Chương 1 tác giả đã trình bày tổng quan về nội dung nghiên cứu bao gồm: cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kết cấu của luận văn. Chương 2 này nhằm hệ thống cơ sở lý thuyết, chương này bao gồm: (1) giới thiệu về ngân hàng, (2) một số nghiên cứu tiêu biểu, (3) cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu.1 Một số nghiên cứu tiêu biểu về lòng trung thành của khách hàng Trong thực tế, đã có nhiều nghiên cứu về lòng trung thành của khách hàng cũng như các nhân tố ảnh hưởng trong nhiều lĩnh vực nói chung và lĩnh vực ngân hàng nói riêng. Tác giả xin nêu ra một vài nghiên cứu tiêu biểu trong và ngoài nước dưới đây để làm cơ sở hình thành mô hình nghiên cứu của tác giả trong bài nghiên cứu này Trong nghiên cứu " Chất lượng dịch vụ, sự thỏa mãn và lòng trung thành của khách hàng siêu thị tại TP HCM" của Nguyễn Thị Mai Trang ( 2006) cho thấy, nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ siêu thị, sự thỏa mãn và lòng trung thành của người tiêu dùng đối với siêu thị. Các mối quan hệ này được kiểm định với 318 khách hàng tại siêu thị ở TPHCM.
Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng dịch vụ là yếu tố quan trọng làm thỏa mãn khách hàng cũng như làm tăng lòng trung thành của họ đối với siêu thị. Hơn nữa, kết quả cũng cho thấy yếu tố tuổi và thu nhập không làm ảnh hưởng đến vai trò của chất lượng dịch vụ đối với sự thỏa mãn, và lòng trung thành của khách hàng siêu thị. Trong một nghiên cứu khác về lòng trung thành của Nguyễn Công Thành và Phạm Ngọc Thúy (2007), "Các yếu tố ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách 9 hàng đối với thương hiệu di động". Các tác giả đã khảo sát 434 khách hàng có sử dụng điện thoại di động tại TP HCM.
Kết quả cho thấy có 5 trong 9 yếu tố được xem xét có tác động đến lòng trung thành của khách hàng đối với thương hiệu điên thoại di động đó là: uy tín thương hiệu, tính năng sản phẩm, giá cả cảm nhận, nhận biết thương hiệu và thái độ đối với khuyến mãi. Trong đó, yếu tố uy tín thương hiệu có ảnh hưởng lớn nhất vào lòng trung thành của khách hàng. Nguyen (2009) đã thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa chất lượng tín hiệu và chất lượng dịch vụ của chương trình đạo tạo thạc sĩ trong nước và quốc tế tại Việt Nam. Mô hình nghiên cứu gồm các biến: chất lượng tín hiệu ( signal quality), đầu tư cho chương trình ( program investment), chất lượng cảm nhận ( perceived quality) và lòng trung thành (program loyalty).
Đối tượng khảo sát của nghiên cứu là 457 sinh viên đang theo học chương trình trong nước và quốc tế tại Việt Nam. Kết quả của nghiên cứu cho thấy, chất lượng tín hiệu và việc đầu tư cho chương trình có tác động tích cực đến chất lượng cảm nhận chương trình học của sinh viên và chất lượng cảm nhận cũng có ảnh hưởng đến lòng trung thành của sinh viên đối với chương trình đào tạo thạc sĩ; kết quả cũng cho thấy không có sự khác biệt đáng kể giữa chương trình đào tạo trong nước và quốc tế. Còn trong nghiên cứu của Abdollahi (2008), "Creating a model for customer loyalty in banking industry of Iran", mục tiêu đặt ra là xây dựng một mô hình đo lường lòng trung thành của khách hàng tại thị trường ngân hàng Iran. Nghiên cứu này đã khẳng định các yếu tố có ảnh hưởng đến lòng trung thành là: Chất lượng dịch vụ cảm nhận (Tangible and Intangible Perceived Quality), Sự thỏa mãn (Satisfaction), Rào cản chuyển đổi (Switching Cost), Sự lựa chọn (Choosing), và Thói quen (Habits).2 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu 2.1 Khái niệm nghiên cứu và các giả thuyết: 2.1 Xây dựng thương hiệu Theo Nguyễn Đình Thọ (2011), có nhiều quan điểm về thương hiệu.
Có thể chia ra thành hai quan điểm chính. Quan điểm truyền thống, lấy ví dụ theo Hiệp hội Marketing Mỹ (American Marketing Association - AMA) thì thương hiệu là một cái tên, biểu tượng, kí hiệu, kiểu dáng hay một sự phối hợp của các yếu tố trên nhằm mục đích để nhận dạng sản phẩm hay dịch vụ của một nhà sản xuất và phân biệt với các thương hiệu của các đối thủ cạnh tranh ( Bennett, 1995). Với quan điểm truyền thống này, thương hiệu như một thành phần của sản phẩm và chức năng chính của thương hiệu là dùng để phân biệt sản phẩm của mình với sản phẩm cạnh tranh cùng loại. Quan điểm tổng hợp về thương hiệu cho rằng thương hiệu không chỉ là một cái tên hay biểu tượng mà nó còn phức tạp hơn nhiều ( David, 2002).
Nó là một tập các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ đòi hỏi. Thương hiệu theo quan điểm này cho rằng, sản phẩm chỉ là một thành phần của thương hiệu, chủ yếu cung cấp lợi ích chức năng cho người tiêu dùng và nó chỉ là một thành phần của sản phẩm. Như vậy các thành phần tiếp thị hỗn hợp ( sản phẩm, giá cả, phân phối và chiêu thị) cũng chỉ là các thành phần của một thương hiệu ( Amber and Style, 1996). Xây dựng thương hiệu là đề ra và gầy dựng được những trông đợi gắn với trải nghiệm thương hiệu, tạo ra được ấn tượng rằng thương hiệu đó gắn với một sản phẩm hay dịch vụ với những chất lượng hoặc đặc tính khiến cho sản phẩm hay dịch vụ đó trở nên khác biệt, độc đáo hoặc duy nhất.
Xây dựng thương hiệu bao gồm những bước nhằm tạo ra một tên tuổi, một hình ảnh, hay bất kỳ một dấu hiệu nào để xác định hàng hóa, dịch vụ hay hoạt động thương mại của doanh nghiệp, hay nói cách khác là nhằm tạo ra sự khác biệt ( Vũ Chí Lộc & Lê Thị Thu Hà, 2007) Xây dựng thương hiệu là quá trình lựa chọn và kết hợp các thuộc tính hữu 11 hình cũng như vô hình với mục đích để khác biệt hóa sản phẩm, dịch vụ theo một cách thức thú vị, có ý nghĩa và hấp dẫn ( Jame ,2004). Việc xây dựng thương hiệu cho ngân hàng thương mại thường được thực hiện qua các bước sau: (1) Thiết lập cấu trúc nền móng thương hiệu; (2) Xây dựng chiến lược thương hiệu; (3) Triển khai chiến dịch truyền thông; (4) Định giá thương hiệu.2 Chất lượng tín hiệu Lý thuyết tín hiệu ( signaling theory) Tín hiệu là một sự vật ( hoặc một thuộc tính vật chất, một hiện tượng) kích thích vào giác quan của con người, làm cho con người lí giải và suy diễn tới một cái gì đó nằm ngoài sự vật ấy. Tín hiệu chính là tin tức đã được xử lý để có thể truyền đi trên hệ thống thông tin. Thông tin là sự phản ánh sự vật, sự việc, hiện tượng của thế giới khách quan và các hoạt động của con người trong đời sống xã hội.
Thông tin giúp làm tăng sự hiểu biết của con người, là nguồn gốc của nhận thức và là cơ sở của sự quyết định. Một sự vật sẽ là một tín hiệu nếu nó thỏa mãn các yêu cầu sau: (1) phải là một sự vật hoặc thuộc tính vật chất được cảm nhận qua giác quan của con người;(2) phải đại diện cho một cái gì đó, gợi ra một cái gì đó không phải là chính nó;(3) sự vật đó phải nằm trong một hệ thống tín hiệu nhất định để xác định tư cách tín hiệu của mình cùng với các tín hiệu khác ( Mai Ngọc Chừ và các cộng sư, 1999) Theo Erdem and Swait (1998), lý thuyết này dựa vào nguyên tắc về tính không hoàn hảo (information imperfection) và bất cân xứng về thông tin giữa người cung cấp và người sử dụng sản phẩm dịch vụ; lý thuyết này có ưu điểm là thông tin cảm nhận về chất lượng dịch vụ được phản hồi kịp thời và người cung cấp kịp thời điều chỉnh để nâng cao chất lượng dịch vụ. Tính bất cân xứng thông tin có thể do nhà cung cấp cố tình hoặc vô tình tạo ra. Trong trường hợp cố tình, nhà cung cấp dịch vụ thường thể hiện qua việc 12 lừa dối năng lực thực tế và lừa dối khách hàng.
Trong trường hợp vô tình, thông thường nhà cung cấp dịch vụ nắm rất rõ về chất lượng của dịch vụ mà họ cung cấp hơn là khách hàng sử dụng dịch vụ đó vì một lý do là khách hàng thường không được cung cấp đầy đủ thông tin về chất lượng của nhà cung cấp, điều này dẫn đến tình trạng khách hàng khó phân định trong việc lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ nào là tốt nhất, trong khi nhà cung cấp dịch vụ phải đương đầu với việc làm sao cho khách hàng hiểu rõ và phân biệt được dịch vụ của mình với những dịch vụ có chất lượng kém hơn, đây chính là hiện tượng bất cân xứng về thông tin. Để bù đắp vào sự bất cân xứng này, nhà cung cấp dịch vụ thường sử dụng các tín hiệu marketing như thông qua các phương tiện tuyền thông để làm rõ thuộc tính của dịch vụ, giá cả, bảo trì… chuyển tải đến khách hàng để minh chứng cho khả năng thỏa mãn nhu cầu khách hàng của mình và để định vị thương hiệu dịch vụ của mình so với thương hiệu cạnh tranh, nhờ đó tạo được lòng trung thành khách hàng, giúp khách hàng phân định được chất lượng dịch vụ của mình so với chất lượng dịch vụ kém hơn. Mặt khác việc khách hàng đánh giá chất lượng dịch vụ thường rất khó khăn, điều này thể hiện tính không hoàn hảo. Tín hiệu trong lý thuyết chính là thông tin của khách hàng đánh giá về giá trị của sản phẩm, dịch vụ; có 3 chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng của tín hiệu: rõ ràng, nhất quán và tin cậy ( Nguyen, 2009) Một tín hiệu được gọi là rõ ràng nếu không xuất hiện những thông tin mơ hồ trong quá trình thông tin về một thương hiệu;.
Tính nhất quán của tín hiệu nói lên sự thống nhất của các thành phần của tiếp thị hỗn hợp khi truyền đạt thông tin về thương hiệu. Tính nhất quán cũng có liên quan đến khía cạnh thời gian mà theo đó những thông điệp tiếp thị có thể bền vững theo thời gian. Tính nhất quán cũng đề cập đến tính ổn định ( ít thay đổi) của những đặc tính thương hiệu theo thời gian. Tính tin cậy của một thương hiệu có lẽ là đặc điểm quan trọng nhất của tín hiệu.
Lý thuyết về tín hiệu cho rằng tín hiệu đáng tin cậy quyết định liệu tín hiệu thị trường có truyền tải thông tin một cách có hiệu quả hay không.