CHƯƠNG 1 TINH THỂ QUANG TỬ VÀ CẢM BIẾN CÓ CẤU TRÚC BUỒNG VI CỘNG HƯỞNG DỰA TRÊN CƠ SỞ SILIC XỐP Tinh thể quang tử là cấu trúc không gian tuần hoàn của các vật liệu điện môi có chiết suất khác nhau. Sự biến đổi tuần hoàn của hằng số điện môi hay chiết suất làm xuất hiện vùng cấm trong cấu trúc vùng năng lượng của tinh thể quang tử - vùng cấm quang (Photonic band gap - PBG). Trong các loại tinh thể quang tử, tinh thể quang tử một chiều là loại tinh thể đơn giản nhất. Tuy nhiên, tinh thể một chiều lại có những ưu điểm riêng như dễ dàng chế tạo hơn, có thể sử dụng để nghiên cứu một số khía cạnh của tinh thể quang tử nhiều chiều hơn và có thể dẫn đến những ứng dụng và các linh kiện mà chúng không yêu cầu phải cấm hoàn toàn (về mọi hướng) sự lan truyền qua hay bức xạ ánh sáng.
Tinh thể quang tử một chiều với chiết suất đồng nhất trong mỗi lớp được biết đến dưới tên gọi là gương phản xạ Bragg phân bố. Trên cơ sở của các gương Bragg chúng ta có thể thiết kế được các buồng vi cộng hưởng. Đây là một loại limh kiện quang khá thông dụng, trước đây thường được chế tạo bằng phương pháp phún xạ hay bay hơi nhiệt một cách lần lượt các oxít để tạo ra màng mỏng đa lớp có chiết suất thay đổi tuần hoàn. Ngày nay, dựa trên công nghệ điện hóa phiến silic chúng ta có thể chế tạo được màng silic xốp có tính năng như một buồng vi cộng hưởng.
Chúng ta có thể chế tạo các buồng vi cộng hưởng làm bằng silic xốp có độ rộng phổ chỉ vài nano mét với độ suy hao thấp. Trong chương này, trước hết chúng tôi trình bày một cách khái lược về tinh thể quang tử, các ứng dụng cơ bản và một số cơ sở mà chúng tôi cho là thiết yếu nhất của tinh thể quang tử. Tiếp theo, chúng tôi trình bày về cấu tạo và đặc tính quang học của buồng vi cộng hưởng một chiều (1D) và ứng dụng của nó. Sau đó là phần trình bày cơ sở quá trình hình thành buồng vi cộng hưởng làm bằng silic xốp và nghiên cứu đặc điểm của silic xốp.
Phần cuối của chương, chúng tôi trình bày về đặc tính của buồng vi cộng hưởng và độ phẩm chất, độ nhạy và các yếu tố ảnh hưởng đến độ nhạy của cảm biến để chế tạo được một cảm biến dựa trên buồng vi cộng hưởng mong muốn. Sau đó, chúng tôi nêu cơ sở lí thuyết, nguyên lí ứng dụng buồng vi cộng hưởng 1D dựa trên Silic xốp làm cảm biến xác định dung môi hữu cơ trong pha hơi và pha lỏng. Tinh thể quang tử 1. Khái niệm tinh thể quang tử Tinh thể quang tử là một cấu trúc tuần hoàn trong không gian của các vật liệu với hằng số điện môi khác nhau được sắp xếp tuần hoàn xen kẽ nhau, có chiết suất thay đổi theo chu kỳ trên một thang chiều dài có thể so sánh được với bước sóng ánh sáng đang được nghiên cứu.
Sở dĩ gọi là “tinh thể” vì nó được tạo nên bởi sự sắp xếp tuần hoàn của các đơn thể cơ bản và đối tượng của “tinh thể” này là các quang tử. Như chúng ta đã biết, đặc tính vật lý của vật chất mà nó có tác động lên sự chuyển động của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 các quang tử là chiết suất, vì vậy tính tuần hoàn của các đơn tử mà chúng ta vừa nói ở trên chính là sự tuần hoàn của chiết suất. Tính tuần hoàn về chiết suất làm cho tinh thể quang tử có thể giam giữ được ánh sáng và hạn chế một cách hoàn toàn bức xạ tự nhiên nếu một nguồn ánh sáng nằm trong chính tinh thể này trong một dải tần số hay dải bước sóng nhất định mà ta thường gọi là vùng cấm quang (PBG). Ví dụ, nó có thể ngăn không cho ánh sáng truyền qua; định xứ các photon (với những tần số nhất định) tại các vùng đặc trưng; điều khiển các quá trình bức xạ hoặc cưỡng bức; có thể định hướng dòng ánh sáng theo những hướng cụ thể, thậm chí có thể thay đổi đột ngột hướng truyền của ánh sáng mà ít gây ta tổn thất năng lượng của nó,… 1.
Các đặc tính và thông số quan trọng của tinh thể quang tử Tinh thể quang tử được đăc trưng bởi một số thông số cơ bản sau: Số chiều: Một chiều (1D), hai chiều (2D) hoặc ba chiều (3D) tùy thuộc vào sự tuần hoàn của chiết suất theo các chiều trong không gian (hình 1. Giản đồ minh họa các cấu trúc tinh thể tinh thể quang tử 1D, 2D và 3D. Các tinh thể này có cấu trúc tuần hoàn về hằng số điện môi (chiết suất) được cấu tạo từ các vật liệu khác nhau theo các chiều không gian. Sự đối xứng: các tinh thể quang tử nói chung đều có tính đối xứng.
Cách sắp xếp các đơn thể trong cấu trúc của tinh thể quang tử sẽ xác định tính đối xứng của mạng tinh thể.2 minh họa một vài sự đối xứng ba chiều có thể thấy trong những mạng Bravais của các cấu trúc tinh thể quang tử. Minh họa các cách sắp xếp của đơn tinh thể tạo nên các cấu trúc tinh thể quang tử với các đối xứng khác nhau. a) lập phương đơn, b) lục giác đơn, c) lập phương tâm thể, d) lập phương tâm mặt, e) lục giác xếp chặt, f) mạng kim cương. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Hằng số mạng (a): là chu kỳ không gian của các đơn thể cấu tạo nên tinh thể quang tử tương tự như hằng số mạng của các tinh thể thông thường được cấu tạo nên bởi dãy đều đặn các nguyên tử.
Trong trường hợp mạng lập phương hằng số thường được lấy là cạnh của hình lập phương. Hệ số lấp đầy (f): là tỷ lệ thể tích các đơn thể tạo nên tinh thể quang tử và thể tích tinh thể quang tử. Chiết suất hiệu dụng (neff): là căn bậc hai của hằng số điện môi hiệu dụng (εeff). Hằng số điện môi hiệu dụng được tính là giá trị trung bình hằng số điện môi của các vật liệu tạo thành tinh thể quang tử: εeff = (1-f)ε1 + fε2 (1.1) trong đó f là tỉ lệ lấp đầy, ε1 và ε2 tương ứng là hằng số điện môi của chất nền (khe hở giữa các đơn tinh thể tạo nên tinh thể quang tử) và của các đơn tinh thể.
Sự tương phản chiết suất (δ): là tỷ số giữa chiết suất của vật liệu có hằng số điện môi cao (nH) (vật liệu tạo nên đơn thể và vật liệu nền) và vật liệu có hằng số điện môi thấp (nL). Các ứng dụng của tinh thể quang tử Các tinh thể quang tử được ứng dụng để điều khiển sự lan truyền của ánh sáng. Các tinh thể quang tử một chiều đã và đang được dùng rộng rãi trong quang học màng mỏng như tạo ra các lớp phủ lên bề mặt thấu kính hay gương để tạo ra độ phản xạ thấp hay cao tuỳ ý. Các tinh thể quang tử hai chiều và ba chiều được dùng trong nghiên cứu khoa học.
Ứng dụng thương mại đầu tiên của tinh thể quang tử hai chiều là sợi tinh thể quang tử thay thế cho sợi quang học truyền thống trong các thiết bị quang học phi tuyến và dùng với các bước sóng đặc biệt (ở đó không có vật liệu truyền thống nào trong suốt ngoài không khí hay các chất khí). Khả năng sản xuất và hạn chế nhược điểm trong các tinh thể quang tử ba chiều vẫn đang được nghiên cứu. Buồng vi cộng hưởng 1D Cấu trúc của buồng vi cộng hưởng bao gồm hai tấm gương phản xạ Bragg (Distributed Bragg Reflectors - DBR) nằm đối xứng với nhau qua lớp đệm hay lớp không gian. Dưới đây chúng ta lần lượt trình bày các phần tử cấu thành buồng vi cộng hưởng.
Gương phản xạ Bragg (Distributed Bragg Reflectors) Gương phản xạ Bragg là hệ gồm nhiều lớp điện môi hoạt động dựa trên hiện tượng nhiễu xạ Bragg của một chùm ánh sáng sau khi phản xạ tại mặt phân cách giữa các lớp điện môi. Mô hình đơn giản của hiện tượng nhiễu xạ được trình bày trong hình 1.3 [1], [23], trong đó màng mỏng bao gồm nhiều cặp lớp giống hệt nhau, mỗi cặp lớp gồm hai lớp có chiết suất n1 và n2 khác nhau tương ứng với độ dày d1, d2. Hiện tượng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 phản xạ xảy ra tại mỗi bề mặt giữa 2 lớp vật liệu với chiết suất khác nhau. Bằng cách lựa chọn thích hợp giá trị của chiết suất và độ dày các lớp, chúng ta có thể tạo ra phổ phản xạ khác nhau.
(a) Tia phản xạ và tia truyền qua trong trường hợp màng đơn lớp và (b) trong trường hợp màng đa lớp Gương phản xạ Bragg được sử dụng nhiều nhất là Gương phản xạ Bragg – DBR phần tư bước sóng, đó là loại gương phản xạ có độ dài quang học của các lớp là nH.dH=nLdL=λ/4 và chu kỳ của cấu trúc là Λ=dH+dL. Sơ đồ cấu trúc của một DBR tuần hoàn, ni và hi là chiết suất và bề dày tưong ứng của lớp i, N là số chu kỳ. Nếu chiều dày quang học và chiết suất của mỗi lớp được thiết kế một cách chính xác, thì ánh sáng với những bước sóng nhất định bị phản xạ ở mỗi bề mặt phân cách sẽ giao thoa có cấu trúc. Trong trường hợp này, điều kiện phản xạ Bragg đã chỉ ra ở phương trình 1.2) Trong đó: m là số nguyên, là bước sóng của ánh sáng tới, d là chiều dày của một lớp và là góc ánh sáng tới.
Phương trình Bragg được tìm ra dựa trên hiện tượng nhiễu xạ tia X trong tinh thể chất rắn (tinh thể điện tử) thông thường. Trong trường hợp của một khối điện môi (PC) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 (ví dụ, hình 1.5) gồm hai vật liệu có chiết suất khác nhau sắp xếp xen kẽ nhau thì cần phải xem xét đến sự thay đổi pha tại mặt phân cách của hai lớp liền kề. Hình minh họa của các hiệu ứng phản xạ của một gương phản xạ Bragg. a) ánh sáng phản xạ tại mỗi mặt phân cách giữa các lớp có chiết suất khác nhau, b) phổ phản xạ của một gương phản xạ Bragg dựa trên tinh thể quang tử một chiều [1],[2].
Phổ phản xạ của gương Bragg có dạng một cực đại phản xạ trung tâm (cực đại chính) và hai bên có các cực đại phụ, xen giữa các cực đại là các cực tiểu. Vùng cực đại chính có bước sóng trung tâm là λ.