Chương I QUAN LY TONG HỢP CHẤT THAI RAN TAI THANH PHO DA NANG 1. Giới thiệu Việc xử lý chất thải rắn một cách hợp lý đã và đang đặt ra những vấn đề bức xúc đối với hầu hết các tỉnh, thành của nước ta. Lâu nay, rác thải thường được chôn lấp ở các bãi rác hở hình thành một cách tự phát. Hầu hết các bãi rác này đều thiếu hoặc không có các hệ thống xử lý ô nhiễm lại thường đặt gần khu dân cư, gây những tác động tiêu cực đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Mặt khác, sự gia tăng nhanh chóng của tốc độ đô thị hóa và mật độ dân cư ở các thành phố đã gây ra những áp lực lớn đối với hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị hiện nay. Việc lựa chọn mô hình quản lý tổng hợp chất thải rắn một cách hợp lý vì vậy có ý nghĩa hết sức quan _trọng đối với công tác bảo vệ môi trường và tiết kiệm tài nguyên. Vật chất từ khi được đưa vào sản xuất đến khi tiêu hủy, chôn lấp nói chung được thể hiện theo sơ đồ tổng quát sau đây: Tài nguyên thiên nhiên (Nguyên liệu) - r———San xuat va Ché tao ——————————————,D Sử dụng và tiêu dùng. Giảm thiểu và Tái sử dụng ————>Phát sinh Chất thải (dân cư, thương nghiệp, công nghiệp, bệnh viện.) $ * Tái chế —— Quản lý tại chỗ, Lưu giữ, Chế biến Thu gom và vận chuyển Xử lý cuối Một bộ phận rác được tái sử dụng ngay tại nguồn phát sinh (chẳng hạn chai, lọ, bình nhựa.) không phải qua công đoạn tái chế.
Một bộ phận khác được thu hồi dưới dạng nguyên liệu để đưa vào sản xuất. Việc thu hồi rác để làm nguyên liệu tái chế có thể được thực hiện ở các công đoạn khác nhau từ lúc nó được phát sinh đến khi nó được tiêu hủy hay chôn lấp. Tái sử dụng và tái chế làm giảm đáng kể lượng rác thải phải xử lý cuối cùng. Công nghệ xử lý chất thải rắn thường được phối hợp giữa chôn lấp và đốt hay sản xuất phân vi sinh.
Việc lựa chọn công nghệ phù hợp cần được xem xét trên cả hai phương diện kinh tế lẫn môi trường dựa trên những tiêu chí của kinh tế chất thải. Thu gom và vận chuyển rác là một khâu rất quan trong trong so dé quan ly tổng hợp chất thải rắn. Tổ chức tốt hệ thống thu gom và vận chuyến rác với những phương tiện phục vụ hợp lý sẽ làm tăng năng lực của cả hệ thống và làm giảm giá thành trên một đơn vị rác xử lý. Đà Nẵng là một trong những thành phố có tốc độ đô thị hóa cao trong cả nước.
Việc xử lý chất thải rắn của Thành phố Đà Nẵng hiện nay chủ yếu được thực hiện bằng cách chôn lấp ở bãi rác Khánh a ` ~* z 2 ˆ z ~, Sumping Gr % Sơn. Đây là bãi rác hở, không có những ee Ð £ x wk 2 , ; 3 sa. hệ thông cân thiết để tránh các ảnh VU oe ewan ves : aetunl meneraton Part hưởng tiêu cực đên môi trường. Mặt 'Tuas Marine PCT khác, với đà gia tăng lượng rác thải như << 7 PET hiện nay, bãi rác Khánh Sơn sẽ không đủ khả năng tiếp nhận rác trong vài năm tới.
Do đó, với sự giúp đỡ của WB, Thành Hình 1.1: Co so ha tang xử lý rác ở phố đã cho qui hoạch xây dựng một bãi Singapore chôn lấp rác hợp vệ sinh mới, bên cạnh bãi chôn lấp rác cũ dé tăng năng lực xử lý rác của Thành phố. Kinh nghiệm của các nước trong khu vực Những nước đang phát triển trong khu vực đã quan tâm từ rất sớm việc xử lý chất thải rắn. Singapore là một ví dụ điển hình. Là một nước nhỏ, Singapore không có nhiều đất đai để chôn lấp rác như những quốc gia khác nên đã kết hợp xử lý Hinh 1.2: Bãi chôn lắp rác Semakau Singapore rác bằng phương pháp đốt và chôn lấp.
Cả nước Singapore có 3 nhà máy đốt rác (hình 1. Những thành phần chat thai ran không cháy được chôn lấp ở bãi chôn lấp rác ngoài biển. Bãi chôn lấp rác Semakau được xây dựng bằng cách đắp đê ngăn nước biển ở một đảo nhỏ ngoài khơi Singapore (hình 1. Rác thải từ các nguồn khác nhau được đưa đến trung tâm phân loại rác.
Ở đây rác được phân loại ra những thành phần cháy được và thành phần không cháy được. Những chất cháy được được chuyển tới các nhà máy đốt rác còn những chất không cháy được được chớ đến cảng trung chuyên (hình 1,3), dé lên xà lan để chở ra khu chôn lắp rác. Ở đây rác thải lại một lần nữa chuyển lên xe tải để đưa đi chôn lấp (hình 1.3: Cảng trung chuyển rác Tuas South Hinh 1.4: Chôn lắp chất thải rắn ở Semakau Tổ chức xử lý rác của Singapore sẽ tiết kiệm được đất đai xây dựng bãi chôn lấp rác. Tuy nhiên các giải pháp này rất tốn kém, đòi hỏi đầu tư ban đầu rất lớn.
Các công đoạn của hệ thống quản lý rác hoạt động phải hết sức nhịp nhàng và ăn khớp với nhau từ khâu thu gom, phân loại, vận chuyển đến tận khi xử lý bằng đốt hay chôn lắp. Xử lý khí thải từ các lò đốt rác cần phải được thực hiện một cách triệt để theo qui trình nghiêm ngặt để tránh sự chuyên dịch ô nhiễm từ dạng rắn sang dạng khí. Xây dựng bãi chôn lấp rác trên biển sẽ tiết kiệm được đất đai trong đất liền và mở rộng thêm đất khi khi đóng bãi. Tuy nhiên để xây dựng được những bãi chôn lấp rác như vậy cần có sự đầu tư không Vt Ream: —.ei |, rate a Hình 1.35: Qui trình xử ly.
rác ở Thái Lan lồ để đảm bảo sự an toàn trong quá trình vận hành bãi cũng như việc xử lý môi trường. Ở Thái Lan sự phân loại rac dugc thyc hign ngay —prinh 1.6: Xe cho rdc sau khi đã phân loại tại nguồn từ nguôn. Người ta chia ra 3 ở Thái Lan loại rác và bỏ vào 3 thùng riêng: những chất có thể tái sinh, thực phẩm và các chất độc hại (hình 1. Các loại rác này được thu gom và chở bằng các xe ép rắc có màu sơn khác nhau (hình 1.
Rác tái sinh sau khi được phân loại sơ bộ ở nguồn phát sinh được chuyên dến nhà máy phân loại rác để tách ra các loại vật liệu khác nhau sử dụng trong tái sản xuất (hình 1. Chất thải thực phẩm được chuyển đến nhà máy chế biến phân vi sinh.7: Vật liệu tái sinh sau khi phản loại lại tai nha may Những chất còn lại sau khi tái sinh hay chế biến phân vi sinh được xử lý bằng chôn lấp. Chất thải độc hại được xử lý bằng phương pháp đốt. Một trung tâm xử lý rác hoàn thiện của Thái Lan bao gồm tất cả các đơn vị nói trên (chẳng hạn trung tâm xử lý rác On-Nuch ở Bangkok).
Ngoài ra Thái Lan còn kết hợp các quá trình xử lý rác trên đây với phương pháp đốt. Chẳng hạn lò đốt rác ở Phukhet có công suất trên 250 tấn râc/ngày hoạt động kèm theo bãi chôn lấp rác nhỏ để chôn lấp tro và những chất không cháy được. Việc thu gom rác ở Thái Lan được tổ chức rất chặt chẽ. Ngoài những phương tiện cơ giới lớn như xe ép rác được sử dụng trên các đường phố chính, các loại xe thô sơ cũng được dùng để vận chuyển rác đến các điểm tập kết, Rác trên sông, rạch được vớt bằng các thuyền nhỏ của cơ quan quản lý môi trường (hình 1.
Rác thải được thu gom và vận chuyển đến các trung tâm xử lý rác hằng ngày từ 18h00 tối hôm trước đến 3h00 sáng hôm sau. Các địa điểm xử lý rác của Thái Lan đều cách xa trung tâm thành phố ít nhất 30km. “Kinh nghiệm của các nước điển hình trên đây cho chúng ta những ý tưởng bổ ích trong chất thải rắn. Những yếu tố cơ bản cần được xem xét để quyết định phương án xử lý chất thải rắn là bản đồ qui hoạch tổng Hình 1.8: Thu gom rác trên sông ở Thái Lan thé, thành phân chất thải, khả năng đầu tư và các tiêu chỉ liên quan đến ô nhiễm môi trường.
Phương án xử lý chất thải rắn ở Đà Nẵng 1. TỔ chức thu gom rác Công ty Môi trường Đô thị thành phố Đà Nẵng đám nhận việc thu gom và xử lý rác thải của toàn thành phố. Hầu hết chất thải rắn do Công ty thu gom xuất phát chủ yếu từ nhà dân, cửa hàng, bệnh viện, các cơ quan công sở, xí nghiệp công nghiệp, rác đường phố, rác chợ. Hơn 70% các hộ dân sinh sống trong thành phố Đà Nẵng hợp đồng với Công ty Môi trường Đô thị về dịch vụ thu gom chất thải rắn.
Phương tiện thu gom rác thải trên các đường thành phố được thực hiện bằng các xe cuốn ép, còn lại dùng xe đẩy tay để thu gom rác từ các hộ và các khu thương mại tại các đường phố hẹp, nơi mà xe cuốn ép không thể vào được. Thành phần chủ yếu của rác thải tại Thành phố Đà Nẵng là các chất hữu cơ có thể phân hủy được. Các chất này phần lớn bắt nguồn từ rác thải sinh hoạt, rác thải từ các chợ và các khu thương mại. Các chất thải vô cơ, đặc biệt là kim lọai được thu hồi để tái sinh ngay từ nguồn phát sinh nên hàm lượng của chúng trong rác chiếm tỉ lệ thấp.
Thành phần rác thải của thành phố Đà Nẵng như sau: Thành phần % Khối lượng 1. Các chất có thể sử dụng trong 88,23 —__—_—__-. Các chất hữu cơ dễ phân hủy 79,41 1. Cành cây, gỗ có “1,52 2.
Các chất có thé tai sinh 9,22 2. Kim loại các loại S — 0/83 m% - 3. Các chất hữu cơ khó phân hủy 2,55 và các chat tro’. Cao su | ost 32.
Thuy tinh vun 0,64 3. Sanh sur s 1,08 Kết quả phân tích trên đây cho thấy thành phần chủ yếu của rác thải tại Đà Nẵng là các chất hữu cơ dễ phân hủy. Do vậy phương án xử lý rác thải hợp lý nhất là sản xuất phân vi sinh (có thể sử dụng 88,23% chất thải), kết hợp với thu hồi những chất rắn có thể tái sinh (9,22%). Bãi chôn lấp rác vì vậy chỉ chứa lượng chất thải còn lại (2,55%) cộng với lượng chất thải phát sinh trong quá trình tái sinh vật liệu hay sản xuất phân vi sinh.
Do hàm lượng các chất có thể cháy được trong rác thải thấp nên phương án đốt rác đối với Đà Nẵng là không phù hợp. Tuy nhiên việc xử 1lình 1.