LỜI MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền công nghiệp nƣớc ta, tình hình ô nhiễm môi trƣờng cũng gia tăng đến mức báo động. Do đặc thù của nền công nghiệp mới phát triển, chƣa có sự quy hoạch tổng thể và nhiều nguyên nhân khác nhau nhƣ: điều kiện kinh tế của nhiều xí nghiệp còn khó khăn hoặc do chí phí xử lý ảnh hƣởng đến lợi nhuận nên hầu nhƣ chất thải công nghiệp của nhiều nhà máy chƣa đƣợc xử lý mà thải thẳng ra môi trƣờng. Mặt khác nƣớc ta là một nƣớc đông dân, có mật độ dân cƣ cao, nhƣng trình độ nhận thức của con ngƣời về môi trƣờng còn chƣa cao. Điều đó dẫn tới sự ô nhiễm trầm trọng của môi trƣờng sống, ảnh hƣởng đến sự phát triển toàn diện của đất nƣớc, sức khoẻ, đời sống của nhân dân cũng nhƣ mỹ quan của khu vực.
Trƣớc các thách thức về môi trƣờng chúng ta đã nghiên cứu và ứng dụng hàng loạt các biện pháp khác nhau cả về vật lý, hóa học, hóa lý và hóa sinh để loại bỏ ô nhiễm. Một trong những phƣơng pháp đƣợc ƣa chuộng là phƣơng pháp hấp phụ. Hấp phụ là phƣơng pháp đƣợc nghiên cứu phát triển từ rất lâu và đem lại độ hiệu quả cao. Con ngƣời chế tạo vật liệu hấp phụ để xử lý ô nhiễm môi trƣờng nƣớc, ô nhiễm môi trƣờng không khí, sử dụng trong các sản phẩm dân dụng, quốc phòng.
trong các loại vật liệu hấp phụ phải kể đến than hoạt tính. Đây là loại vật liệu dễ tổng hợp, hiệu quả hấp phụ cao đang đƣợc sử dụng rộng rãi nhất. Than hoạt tính tuy đem lại hiệu quả xử lý cao tuy nhiên giá thành không phải là rẻ, việc tìm ra một loại vật liệu chế tạo sẵn có, phổ biến có thể ứng dụng rộng rãi là rất cần thiết. Các loại phụ phẩm nông nghiệp là đối tƣợng mà các nhà khoa học hƣớng tới nhiều.
Lý do là vì sử dụng phụ phẩm nông nghiệp để chế tạo than hoạt tính vừa có vật liệu hấp phụ để xử lý ô nhiễm, vừa tận dụng đƣợc nguồn thải từ nông nghiệp vô cùng lớn tránh làm ô nhiễm môi trƣờng. Ở Việt Nam đã nghiên cứu sản xuất than hoạt tính từ một số loại phụ phẩm nông nghiệp nhƣ gáo dừa, sơ dừa,. Tuy nhiên có thể nhận thấy rằng các sản phẩm than hoạt tính đƣợc sản xuất ra có giá thành tƣơng đối cao và chủ yếu đƣợc xuất khẩu sang nƣớc ngoài. Nguyên nhân là do các phụ phẩm này ngoài tác dụng làm 1 than hoạt tính thì còn có giá trị về thủ công mỹ nghệ nên giá thành thu mua nguyên liệu cũng từ đó mà tăng lên.
Trong khi đó còn có một loại phế phẩm nông nghiệp với hàm lƣợng cacbon trong thành phần cao có tiềm năng lớn trong việc chế tạo thành vật liệu hấp phụ là thân cây sắn thì lại ít đƣợc quan tâm. Vì các lý do trên tôi quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu chế tạo than hoạt tính từ thân cây sắn và ứng dụng xử lý một số chất ô nhiễm trong nước” với mong muốn góp một phần nhỏ trong công cuộc bảo vệ môi trƣờng. 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Than hoạt tính 1.1 Giới thiệu chung về than hoạt tính Có rất nhiều định nghĩa về than hoạt tính, tuy nhiên có thể nói chung rằng, than hoạt tính là một dạng của cacbon đã đƣợc xử lý để mang lại một cấu trúc rất xốp, do đó có diện tích bề mặt rất lớn. Than hoạt tính là chất hấp phụ linh hoạt, đƣợc sử dụng rộng rãi cho nhiều mục đích nhƣ loại bỏ màu, mùi, vị không mong muốn và các tạp chất hữu cơ, vô cơ trong nƣớc thải công nghiệp và sinh hoạt, thu hồi dung môi, làm sạch không khí, trong kiểm soát ô nhiễm không khí từ khí thải công nghiệp và khí thải động cơ, trong làm sạch nhiều hóa chất, dƣợc phẩm, sản phẩm thực phẩm và nhiều ứng dụng trong pha khí.
Chúng đƣợc sử dụng ngày càng nhiều trong lĩnh vực luyện kim để thu hồi vàng, bạc, và các kim loại khác, làm chất mang xúc tác. Chúng cũng đƣợc biết đến trong nhiều ứng dụng trong y học, đƣợc sử dụng để loại bỏ các độc tố và vi khuẩn của một số bệnh nhất định [17]. Cacbon là thành phần chủ yếu của than hoạt tính với hàm lƣợng khoảng 85 – 95%. Bên cạnh đó than hoạt tính còn chứa các nguyên tố khác nhƣ hidro, nitơ, lƣu huỳnh và oxi.
Các nguyên tử khác loại này đƣợc tạo ra từ nguồn nguyên liệu ban đầu hoặc liên kết với cacbon trong suốt quá trình hoạt hóa và các quá trình khác. Thành phần các nguyên tố trong than hoạt tính thƣờng là 88% C, 0. Tuy nhiên hàm lƣợng oxy trong than hoạt tính có thể thay đổi từ 1 - 20% phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu ban đầu, cách điều chế [19]. Than hoạt tính thƣờng có diện tích bề mặt nằm trong khoảng 800 đến 1500m2/g và thể tích lỗ xốp từ 0.
Diện tích bề mặt than hoạt tính chủ yếu là do lỗ nhỏ có bán kính nhỏ hơn 2nm. Hiện nay trên thị trƣờng than hoạt tính đƣợc bán với 3 dạng chủ yếu + Than hoạt tính dạng bột + Than hoạt tính dạng hạt + Than hoạt tính cải tiến (dƣới áp suất cao) thƣờng là dạng viên 3 1.2 Nguồn gốc than hoạt tính Than hoạt tính ở dạng than gỗ đã hoạt hóa đƣợc sử dụng từ nhiều thế kỷ trƣớc. Ngƣời Ai cập sử dụng than gỗ từ khoảng 1500 trƣớc công nguyên làm chất hấp phụ cho mục đích chữa bệnh. Ngƣời Hindu cổ ở Ấn độ làm sạch nƣớc uống của họ bằng cách lọc qua than gỗ.
Việc sản xuất than hoạt tính trong công nghiệp bắt đầu từ khoảng năm 1900 và đƣợc sử dụng làm vật liệu tinh chế đƣờng. Than hoạt tính còn đƣợc sử dụng trong các mặt nạ phòng độc trong thế chiến thứ nhất. - Năm 1793 Ken-xơ đã dùng than gỗ để hút mùi hôi ở những vết thƣơng có tính hoại tử. - Năm 1773 Silo đã quan sát và mô tả hiện tƣợng hấp phụ trên than gỗ.
- Năm 1777 Phôn-tan-na đã đƣa than nóng đỏ vào ống chứa khí úp ngƣợc trên thủy ngân và nhận thấy phần lớn khí trong ống bị than hút mất. - Trong lĩnh vực dung dịch, năm 1785 Tô-vơlo-vit đã thấy than gỗ có thể tẩy màu nhiều dung dịch. - Năm 1794 Lip-man cũng thấy than gỗ tẩy màu tốt các dung dịch đƣờng mía - 1805 Gu-li-on đã dung than gỗ để tẩy màu trong công nghiệp đƣờng. Sang đầu thể kỷ 20, vào năm 1922 Bi-si mới thành công trong việc chế tạo than tẩy màu.
-Than đƣợc chế tạo bằng cách trộn than máu với potdineeg rửa và sấy. - Năm 1872 Han-xơ nghiên cứu khả năng than sọ dừa hấp thụ N2, H2 ,NH3 và HCN ở khoảng nhiệt độ từ 0-70°C thấy HCN đƣợc hấp thụ tốt hơn NH3, N2 , H2 [17,18]. Ở nƣớc ta từ những năm đâu thập kỷ 60 đã nghiên cứu một số than hoạt tính dung cho mặt nạ phòng độc và phục vụ nhu cầu phát triển.3 Tính chất vật lý và hóa học của than hoạt tính 1.1 Tính chất vật lý a. Kích thƣớc hạt Có nhiều nhiều phƣơng pháp sản xuất than hoạt tính khác nhau nên các loại than hoạt tính có nhiều tính chất, hình dạng và kích thƣớc hạt khác nhau.
Trƣớc khi đƣa vào sử dụng cần xác định đƣợc các thông số nhƣ kích thƣớc hạt và diện tích bề 4 mặt riêng của hạt than, vì những thông số này là một trong những nhân tố ảnh hƣởng trực tiếp đến tính chất của than hoạt tính. Ngƣời ta thƣờng sử dụng hai phƣơng pháp để xác định kích thƣớc hạt than là: - Phƣơng pháp hiển vi điện tử - Phƣơng pháp hấp phụ lên bề mặt Phƣơng pháp xác định trực tiếp bằng kính hiển vi điện tử cho giá trị đƣờng kính trung bình hạt than với các phƣơng pháp sản xuất khác nhau. Ví dụ than máng có đƣờng kính hạt trung bình là 100 ÷ 300 Å; than sản xuất bằng lò lỏng có đƣờng kính hạt trung bình là 180 ÷ 600 Å; than sản xuất bằng lò khí có đƣờng kính hạt trung bình là 400 ÷ 800 Å. Phƣơng pháp nhiệt phân cho than hoạt tính có đƣờng kính hạt trung bình lớn nhất là 1400 ÷ 4000 Å.
Cấu trúc than hoạt tính Cấu trúc của than hoạt tính đƣợc đánh giá bằng mức độ phát triển cấu trúc bậc nhất của nó. Mức độ phát triển cấu trúc này phụ thuộc vào phƣơng pháp sản xuất và nguyên liệu đầu đƣa vào để sản xuất than. Cấu trúc bậc nhất phát triển mạnh nhất trong than sản xuất bằng phƣơng pháp lò. Liên kết hóa học C – C đảm bảo cho cấu trúc có độ bền cao.
Số lƣợng các hạt than sơ khai có cấu trúc dao động từ vài hạt đối với than có cấu trúc thấp đến 600 hạt đối với than có cấu trúc cao. Trong thời gian bảo quản, các cấu trúc bậc nhất của than hoạt tính tiếp xúc với nhau, liên kết lại với nhau tạo thành liên kết bậc hai của than hoạt tính. Mức độ bền vững của cấu trúc bậc hai phụ thuộc vào độ bền liên kết giữa các cấu trúc bậc nhất và dao động trong khoảng độ bền của liên kết Van der Waals đến độ bền liên kết hydro có trong than. Cấu trúc bậc hai càng bền vững khi các hạt than có kích thƣớc càng nhỏ, mức độ nhám bề mặt càng lớn và hàm lƣợng các nhóm chứa oxy trên bề mặt than càng cao [9].
Cấu trúc của than hoạt tính có thể xác định trực tiếp bằng kính hiển vi điện tử và có thể đánh giá gián tiếp qua lƣợng dầu đƣợc than hoạt tính hấp phụ (trị số dầu của than). Trị số dầu của than họa tính là lƣợng dầu hay lƣợng chất lỏng không bốc hơi (ml), trơ hóa học với than hoạt tính đƣợc hấp phụ lên bề mặt của than họa tính tạo thành bột nhão. Theo lý thuyết, lƣợng dầu hấp phụ này chính là khoảng không gian giữa các hạt than khi các hạt than này nằm sát với hạt kia. Nếu cấu trúc của 5 than càng lớn, mức độ kết bó chặt chẽ của than giảm, lƣợng dầu cần thiết để trộn miết với than càng nhiều hơn.
Nhƣ vậy, trị số dầu là đại lƣợng tổng hợp để đánh giá giá trị diện tích bề mặt riêng và mức độ cấu trúc của than hoạt tính. Khối lƣợng riêng Khối lƣợng riêng của than hoạt tính là đại lƣợng phụ thuộc vào phƣơng pháp xác định nó.