CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Chất lượng dịch vụ và chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là lĩnh vực phục vụ nhu cầu người bệnh hay gọi là khách hàng (8). Dịch vụ là một dạng hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của các cá nhân trong cộng đồng xã hội.
Cơ cấu các ngành dịch vụ không đơn giản, ngành dịch vụ được chia thành 3 nhóm: - Các dịch vụ thương mại: bao gồm các loại hình như ăn uống, vận tải, nhà đất… - Các dịch vụ tiêu dùng: bao gồm các dịch vụ tiểu thương, kinh doanh nhỏ lẻ gồm cả y tế và giáo dục - Các dịch vụ công: bao gồm các dịch vụ hành chính công, các hoạt động của các Hội nghề nghiệp. “Dịch vụ” được phân biệt với những hàng hóa hữu hình khác là: tính không hữu hình, không thể tách rời, … (10). Chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ (CLDV) được coi là trừu tượng, không định hình được do các đặc điểm riêng biệt của các dịch vụ. Một dịch vụ hay sản phẩm có chất lượng thì cần thoả mãn các yêu cầu nhất định được xây dựng nên (11).
Có nhiều khái niệm về chất lượng dịch vụ. “CLDV được xem như khoảng cách giữa mong đợi và cảm nhận của khách hàng khi sử dụng dịch vụ”. Theo khái niệm này, thì chất lượng dịch vụ được đo lường bởi 5 khía cạnh, bao gồm: sự hữu hình, sự tin tưởng, sự đáp ứng, sự đảm bảo và sự cảm thông (12). Theo quan điểm khác thì Chất lượng là “thực hiện công việc một cách tốt nhất”.
Theo khái niệm này thì các công việc đều được thực hiện dụa trên những tiêu chuẩn đề ra nhất định và theo những qui trình nhất định. Người lao động được yêu cầu cần phải tuân theo những qui trình đó và đảm bảo đạt được các tiêu chuẩn để có hoàn thành việc cung cấp dịch vụ một cách chất lượng (13). Chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh Dịch vụ y tế được coi là loại hình dịch vụ đặc thù, liên quan đến sức khoẻ và tính mạng của con người. Cũng như khái niệm về chất lượng nói chung, chưa có định nghĩa về chất lượng dịch vụ y tế.
Các khái niệm về chất lượng dịch vụ y tế đã được nêu lên. Một trong các khái niệm về chất lượng dịch vụ y tế là “nhân viên y tế cần phát huy tối đa năng lực của mình để thực hiện công việc liên quan đến chăm sóc sức cho người dân và không để các nguy cơ mất an toàn về sức khoẻ xảy ra”. Như vậy, các dịch vụ y tế 12 cần đáp ứng tốt các yêu cầu đặt ra với nguồn lực có sẵn, tối đa hoá lợi ích về tình trạng sức khoẻ cho người dân trong cộng đồng (14), (15), (16). Theo WHO dựa theo khung hệ thống y tế thì chất lượng dịch vụ y tế và hệ thống thực hiện tốt việc cung ứng dịch vụ, đảm bảo không có vấn đề gì xảy ra và đạt được các mục tiêu của hệ thống về chăm sóc sức khoẻ và công bằng xã hội (17).
WHO đã đưa ra 6 cấu phần đo lường chất lượng dịch vụ y tế: - Hiệu quả: đạt được những mục tiêu mong đợi đặt ra - Hiệu suất: việc cung ứng dịch vụ y tế với chi phí phù hợp - Dễ tiếp cận: dịch vụ y tế dễ tiếp cận về mặt địa lý, thông tin và tài chính - Chấp nhận được: dịch vụ y tế cung cấp được chấp nhận về mặt chính trị và văn hoá của cộng đồng - Công bằng: các cá nhân trong cộng đồng đều được nhận các dịch vụ y tế không phân biệt lứa tuổi, màu da, dân tộc… - An toàn: dịch vụ y tế được cung cấp đảm bảo các tiêu chuẩn về an toàn (18). Các khái niệm về chất lượng dịch vụ y tế có khác nhau về diễn giải, tuy nhiên đều chú trọng vào khách hàng. Các dịch vụ y tế được cung cấp đều lấy khách hàng là trọng tâm. Các cơ sở y tế hiện nay đều cung cấp dịch vụ đảm bảo chất lượng nhằm phục vụ tối đa các nhu cầu hợp lý của khách hàng (19).
Một số mô hình đo lường chất lượng dịch vụ 2. Mô hình đo lường chất lượng dịch vụ của Bộ Y tế, Việt Nam Bộ Y tế đã ban hành Bộ tiêu chí chấ t lươṇ g bệnh viện Việt Nam phiên bản 2.0 theo ̣ số 6858/2016/QĐ-BYT gồ m 83 tiêu chí chấ t lươṇ g để đánh giá chấ t lươṇ g Quyế t đinh bệnh viện, chứng nhận và cải tiế n chấ t lươṇ g cho các bệnh viện (5). Bệnh viện Ung Bướu thành phố Hồ Chí Minh đã áp du ̣ng Bộ tiêu chí chấ t lươṇ g của Bộ Y tế và không ngừng cải tiế n nâng cao chấ t lươṇ g bệnh viện, trong đó có cải tiến qui trình khám chữa bệnh tại khoa khám bệnh của bệnh viện. Bộ Y tế cũng đã ban hành Thông tư 19/2013/TT-BYT hướng dẫn thực hiện quản lý chấ t lươṇ g dich ̣ vu ̣ khám bệnh, chữa bệnh ta ̣i bệnh viện (6).
Thông tư này hướng dẫn việc thực hiện công tác quản lý chất lượng bệnh viện. Qui trình khám chữa bệnh tại khoa khám bệnh cũng đã được hướng dẫn thông qua Quyết định 1313/QĐ-BYT ngày 22 tháng 4 năm 2013. Quyết định này hướng dẫn cụ thể từng bước thực hiện khám bệnh, chữa bệnh tại khoa khám bệnh mà các các bệnh viện cần thực hiện tạo điều kiện thuận lợi cho người bệnh đến nhận dịch vụ khám chữa bệnh (20). Bệnh viện Ung bướu đã sử dụng bộ công cụ đo lường sự hài lòng của khách hàng thuộc tiêu chí A4.6 13 để đo lường sự hài lòng của người bệnh về chất lượng dịch vụ.
Tuy nhiên, số phiếu được đo lường ở khoa khám bệnh là không nhiều. Hơn nữa, bộ công cụ chưa được chuẩn hoá, còn có nhiều câu bao hàm nhiều ý dẫn tới khách hàng có thể trả lời không chính xác. Mô hin ̀ h của Gronroos Gronroos đã xây dựng mô hình đo lường chất lượng dịch vụ bằng cách so sánh hiệu số về mong đợi của khách hàng về những dịch vụ họ nhận được và cảm nhận của họ về những dịch vụ thật sự họ nhân được (21). Với mô hình này, tác giả nhấn mạnh vào việc đo lường chất lượng kỹ thuật hay còn gọi là chất lượng chuyên môn và chất lượng chức năng.
Chất lượng chuyên môn được đảm bảo khi nhân viên y tế cung cấp các dịch vụ lâm sàng theo các tiêu chuẩn đề ra. Khách hàng không đánh giá được chất lượng chuyên môn vì họ không thể biết được người cung cấp dịch vụ có tuân thủ các yêu cầu về kỹ thuật lâm sàng hay không. Trong khi chất lượng chức năng đo lường về môi trường mà chất lượng chuyên môn được cung cấp như thời gian chờ đợi, sự sạch sẽ của cơ sở vật chất…với chất lượng này thì khách hàng hoàn toàn có thể đánh giá được. Mô hin ̀ h của Parasuraman và cộng sư ̣ Parasuraman và cs (1985) cho rằ ng: “Chấ t lươ ̣ng dich ̣ vu ̣ là khoảng cách giữa sự mong đơị (kỳ vo ̣ng) của khách hàng và nhận thức (cảm nhận) của ho ̣ khi đã sử du ̣ng qua ̣ vu ̣”.
dich Mô hình chấ t lươṇ g dich ̣ vu ̣ đươc̣ phát triển dựa trên đo lường hiệu số giữa kỳ vọng và cảm nhận. Năm 1998, tác giả đã xây dựng mô hình đo lường chất lượng dịch vụ đặt tên là SERVQUAL bao gồm 5 khía cạnh đo lường thay bằng 10 khía cạnh so với trước đây. - Sự hữu hình: nội dung đo lường là điều kiện CSVC &TTB y tế phục vụ cung cấp dịch vụ - Sự tin tưởng: nội dung đo lường tính tin cậy và chính xác của các dịch vụ - Sự đáp ứng: khách hàng được phục vụ kịp thời các nhu cầu hợp lý - Sự đảm bảo: khách hàng được cung cấp dịch vụ đảm bảo về thời gian cũng như thái độ của nhân viên y tế - Sự cảm thông: khách hàng được đồng cảm khi nhận dịch vụ y tế (22). ̣ vu ̣ (Q) = Mức độ cảm nhận (P) – Sư ̣ kỳ vo ̣ng (E) Chấ t lươṇ g dich Giá tri ̣ Sự thỏa mãn của khách hàng P<E Khách hàng không thoả mãn P =E Khách hàng đạt được sự thoả mãn P>E Khách hàng cảm thấy dịch vụ rất tốt 14 Sự mong đợi của khách hàng (Expectation) dùng để khảo sát khách hàng mang ý nghiã đinh ̣ vu ̣ hơn là cảm nhận của khách hàng về chấ t lươṇ g dich ̣ hướng chấ t lươṇ g dich ̣ vu ̣.
Mức độ cảm nhận (Perception) dùng để khảo sát sự cảm nhận của khách hàng về chấ t ̣ vu ̣ hiện ta ̣i đươc̣ cung cấ p. Mô hin ̀ h của Cronin và Taylor Hai tác giả đã xây dựng mô hình SERVPERF để đo lường chất lượng dịch vụ. Mô hình này được cho là thuận tiện và đo lường rõ ràng kết quả chất lượng dịch vụ. Cronin và Taylor cho rằng mô hình SERVQUAL đo lường chất lượng dịch vụ phức tạp hơn khi phải tính toán hiệu số chất lượng giữa kỳ vọng và thực tế.
Do đó, chấ t lươṇ g dich ̣ vu ̣ chỉ được đánh giá qua cảm nhận của khách hang về những dịch vụ họ đã trải nghiệm qua (23). Các nhà nghiên cứu đã đánh giá sự phù hợp của các mô hình đo lường chất lượng dịch vụ dựa vào 8 tiêu chuẩn: - Tiêu chuẩn 1: Mô hình cần định rõ những yếu tố ảnh hưởng - Tiêu chuẩn 2: Mô hình phù hợp đo lường chất lượng đa dạng các dịch vụ - Tiêu chuẩn 3: Mô hình giúp cải thiện chất lượng - Tiêu chuẩn 4: Mô hình đồng thời đo lường sự hài long của khách hàng - Tiêu chuẩn 5: Mô hình nâng cao năng lực của người lao động - Tiêu chuẩn 6: Xác định phương thức đo lường - Tiêu chuẩn 7: Mô hình hỗ trợ xác định các nguồn lực lập kế hoạch - Tiêu chuẩn 8: Sự hữu dụng của mô hình Kết quả cho thấy chưa có mô hình nào thoả mãn được cả 8 tiêu chuẩn. Tuy nhiên, mô hình của (Cronin và Taylor, 1992) thoả mãn đa số các tiêu chuẩn, dù chưa giúp xác ̣ nhu cầ u về CSHT và các nguồ n lực hỗ trơ ̣ cho việc lập kế hoa ̣ch (24). Chính vì vậy, đinh trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng mô hình SERVPERF để đo lường chất lượng dịch vụ tại khoa khám bệnh bệnh viện Ung Bướu thành phố Hồ Chí Minh.