cao nhất của đời sống tâm lý con người, được thực hiện theo các giai đoạn.
Còn theo Sergej Leonidovich Rubinstein và Lep Xemionvich Vưgotxki, tư duy và tưởng tưởng có ảnh hưởng to lớn đối với hoạt động sáng tạo. Sáng tạo là một 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoạt động và tư duy là nội dung cơ bản. Vưgotxki cho rằng sáng tạo là hoạt động tạo ra cái mới, đa dạng, không phân biệt kết quả có ý nghĩa hiện thực hay không. Rubinstein khẳng định lao động là sáng tạo và trong lao động có tư duy, trong tư duy có sáng tạo, sáng tạo là phẩm chất của tư duy, sản phẩm của sáng tạo là những chất liệu mới có ý nghĩa xã hội.
Cùng với Liên Xô, Đức, Italia cũng cho xuất bản một số công trình nghiên cứu trong khi Pháp cũng có một vài nghiên cứu trong lĩnh vực sáng tạo. Tiêu biểu trong số đó có Abraham Moles với nghiên cứu về sáng tạo trong lĩnh vực khoa học và đổi mới. Nhà tâm lý học này đã cho xuất bản hai cuốn sách Sáng tạo trong khoa học (La création scientifique - 1957) và Sáng tạo và các phương phương pháp đổi mới (Créativité et méthodes d'innovation – 1970). Ngoài ra còn có các nhà tâm lý học như Bernard Demory với các nghiên cứu về sáng tạo trong thực tiễn hay Rachel Desrosiers với nghiên cứu năng lực sáng tạo trong ngôn ngữ của trẻ em… Xét về phương pháp nghiên cứu trí sáng tạo, các nhà khoa học nước ngoài chủ yếu tiến hành theo các phương pháp sau: Phương pháp hồi cứu tiểu sử: Phương pháp này chính là việc nghiên cứu tiểu sử của các vĩ nhân, những con người nổi tiếng trong quá khứ.
Phương pháp này được các nhà nghiên cứu như Cattell, Wiener, Ghiselin áp dụng với việc nghiên cứu tiểu sử của Newton, Huxley, Lord Kevin, Freud, Bacon, Cannon, Poincaré. Phương pháp nghiên cứu lịch sử : Phương pháp này sử dụng tất cả các nguồn thông tin về một người hoặc một nhóm người xuất sắc. Nhà nghiên cứu sẽ xem xét các khía cạnh, các phẩm chất của người được nghiên cứu từ lúc ấu thơ đến khi trưởng thành. Điển hình cho phương pháp này là các nghiên cứu của Lewis Terman, W.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phương pháp điều tra thống kê: Đây là phương pháp nghiên cứu các tài liệu in ấn, tiểu sử, bách khoa toàn thư, cho phép phát hiện ra các đặc trưng cơ bản của trí sáng tạo từ nhiều yếu tố khác nhau. Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Nhà nghiên cứu sẽ quan sát kỹ lưỡng (có thể tiến hành thêm hình thức phỏng vấn) đối tượng nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu này cung cấp một số lượng thông tin đáng kể liên quan đến nhân cách của đối tượng đó. Nữ tâm lý học người Mỹ Anna Roe là người đầu tiên mở hướng nghiên cứu này từ những năm 1950 bằng các test thiết kế dành riêng cho nghiên cứu sáng tạo, bà đã áp dụng cho 20 nhà sinh vật học, 22 nhà vật lý, 14 nhà tâm lý và 8 nhà nhân loại học.
Năm 1962, Jerome Bnuner rồi đến MacKinnon cũng áp dụng phương pháp này để nghiên cứu tính sáng tạo của một nhóm người. Phương pháp nghiên cứu tâm thần học: Đây chính là phương pháp nghiên cứu của nhà tâm lý học Guilford và các cộng sự của ông tại trường Đại học Bắc California với việc tạo ra và hoàn thiện các trắc nghiệm về trí sáng tạo. Xét về hướng nghiên cứu: Nghiên cứu về vấn đề sáng tạo ở nước ngoài có thể tựu trung thành một số hướng nghiên cứu dưới các góc độ như sau: Nghiên cứu sáng tạo dưới góc độ nhân cách; góc độ quá trình sáng tạo; góc độ văn hóa; góc độ sinh lý thần kinh và dưới góc độ phân tích sản phẩm hoạt động. Hiện nay, nghiên cứu về sáng tạo đã lan rộng và phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới.
Tâm lý học, với việc chỉ ra bản chất, con đường phát triển sáng tạo, giữ một vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu sáng tạo ở con người. Áp dụng những thành tựu của các nghiên cứu về sáng tạo, nhiều nước trên thế giới, trong đó có các nước vùng Châu Á-Thái Bình Dương đã đưa những nội dung chương trình và phương pháp giáo dục, đào tạo con người sáng tạo vào việc xây dựng chiến lược con người, Những trung tâm nghiên cứu tính sáng tạo được thành lập, các hội thi sáng tạo nghệ thuật, khoa 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com học-kỹ thuật và những cuộc thi theo từng môn học, chuyên ngành đang được định kỳ tổ chức. Có thể kể ra ở đây những cuộc thi như Olympic quốc tế, quốc gia; Robocon, Intel ISEF (Intel International Science and Engineering Fair), Best Innovator. Nghiên cứu sáng tạo ở Việt Nam Ở nước ta, việc nghiên cứu phát triển sáng tạo của con người trong tâm lý học, giáo dục học và các khoa học có liên quan đến nay chưa nhiều.
Các nhà tâm lý học, giáo dục học, giáo viên các cấp học và nhất là các nhà quản lý giáo dục và quản lý nhân sự còn ít quan tâm, nói cách khác là biết rất ít thông tin về vấn đề tính sáng tạo của con người. Hiện tại, chưa có một công trình khoa học nào đánh giá có hệ thống bằng phương pháp kỹ thuật đáng tin cậy trên quy mô đủ thuyết phục về khả năng sáng tạo của người Việt Nam ở độ tuổi khác nhau. Tuy nhiên, trong lĩnh vực nghiên cứu lý thuyết, đã có một số tác giả cho xuất bản một số tài liệu nghiên cứu về sáng tạo, trong số đó phải kể đến Phan Dũng, người đã đề cập đến vấn đề lý luận sáng tạo như phương pháp luận sáng tạo, cách tiếp cận xây dựng phương pháp luận sáng tạo, các nguyên tắc và phương pháp sáng tạo, các quy luật phát triển hệ thống. Bên cạnh đó, trong khuôn khổ các chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước (KX-07 và KHXH-04), tác giả Nguyễn Huy Tú là một trong những người đầu tiên nghiên cứu về tính sáng tạo, đánh giá tính sáng tạo và con đường phát huy tính sáng tạo của trẻ em và con người Việt Nam.
Ông đã nghiên cứu, chuẩn hóa và ứng dụng các bộ trắc nghiệm của nước ngoài để đánh giá tính sáng tạo của học sinh, sinh viên Việt Nam. Từ 2001-2005, tác giả Trần Kiều và các cộng sự (Viện KHGD VN) đã thực hiện đề tài khoa học cấp nhà nước về nghiên cứu phát triển trí tuệ (IQ, EQ, CQ) của học sinh, sinh viên và lao động trẻ đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH đất nước. Năm 2007, tác giả Nguyễn Công 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khanh chủ trì đề tài mã số QCL 0604 “nghiên cứu chỉ số sáng tạo của sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội” trên cơ sở trắc nghiệm sáng tạo STAT-A đã được thiết kế lại. Ngoài ra, còn một số tác giả cũng đã sử dụng các bộ trắc nghiệm của nước ngoài (đã thiết kế lại để phù hợp với người Việt Nam) để đo lường chỉ số sáng tạo của học sinh, sinh viên như Trần Văn Tính với đề tài “Tính sáng tạo trong trò chơi học tập của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi”; tác giả Đặng Thị Vân với các đề tài "Đo lường chỉ số sáng tạo của sinh viên một số ngành trường đại học nông nghiệp Hà Nội"; "Biểu hiện sáng tạo trong học tập của sinh viên trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội"; "Nghiên cứu tiềm năng sáng tạo của sinh viên đại học nông nghiệp qua trắc nghiệm ngôn ngữ của Shoppe".
Trong lĩnh vực đào tạo, đã xuất hiện các trung tâm nghiên cứu và giảng dạy sáng tạo cho học sinh, sinh viên như Trung tâm sáng tạo khoa học-kỹ thuật thuộc ĐHQG TPHCM; các khóa học về phương pháp luận sáng tạo và đổi mới tại Trung tâm sáng tạo khoa học - kỹ thuật (TSK) của PGS.TSKH Phan Dũng; Các khóa học về tâm lý sáng tạo được tổ chức với dự tham gia giảng dạy của các giáo sư như Nguyễn Huy Tú, Lê Đức Phúc, Nguyễn Công Khanh, Phạm Thành Nghị.