CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. TỔNG QUAN VỀ SƠN VÀ CHẤT TẠO MÀNG 1.1 Lịch sử phát triển [6,7,8] Lần đầu tiên sơn được người nguyên thủy sử dụng cách đây 25000 năm. Họ sử dụng chúng vẽ trên cách hang những hình thù và màu sắc cuả các con vật mà họ săn bắt được. Năm 3000 - 600 trước Công nguyên, người Ai Cập đã tìm ra nhiều loại bột màu có trong tự nhiên và tổng hợp màu “xanh Ai Cập” vào khoảng 5000 năm trước.
Khoảng năm 600 đến 400 sau Công nguyên người Hy Lạp và La Mã đã biết sử dụng vecni từ các loại nhựa cây. Tuy nhiên, phải đến cuối thế kỷ XVIII, nhu cầu về sơn và vecni mới phát triển mạnh. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với ngành công nghệ sơn và chất tạo màng. Một lượng sắt thép lớn được sử dụng trong xây dựng và các ngành kỹ thuật khác đã thúc đẩy nhu cầu cần thiết phải tạo ra một lớp “sơn lót” có khả năng chống ăn mòn và gỉ sét.
Một loại sơn đơn giản nhất trên cơ sở chì đỏ phân tán trong dầu lanh đã được sử dụng thời xưa. Tuy nhiên, sơn sử dụng bột màu là chì lại có độ độc hại cao nên năm 1704, màu xanh Prussian đã được tổng hợp. Năm 1740 đã sử dụng dầu thông làm dung môi cho sơn, năm 1840 các chất làm khô có nguồn gốc kim loại đã được sử dụng để tăng tốc độ đóng rắn của các loại dầu thực vật. Hóa học về nhựa fomandehyt đã hình thành trong khoảng thời gian 1850- 1890, nhưng phải đến thế kỷ XX loại nhựa này mới được sử dụng trong công nghiệp sơn và chất tạo màng.
Tương tự như vậy, nhựa nitroxenlulo được tổng hợp năm 1877 nhưng phải sau cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất nó mới ứng dụng làm màng sơn. Một hệ bột màu mới cũng được tổng hợp, cụ thể là năm 1918, bột màu trắng dioxit titan đã được đưa vào sử dụng thay thế hoàn toàn cho chì. Những tác động lên sự phát triển công nghiệp sơn gần đây chủ yếu liên quan đến các vấn đề về môi trường, sức khỏe và yêu cầu về an toàn. Mối quan hệ lợi Vũ Hữu Hưng 3 KH&KTVLPK 2009 Luận văn cao học nhuận và chi phí sản xuất cũng đóng vai trò quan trọng trong thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, nó cũng chi phối công thức sản xuất một cách đáng kể.2 Khái niệm chung về sơn [6,7,8,9,10] Sơn hay màng phủ là khái niệm chung dùng chỉ bất cứ loại vật liệu nào được áp dụng lên bề mặt tạo thành màng mỏng liên tục.
Tuy nhiên, thuật ngữ sơn thường dùng phân biệt với các dàng màng phủ do xử lý bề mặt khác mà tạo thành như lớp mạ, anot hoá, phot phat hóa. Thuật ngữ sơn cũng sử dụng chỉ các lớp vật liệu đã tích hợp màu sắc để phân biệt với lớp màng trong là vecni. Theo quan điểm hiện đại. màng sơn là hệ thống compozit gồm một số lớp màng trong số đó có một vài lớp (không phải tất cả) có màu sắc.
Một hệ sơn thường đảm nhiệm hai chức năng: + Chức năng bảo vệ + Chức năng trang trí Chẳng hạn một hệ sơn sử dụng cho ô tô vừa có tác dụng tạo hình thức cho xe (màu sắc và độ bóng), nếu vỏ xe làm từ thép thì lớp sơn còn có chức năng khác là chống ăn mòn cho lớp thép. Khi xem xét tính chất của màng sơn thì mối quan hệ giữa vật liệu chế tạo lớp sơn và nền cần sơn đóng vai trò quan trọng. Những yêu cầu cho một hệ sơn trên gỗ sẽ rất khác biệt cho hệ sơn trên nền kim loại. Hơn nữa, phương pháp áo dụng màng sơn và đóng rắn màng cũng có thể có những khác biệt rất nhiều.
Do vậy, để xây dựng một hệ sơn sử dụng cho mục đích cụ thể nào đó thì cần thiếtphải xác định trước được hệ sơn đó sẽ áp dụng trên bề mặt như thế nào, phương pháp áp dụng là gì và các tính chất của màng yêu cầu ra sao.3 Thành phần chính của sơn [6,8] Sơn có thể chia thành 2 nhóm thành phần chính: + Pha liên tục Vũ Hữu Hưng 4 KH&KTVLPK 2009 Luận văn cao học + Pha phân tán 1.1 Pha liên tục Pha liên tục bao gồm các chất tạo màng, hệ dung môi và chất pha loãng. + Chất tạo màng: là nhựa hay polyme có tác dụng tạo màng liên tục, kết dính các thành phần khác và bảo vệ bề mặt được sơn. Chất tạo màng được lựa chọn theo công thức sử dụng. Xét về khối lượng phân tử, chất tạo màng được chia thành 2 loại: Loại có khối lượng phân tử nhỏ, loại này chỉ có thể tạo thành màng rắn nhờ các phản ứng hóa học; Loại có khối lượng phân tử lớn có thể hình thành màng rắn mà không cần phản ứng hóa học.
Các loại polyme thông dụng được liệt kê trong bảng 1. Các loại polyme được sử dụng làm chất tạo màng Chất tạo màng Chất tạo màng STT STT khối lượng phân tử nhỏ khối lượng phân tử lớn Các chất tạo màng có Các polyme phân tán trong môi 1 1 nguồn gố tự nhiên trường không nước 2 Nhựa alkyt 2 Dung dịch vinyl 3 Polyuretan 3 Dung dịch acrylic 4 Dầu uretan 4 Nitroxenlulo 5 Nhựa amino 5 Polyvinylaxetat dạng latex 6 Nhựa phnolic 6 Acrylic dạng latex 7 Nhựa epoxy 7 Styren/Butadien dạng latex 8 Polyeste không no 9 Cao su clo hóa Vũ Hữu Hưng 5 KH&KTVLPK 2009 Luận văn cao học + Dung môi và chất pha loãng: có tác dụng làm cho quá trình sơn trở nên dễ dàng. Dung môi không được sử dụng trong hệ sơn bột. Pha phân tán Pha phân tán bao gồm: + Các loại phụ gia với hàm lượng nhỏ, rất phong phủ về chủng loại và được sử dụng để tăng cường và kìm hãm một số tính chất như chất xúc tác, chất làm khô, chất lưu biến.
+ Bột màu vô cơ hoặc hữu cơ: Tạo ra độ phủ, màu sắc, các hiệu ứng quang học và cảm quan khác cho màng sơn. Hầu hết bột màu được sử dụng với mục đích đầu tiên là trang trí, bên cạnh đó còn có công dụng khác như chống ăn mòn. Một số bột màu cơ bản được liệt kê trong bảng 1. Một số loại bột màu điển hình Màu sắc Loại bột màu hữu cơ Loại bột màu vô cơ Đen Than đen, anilin đen Vàng Muối azo của niken Xanh da trời Phtaloxinanin, Indanthrone Chì, Kèm, BaCrO4, oxit sắt, Cd 3(PO3)2 Xanh lá cây Xanh lá cây Phtaloxinanin Ultramarin, Prussian, Coban xanh Đỏ Toludin, Quinacridone Oxit sắt, chì đỏ, crom đỏ Trắng TiO2, ZnO, SbO, PbCO3 + Bột độn: Bột độn được sử dụng kết hợp với bột màu với nhiều công dung khác nhau như làm tăng độ phủ, giàm giá thành, giảm hiện tượng lắng, thay đổi độ nhớt.
Vũ Hữu Hưng 6 KH&KTVLPK 2009 Luận văn cao học 1. Các phương pháp sơn [6,7,8,11] Việc lưa chọn phương pháp cho thích hợp phụ thuộc vào nhiều yếu tốt như dạng vật liệu dùng làm sơn, bản chất bề mặt cần sơn, yêu cầu độ dày lớp sơn, hiệu quả kinh tế và an toàn lao động. Thông thường có 4 phương pháp sơn chính gồm: + Phương pháp quét hay lô: Đây là phương pháp đơn giản thường sử dụng, để sơn trang trí hoặc bảo dưỡng khung kết cầu thép hoặc xây dụng. Nó cũng được sử dụng cho bảo dưỡng tàu biển.
Tuy nhiên, phương pháp này có tính thủ công nên tốc độ thấp, độ đồng đều phụ thuộc vào tay nghề người thợ. + Phương pháp phun gồm phun có không khí, phun không có không khí, phun tĩnh điện, phun nóng. Đây là phương pháp phổ biến nhất do tốc độ sơn cao và khả năng thích ứng của nó với hầu hết các điều kiện. + Phương pháp gia nhiệt.
+ Phương pháp sơn điện di: Đây là phương pháp chính sử dụng để tạo lớp sơn lót cho khung ô tô. Sơn điện di có thể là sơn điện di catot hoặc điện di anôt. Ngày nay, phương pháp sơn điện di catot được cho là có khả năng chống mài mòn tốt hơn. Trong các loại sơn sử dụng trong công nghiệp thì sơn bột phát triển mạnh mẽ nhất do mức độ ảnh hưởng đến môi trường thấp, chi phí đầu tư thấp.
Tại thị trường Tây Âu vào năm 1993, thị phần sơn bột chiếm 53%, phương pháp sơn được áp dụng là phun tĩnh điện do hạn chế tối đa lượng sơn mất mát và không tạo ra dung môi hữu cơ dễ bay hơi.1 Lịch sử phát triển [12,14] Sơn điện di và công nghệ sơn điện di đã được hãng ô tô Ford phát triển từ những năm 1950. Ban đầu loại sơn này được áp dụng sơn phủ trên vành xe (năm 1961) sau đó phát triển thành sơn lót trên khung ô tô. Thực tế cho đến nay, hầu hết các loại khung xe đều sử dụng công nghệ sơn điện di áp dụng cho lớp sơn lót. Vũ Hữu Hưng 7 KH&KTVLPK 2009 Luận văn cao học Ngoài ra, sơn điện di còn được sử dụng trong nhiều ứng dụng khác như sơn lót cho thiết bị máy móc trong nông nghiệp, công nghiệp và thiết bị sử dụng trong cuộc sống hàng ngày.
Lý do sơn điện di phát triển ngày càng mạnh mẽ là nhờ các ưu điểm mà loại sơn này đạt được như tạo lớp sơn đồng đều, sơn trên mọi bề mặt, lượng thất thoát ít, độ bám dính cao. Hơn nữa công nghệ sơn điện di cho phép tự động hóa cao nên ít tốn nhân lực nhất trong tất cả các loại sơn khác. Loại sơn này cũng thường sử dụng dung môi là nước, không có hoặc có rất ít dung môi bay hơi nên đảm bảo được yếu tố môi trường. Tại Mỹ các công ty tiên phong trong lĩnh vực này gồm Ford, Gliden, PPG và Mobil với khoảng hơn 100 dây chuyền vào những năm 1970.
Tại châu Âu, trong khoảng thời gian này, số lượng dây chuyền được xây dựng sử dụng cho sơn điện di là 250,25% trong số đó phục vụ cho ngành công nghiệp xe hơi. Tại Nhật Bản có khoảng 50 dây chuyền sơn điện di. Hiện nay, trên thế giới 98% vỏ xe ô tô các loại sử dụng công nghệ sơn điện di để tạo lớp sơn lót. Mới đây, Việt Nam qui định buộc phải thực hiện lớp sơn lót bằng công nghệ sơn điện di cho vỏ và thùng xe đối với các nhà máy sản xuất ô tô.
Khái niệm chung về sơn điện di [15,16,17,18] Theo định nghĩa của WikiPedia, sơn điện di là một quá trình trong đó các hạt phân tán huyền phù trong môi trường lỏng dưới tác dụng điện trường có khả năng di chuyển và tạo lớp kết tụ trên bề mặt điện cực.