Luận văn thạc sĩ nghiên cứu chế tạo hạt nano từ tính bằng phương pháp điện hóa

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu chế tạo hạt nano từ tính bằng phương pháp điện hóa, khám phá ứng dụng và tiềm năng trong công nghệ hiện đại.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Vật lý nhiệt

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ khoa học

2019

59
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG I: Vật liệu từ có cấu trúc nano

1.1. Vật liệu từ cứng

1.2. Hạt nano từ tính

1.2.1. Giới thiệu hạt nano từ tính

1.2.2. Phân loại hạt nano từ tính

1.2.3. Các hạt đơn đômen và siêu thuận từ

1.2.4. Ứng dụng của hạt nano từ tính

1.3. Vật liệu CoNiP

2. CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM

2.1. Phương pháp điện hóa siêu âm

2.2. Hệ điện hóa siêu âm

2.3. Chế tạo hạt CoNiP bằng phương pháp điện hóa siêu âm

2.3.1. Chế tạo hạt CoNiP bằng dung dịch muối gốc clorua không có chất hoạt hóa

2.3.2. Chế tạo hạt CoNiP bằng dung dịch muối gốc axetat có chất hoạt hóa

2.3.3. Chế tạo dây nano từ tính nhiều đoạn CoNiP/Au

2.4. Chức năng hóa Amine lên dây nano CoNiP/Au

2.5. Phương pháp Vol – Ampe vòng (CV)

2.6. Hiển vi điện tử quét (SEM)

2.7. Phổ tán sắc năng lượng tia X (EDS)

2.8. Từ kế mẫu rung (VSM)

2.9. Nhiễu xạ tia X (XRD)

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Chế tạo được các hạt nano CoP bằng phương pháp điện hóa siêu âm

3.2. Kết quả đo Vol – Ampe vòng (CV)

3.3. Kết quả đo hiển vi điện tử quét (SEM)

3.4. Kết quả đo nhiễu xạ tia X (Xray)

3.5. Kết quả đo tính chất từ (VSM) của các hạt CoP

3.6. Chế tạo được các hạt nano CoNiP bằng phương pháp điện hóa siêu âm

3.7. Kết quả đo Vol – Ampe vòng (CV)

3.8. Kết quả đo hiển vi điện tử quét (SEM)

3.9. Kết quả đo tán sắc năng lượng tia X (EDS)

3.10. Kết quả đo nhiễu xạ tia X (XRD)

3.11. Kết quả đo tính chất từ bằng từ kế mẫu rung (VSM)

3.12. Các dây nano nhiều đoạn CoNiP / Au

3.13. Thành phần hóa học

3.14. Tính chất từ của dây CoNiP/Au

3.15. Khảo sát đặc trưng của dây nano CoNiP/Au có gắn 4-ATP

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu chế tạo hạt nano từ tính điện hóa

Nghiên cứu chế tạo hạt nano từ tính điện hóa đang trở thành một lĩnh vực quan trọng trong khoa học vật liệu. Hạt nano từ tính có kích thước nhỏ, thường từ 1 đến 100 nm, và có những tính chất đặc biệt khác biệt so với vật liệu khối. Những hạt này có thể được sử dụng trong nhiều ứng dụng như y học, cảm biến và ghi từ. Việc chế tạo hạt nano từ tính bằng phương pháp điện hóa không chỉ giúp tiết kiệm chi phí mà còn dễ dàng kiểm soát kích thước và tính chất của hạt. Phương pháp này cho phép tạo ra các hạt nano với độ tinh khiết cao và tính đồng nhất tốt.

1.1. Định nghĩa và tính chất của hạt nano từ tính

Hạt nano từ tính là các hạt nhỏ có khả năng bị ảnh hưởng bởi từ trường. Chúng thường bao gồm các kim loại như Fe, Ni, Co và có kích thước từ 1 đến 100 nm. Tính chất từ của chúng thay đổi theo kích thước, với các hạt nhỏ hơn thường có tính siêu thuận từ. Điều này có nghĩa là chúng không có từ độ tự phát khi không có từ trường bên ngoài.

1.2. Lịch sử và sự phát triển của hạt nano từ tính

Lịch sử nghiên cứu hạt nano từ tính bắt đầu từ những năm 1980, khi các nhà khoa học nhận ra rằng kích thước hạt ảnh hưởng đến tính chất từ. Các nghiên cứu ban đầu tập trung vào việc chế tạo hạt nano từ tính bằng phương pháp hóa học và vật lý. Gần đây, phương pháp điện hóa đã trở thành một lựa chọn phổ biến nhờ vào tính hiệu quả và khả năng kiểm soát tốt hơn.

II. Vấn đề và thách thức trong chế tạo hạt nano từ tính

Mặc dù có nhiều tiềm năng, việc chế tạo hạt nano từ tính vẫn gặp phải nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự kết tụ của các hạt nano, điều này có thể làm giảm hiệu suất và tính chất từ của chúng. Ngoài ra, việc kiểm soát kích thước và hình dạng của hạt cũng là một thách thức lớn. Các phương pháp chế tạo hiện tại cần được cải tiến để đảm bảo tính đồng nhất và ổn định của hạt nano.

2.1. Sự kết tụ và ảnh hưởng đến tính chất từ

Sự kết tụ của các hạt nano từ tính có thể dẫn đến việc giảm tính chất từ của chúng. Khi các hạt kết tụ lại với nhau, chúng có thể mất đi khả năng phản ứng với từ trường bên ngoài, làm giảm hiệu suất trong các ứng dụng. Việc nghiên cứu các phương pháp ngăn chặn sự kết tụ là rất cần thiết.

2.2. Kiểm soát kích thước và hình dạng hạt nano

Kiểm soát kích thước và hình dạng của hạt nano là một yếu tố quan trọng trong việc xác định tính chất từ của chúng. Các phương pháp chế tạo hiện tại cần được tối ưu hóa để đạt được kích thước và hình dạng mong muốn. Việc sử dụng các chất hoạt hóa và điều chỉnh điều kiện phản ứng có thể giúp cải thiện tính đồng nhất của hạt.

III. Phương pháp chế tạo hạt nano từ tính bằng điện hóa

Phương pháp điện hóa là một trong những cách hiệu quả nhất để chế tạo hạt nano từ tính. Phương pháp này cho phép kiểm soát tốt các điều kiện phản ứng, từ đó tạo ra các hạt nano với kích thước và tính chất mong muốn. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng điện hóa siêu âm có thể cải thiện đáng kể quá trình chế tạo hạt nano từ tính.

3.1. Nguyên lý của phương pháp điện hóa

Phương pháp điện hóa dựa trên nguyên lý sử dụng dòng điện để điều khiển quá trình phản ứng hóa học. Khi dòng điện được áp dụng, các ion trong dung dịch sẽ di chuyển và kết hợp lại để hình thành các hạt nano. Phương pháp này cho phép kiểm soát tốt kích thước và hình dạng của hạt.

3.2. Ưu điểm của phương pháp điện hóa siêu âm

Điện hóa siêu âm là một kỹ thuật tiên tiến giúp tăng cường quá trình chế tạo hạt nano. Sự rung động siêu âm tạo ra các bọt khí trong dung dịch, giúp tăng cường sự khuếch tán và phản ứng hóa học. Điều này dẫn đến việc tạo ra các hạt nano với kích thước đồng nhất và tính chất tốt hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn của hạt nano từ tính

Hạt nano từ tính có nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là trong y học và công nghệ. Chúng được sử dụng trong các phương pháp chẩn đoán và điều trị ung thư, cũng như trong các cảm biến và thiết bị điện tử. Việc nghiên cứu và phát triển các ứng dụng mới cho hạt nano từ tính đang diễn ra mạnh mẽ.

4.1. Ứng dụng trong y học

Hạt nano từ tính được sử dụng trong điều trị ung thư bằng cách gia nhiệt từ tính. Chúng có thể được gắn với các thuốc điều trị để nhắm mục tiêu đến các khối u cụ thể, giúp tăng cường hiệu quả điều trị. Nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng hạt nano từ tính có thể cải thiện đáng kể khả năng tiêu diệt tế bào ung thư.

4.2. Ứng dụng trong công nghệ cảm biến

Hạt nano từ tính cũng được sử dụng trong các cảm biến để phát hiện các chất hóa học và sinh học. Chúng có thể được gắn với các kháng thể hoặc phân tử nhận diện khác để tạo ra các cảm biến nhạy và chính xác. Việc phát triển các cảm biến dựa trên hạt nano từ tính đang mở ra nhiều cơ hội mới trong lĩnh vực phân tích và chẩn đoán.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu hạt nano từ tính

Nghiên cứu chế tạo hạt nano từ tính bằng phương pháp điện hóa đang mở ra nhiều cơ hội mới trong khoa học vật liệu. Mặc dù còn nhiều thách thức, nhưng tiềm năng ứng dụng của hạt nano từ tính là rất lớn. Trong tương lai, việc phát triển các phương pháp chế tạo mới và cải tiến các ứng dụng hiện tại sẽ giúp nâng cao hiệu quả và tính khả thi của hạt nano từ tính trong nhiều lĩnh vực.

5.1. Triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu về hạt nano từ tính sẽ tiếp tục phát triển với sự xuất hiện của các công nghệ mới. Việc tối ưu hóa các phương pháp chế tạo và mở rộng ứng dụng sẽ là những hướng đi quan trọng trong tương lai. Các nghiên cứu mới có thể giúp giải quyết các vấn đề hiện tại và mở ra những cơ hội mới cho hạt nano từ tính.

5.2. Tác động đến các lĩnh vực khác nhau

Hạt nano từ tính không chỉ có tiềm năng trong y học mà còn có thể được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác như công nghệ thông tin, năng lượng và môi trường. Việc nghiên cứu và phát triển các ứng dụng mới sẽ giúp nâng cao giá trị của hạt nano từ tính trong cuộc sống hàng ngày.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I. Vật liệu từ có cấu trúc nano Vật liệu từ tính có cấu trúc nano thường là vật liệu đa pha, trong đó đặc tính của vùng giáp ranh giữa các pha được quy định bởi tương tác trao đổi. Các tương tác trao đổi giữa các hạt hoặc các lớp từ tính khác nhau, tiếp xúc nhau hoặc phân tách nhau một khoảng vài nanomet là nhân tố quan trọng tạo nên một số hiện tượng vật lý [1]. Nhờ các phương pháp khác nhau mà người ta chế tạo ra một số cấu trúc vật liệu nano như: chuỗi hạt nano, băng nano, dây nano, ống nano, màng mỏng nano… Các vật liệu nano từ tính được quan tâm bởi mối liên hệ giữa các đặc trưng vi cấu trúc và các tính chất từ.

Các đặc trưng đó bao gồm kích thước hạt, sự phân bố, tính không đồng nhất hóa học, các sai lệch mạng tinh thể, kết cấu tinh thể học [1]. Vật liệu từ cứng Vật liệu từ cứng là loại vật liệu từ có lực kháng từ cao (trên 150 Oe), chu trình từ trễ rộng, cảm ứng từ dư tương đối cao và bền vững. Đường cong từ trễ và các đặc trưng của vật liệu từ cứng Lực kháng từ (Hc) là đại lượng quan trọng đặc trưng cho tính từ cứng của vật liệu từ cứng. Vì vật liệu từ cứng là khó từ hóa và khó khử từ, nên ngược lại với vật liệu từ mềm, nó có lực kháng từ cao.

Nguồn gốc của lực kháng từ lớn 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong các vật liệu từ cứng chủ yếu liên quan đến đến dị hướng từ tinh thể lớn trong vật liệu. Các vật liệu từ cứng thường có cấu trúc tinh thể có tính đối xứng kém hơn so với các vật liệu từ mềm và chúng có dị hướng từ tinh thể rất lớn [6, 7]. Tích năng lượng từ cực đại (BH)max cho biết năng lượng từ cực đại chứa trong vật liệu. Vì khi vật liệu từ cứng được đặt trong từ trường ngoài đã tự nạp năng lượng và tàng trữ phần lớn năng lượng đó khi trường ngoài triệt tiêu.

Năng lượng này được giải phóng nếu vật liệu đó chịu tác dụng của trường khử từ [6, 7]. Cảm ứng từ dư (Br) là thông số đặc trưng của vật liệu từ, nó là cảm ứng từ còn lại sau khi từ hóa mẫu đến giá trị bão hòa và đưa mẫu ra khỏi từ trường. Đối với nam châm từ cứng, giá trị Br càng lớn càng tốt [6, 7]. Nhiệt độ Curie là nhiệt độ mà tại đó vật liệu mất tính sắt từ, trở thành vật liệu thuận từ.

Một số vật liệu từ cứng được ứng dụng trong các nam châm hoạt động ở nhiệt độ cao nên nó đòi hỏi nhiệt độ Curie rất cao [6, 7]. Hạt nano từ tính 1. Giới thiệu hạt nano từ tính Hạt nano từ tính là các hạt nhỏ bị biến đổi tính chất dưới tác dụng của từ trường. Các hạt nano từ tính thường bao gồm hai thành phần: một vật liệu từ tính thường là kim loại như Fe, Ni, Co,… và một thành phần hóa học khác.

Các hạt nano từ tính thường có kích thước từ 1 đến 100 nm, các hạt lớn hơn có đường kính từ 0,5 đến 500 μm. Các cụm hạt nano từ tính bao gồm các hạt riêng lẻ, chúng liên kết với nhau tạo thành các hạt nano từ tính mới. Các hạt nano từ tính đang là mối quan tâm của rất nhiều nhà khoa học vì những đặc tính liên quan đến cấu trúc nano và tính chất từ của chúng. Nếu kích thước các hạt nano từ giảm (từ vài chục đến vài trăm nm) thì tính chất từ của chúng sẽ thay đổi.

Phân loại hạt nano từ tính Theo các nhà khoa học, vật liệu từ có thể chia thành các loại sau: 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Hệ gồm các hạt bị cô lập với cấu trúc nano, khi bỏ qua tương tác giữa các hạt, từ tính của chúng được phân bố đều cho các hạt cô lập theo chiều giảm của kích thước hạt [9]. - Vật liệu khối có cấu trúc nano, loại này chiếm phần lớn thể tích của mẫu tập trung ở giữa hạt và bề mặt các hạt [9]. - Hệ gồm các hạt cổ điển, lớp vỏ trên các hạt nano từ tính có thể được làm từ một vật liệu khác nhằm giảm tương tác giữa bề mặt các hạt [9]. - Hệ gồm các hạt cơ bản, tính chất từ của vật liệu nanocomposite được xác định bởi nhóm các hạt nano từ tính cũng như đặc tính cơ bản của vật liệu [97].

Hạt nano từ tính có các dạng điển hình như sau: - Oxide: ferrites Các hạt nano Ferrite hay các hạt nano oxit sắt là các hạt nano từ tính được khám phá nhiều nhất cho đến nay. Khi các hạt này nhỏ hơn 128 nanomet chúng trở thành hạt siêu thuận từ, điều này ngăn cản sự tự kết tụ do chúng chỉ chịu tác động của từ trường ngoài [10]. Momen từ của chúng có thể tăng lên rất nhiều bằng cách phân chia các hạt nano siêu thuận từ riêng lẻ thành các cụm hạt nano siêu thuận từ. Khi không có tác dụng của từ trường ngoài, từ độ của chúng sẽ giảm về không giống như các hạt oxit chưa từ hóa.

Bề mặt của các hạt nano ferrite thường bị biến đổi bởi các chất hoạt hóa bề mặt, silica, silicones hoặc các dẫn xuất axit phosphoric để tăng tính ổn định của chúng trong dung dịch [10]. - Ferrite với lớp vỏ: Bề mặt của các hạt nano từ tính thường không có liên kết cộng hóa trị mạnh với các phân từ chức năng hóa. Tuy nhiên có thể cải thiện điều này bằng cách phủ một lớp silica lên bề mặt của chúng. Lớp vỏ silica dễ dàng thay đổi với các nhóm chức năng bề mặt khác nhau thông qua liên kết cộng hóa trị giữa các phân tử organo-sillane và vỏ silica [13].

5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Ảnh TEM của cụm hạt nano từ tính vói lớp vỏ silica [10] Các cụm hạt nano Ferrite có phân bố kích thước hẹp bao gồm các hạt nano oxit siêu thuận từ được phủ một lớp silica lên bề mặt có lợi thế như: độ ổn định hóa học cao hơn (rất quan trọng cho các ứng dụng y sinh), phân bố kích thước hẹp (rất quan trọng cho ứng dụng y sinh), độ ổn định cao hơn vì chúng không tự kết tụ, dễ điều chỉnh kích thước hơn, các đặc tính siêu thuận từ được giữ lại. - Kim loại: Các hạt nano kim loại có lợi cho một số ứng dụng kỹ thuật do momen từ cao hơn trong khi các oxit có lợi cho các ứng dụng y sinh. Điều này có ý nghĩa rằng trong cùng một thời điểm, các hạt nano kim loại có thể được chế tạo nhỏ hơn so với các hạt oxit của chúng.

Mặt khác, các hạt nano kim loại có nhược điểm lớn là phản ứng với các tác nhân oxy hóa ở nhiều mức độ khác nhau. Điều này làm cho việc xử lý chúng trở nên khó khăn và cho phép các phản ứng phụ không mong muốn khiến chúng không phù hợp với các ứng dụng y sinh. Sự hình kết tụ cho các hạt kim loại cũng khó hơn. - Kim loại với lớp vỏ: Lõi kim loại của hạt nano từ tính có thể bị thụ động bởi quá trình oxy hóa nhẹ, chất hoạt hóa bề mặt, polyme và kim loại quý.

Trong môi trường oxy, các hạt nano Co tạo thành một lớp CoO chống sắt từ trên bề mặt của hạt nano Co. Những ưu điểm so với các hạt nano ferrite là: từ hóa cao hơn, độ ổn định cao hơn trong dung dịch axit và bazơ cũng như dung môi hữu cơ 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Hạt nano Co có vỏ graphene 1. Các hạt đơn đômen và siêu thuận từ Đômen từ là những vùng trong chất sắt từ mà trong đó các đômen từ hoàn toàn song song với nhau tạo nên từ độ tự phát của vật liệu sắt từ.

Tuy nhiên, không phải sự sắp xếp song song này tồn tại trên toàn bộ vật sắt từ mà có thể bị chia thành nhiều đômen khác nhau tạo nên cấu trúc đômen của vật liệu từ nói chung hay các hạt nano từ nói riêng. Cấu trúc này được quy định bởi: hình dạng, cấu trúc hạt, kích thước, sự định hướng,. và chi phối tính chất từ vi mô của các hạt nano từ tính. Sơ đồ mối quan hệ giữa lực kháng từ và kích thước hạt Khi kích thước hạt giảm xuống dưới kích thước tới hạn DC (Hình 1.4), xuất hiện một cấu trúc đômen mới mà mỗi hạt sẽ là một đômen, được gọi là cấu trúc đơn đômen.

Kích thước tới hạn này phụ thuộc bởi các yếu tố: từ độ tự phát, hằng số dị hướng từ tinh thể, mật độ năng lượng tương tác hoặc hằng số trao 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Lực kháng từ liên quan đến sự hình thành đơn đômen và phụ thuộc vào kích thước của hạt. [15] Sự phụ thuộc của lực kháng từ vào kích thước của các hạt đơn đômen được biểu diễn theo công thức: 𝑫𝒔 𝟑/𝟐 𝑯𝑪 = 𝑯𝑪𝟎 [𝟏 − ( ) ] 𝒅 trong đó: • DS là kích thước siêu thuận từ • d là kích thước hạt • HC0 là lực kháng từ tại nhiệt độ T gần 0K Có thể thấy lực kháng từ của các hạt giảm khi thước hạt giảm. Đường kính đơn đômen cho một số hạt nano dạng hình cầu được liệt kê trong Bảng 1.

Giá trị ước tính của kích thước đơn đômen cho các hạt nano hình cầu không có dị hướng [15] Vật liệu DC (nm) Vật liệu DC (nm) Co 70 Fe3O4 128 Fe 14 γ – Fe2O3 166 Ni 55 Khi kích thước các hạt tiếp tục giảm xuống dưới kích thước siêu thuận từ (DS) thì năng lượng dao động nhiệt (kBT) lớn hơn năng lượng dị hướng (∆E = KV, K: hằng số dị hướng từ tinh thể, V: thể tích hạt). Lúc này, năng lượng nhiệt sẽ phá vỡ định hướng song song của các mômen từ làm các mômen từ của hạt trở nên hỗn loạn như trong chất thuận từ. Đường cong từ hóa của các hạt siêu thuận từ có đặc điểm là từ độ bão hòa cao và không có hiện tượng từ trễ (HC = Mr = 0). Ứng dụng của hạt nano từ tính - Chẩn đoán và điều trị trong y tế: Các hạt nano từ tính đã được sử dụng trong điều trị ung thư bằng cách gia nhiệt từ tính [12] trong đó một từ trường xen kẽ (AMF) được sử dụng để làm 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nóng các hạt nano.

Để hạt nano từ tính đạt được đủ nhiệt, AMF thường có tần số trong khoảng 100-500 kHz, nghiên cứu đã được thực hiện ở tần số thấp hơn cũng như tần số cao tới 10 MHz, với biên độ của trường thường trong khoảng 8- 16kAm−1 [12].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ