ĐẶT VẤN ĐỀ Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Kóu tại huyện Hàm Thuận Nam là một trong hai Khu bảo tồn thiên nhiên của tỉnh Bình Thuận, có độ cao từ 30 m - 697 m so với mặt nƣớc biển; đƣợc thành lập theo Quyết định 791/TTg ngày 26 tháng 10 năm 1996 của Thủ tƣớng Chính phủ và đƣợc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận nằm trong hệ thống các khu rừng đặc dụng của Việt Nam. Đây là nơi có quần xã thực vật đặc trƣng của khu vực ven biển cực Nam Trung Bộ, bao gồm các hệ sinh thái rừng lá rộng thƣờng xanh nhiệt đới, hệ sinh thái rừng nửa rụng lá và đặc biệt là hệ sinh thái rừng rụng lá cây họ Dầu chiếm trên 50% diện tích tự nhiên của Khu bảo tồn. Quần xã thực vật cây họ Dầu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Kóu đƣợc coi là tiêu biểu cho vùng đất cát ven biển của khu vực Nam Trung Bộ, mà đặc trƣng là cây Dầu cát (Dipterocarpus chartaceus Sym). Dầu cát đƣợc phát hiện thấy ở Việt Nam trên các vùng cát ven biển chạy suốt từ Bình Thuận đến Bà Rịa - Vũng Tàu.
Cây mọc thành từng đám khoảng vài chục cây đến hàng trăm cây, dọc suối nƣớc ven biển và dọc bờ biển. Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Kóu có những quần thụ tự nhiên của Dầu cát, mỗi đám khoảng vài trăm cây. Quả nhỏ, vỏ quả nhẵn bóng, tròn chứ không nhƣ quả dầu rái. Hệ sinh thái rừng rụng lá cây họ Dầu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Kóu nói chung và cây Dầu cát nói riêng cần đƣợc bảo vệ hiệu quả vì chúng không chỉ có tính độc đáo mà còn là nguồn cây bản địa có thể sử dụng trong các chƣơng trình phục hồi rừng cho vùng ven biển trong khu vực vốn hiện đang bị hoang hóa sau phá rừng.
Để góp phần quản lí và phát triển quần xã thực vật cây họ Dầu và cây Dầu cát tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Kóu là một việc hết sức cần thiết. Do vậy, đề tài "Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của cây Dầu cát (Dipterocarpus chartaceus Sym) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Kóu, tỉnh Bình Thuận", đƣợc đề xuất thực hiện. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp lâm sinh, xây dựng các kế hoạch và biện pháp kỹ thuật bảo tồn và phát triển cây Dầu cát tại khu vực. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Trên thế giới 1. Nghiên cứu sinh thái, tái sinh rừng Richard P.W (1959)[29], đã phân biệt tổ thành thực vật rừng mƣa thành hai loại: rừng mƣa hỗn hợp có tổ thành loài cây rất phức tạp và rừng mƣa đơn ƣu có tổ thành loài cây đơn giản và trong những điều kiện đặc biệt thì rừng mƣa đơn ƣu chỉ bao gồm một vài loài cây.N (1964) [1], đã nghiên cứu về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mƣa, tác giả đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các biện pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng mƣa tự nhiên. Các phƣơng thức xử lý mà tác giả đƣa ra đều có 2 mục tiêu rõ rệt: (1) nhằm cải thiện rừng nguyên sinh vốn thƣờng hỗn loài và không đồng tuổi bằng cách đào thải những cây quá thành thục và cây phi mục đích để tạo không gian dinh dƣỡng và ánh sáng hợp lý cho các cây có giá trị sinh trƣởng, phát triển. (2) tạo lập tái sinh bằng cách xúc tiến tái sinh, thực hiện tái sinh nhân tạo sau khi khai thác, chăm sóc nuôi dƣỡng rừng.
Từ đó, tác giả đã đƣa ra nguyên lý tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại rừng đều tuổi, rừng không đều tuổi và các phƣơng thức xử lý cải thiện rừng mƣa.P (1971) [21], đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở thuật ngữ hệ sinh thái của Tansley A.Các sinh vật và hoàn cảnh bên ngoài của chúng luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và ở trạng thái thƣờng xuyên có tác động. Từ đó, khái niệm về hệ sinh thái đƣợc làm sáng tỏ là cơ sở nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học. Nghiên cứu về tái sinh rừng đóng vai trò rất quan trọng bởi nó thể hiện động thái của rừng, nó là cơ sở để dự báo xu hƣớng diễn thế của rừng trong 3 tƣơng lai. Do vậy nghiên cứu về tái sinh rừng đã đƣợc nhiều tác giả trên thế giới thực hiện.
Davis và Richards (1933-1934) nghiên cứu rừng mƣa ở khu vực sông Moraballi, Guana, đã thống kê số cây thứ tự từ thấp đến cao, trƣớc hết là số mầm non dƣới 2 m, tiếp đến là số cây non có đƣờng kính dƣới 10 cm và chiều cao trên 4,6 m, sau đó mới đến số cây gỗ có đƣờng kính trên 10 cm với cở đƣờng kính 10 cm. Cây tái sinh đƣợc thống kê từ dƣới 2 m đến chiều cao 4,6 m, với đƣờng kính dƣới 10 cm. Tác giả Aubre’ville (1993) đã thống kê lớp cây non gồm những cây thuộc cấp đƣờng kính nhỏ hơn 10 cm (Theo Richards P. Trong các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng và sinh trƣởng của tái sinh thì ánh sáng đƣợc xác nhận là quan trọng.
Balanford (1929) khi nghiên cứu tại vùng rừng thƣờng xanh ở Malaixia nhận thấy tái sinh tốt nhất là tại những nơi có lỗ trống, ở đấy bề ngang không rộng quá 6 m; ở nơi có lỗ trống lớn hơn không thấy xuất hiện cây tái sinh ở giữa lỗ trống. (1978)[4] khi nghiên cứu về tái sinh cây họ Dầu (Dipterocarpaceae), trong các khu rừng ở vùng Đông Nam châu Á, thấy rằng tái sinh cây họ Dầu hình thành từng vệt sau khai thác. và các cộng sự (1995)[48] nghiên cứu tái sinh trong các khu rừng đã qua khai thác ở Kalimantan – Indonesia nhận thấy tốc độ sinh trƣởng tỷ lệ nghịch với diện tích ô trống và đã xác định diện tích ô trống thích hợp là khoảng 500 m2, và chỉ ra rằng cây họ Dầu chịu ảnh hƣởng lớn của nhân tố ánh sáng. Tổ chức FAO tại Bangkok-Thái Lan đã tổng kết những tiến bộ trong việc hỗ trợ phục hồi tái sinh rừng tự nhiên vùng Châu Á – Thái Bình Dƣơng, các tác giả Patrick C.
Ganz và Philip 4 J.McKenzie (2003)[54] đã tập hợp các nhân tố quan trọng ảnh hƣởng đến tái sinh rừng tự nhiên tại các nƣớc, gồm: kiểm soát lửa rừng, hạn chế chăn thả, ngăn chặn sự phát triển của các loài cỏ tranh Imperata indica và một vấn đề quan trọng là thu hút cộng đồng địa phƣơng cũng nhƣ chính sách của Chính phủ đối với phục hồi tái sinh rừng tự nhiên. Worthley (2008)[52]khi nghiên cứu tại vùng Conecticut- Mỹ, đã đƣa ra các nhân tố giới hạn ảnh hƣởng tới sự phát triển của các loài cây tái sinh bao gồm: ánh sáng và không gian dinh dƣỡng; đất; độ ẩm đất; chất đất; sự cạnh tranh; sự phát triển của quần thụ, trong đó ánh sáng đƣợc xác định là nhân tố quan trọng nhất ảnh hƣởng tới sự hình thành phát triển của cây tái sinh, v. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng Cấu trúc tổ thành Tổ thành thực vật là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sự đa dạng, phong phú của hệ thực vật rừng tại các vùng địa sinh học khác nhau. Theo Schimper (1935) ở rừng Bắc Mỹ, trên diện tích 0.5 ha có 20 – 30 loài cây gỗ lớn, Brown (1941) cho biết rừng ở châu Âu hoặc Bắc Mỹ trong trƣờng hợp cực đoan, rừng có thể bao gồm 20 – 25 loài cây gỗ lớn, [29].
Trong khi đó theo Richards P.W (1959)[29] khi nghiên cứu tổ thành loài cây ở rừng nhiệt đới cho thấy thƣờng có ít nhất 40 loài trở lên trên 1 hecta, có trƣờng hợp còn ghi nhận đƣợc trên 100 loài.N (1962) [1] Khi nghiên cứu rừng mƣa khu vực Belem, Amazôn, điều tra ô tiêu chuẩn với diện tích 2 hecta và đã thống kê đƣợc 36 họ thực vật.R (1965)[2] nghiên cứu rừng ẩm nhiệt đới ở Đông Nam Á cho thấy nhóm cây họ Dầu thƣờng chiếm tỷ lệ lớn đến 50% tổ thành lâm phần. Trong rừng hỗn giao, nhiều loài cây gỗ lớn phân bố theo tỷ lệ khá cân bằng, tuy nhiên phần lớn trong một quần thụ thƣờng có 1-2 loài chiếm ƣu thế. Zeng và cộng sự (1998) đã thống kê khoảng 280 loài cây dƣợc liệu, 80 loài cây có dầu và 20 loài cây có sợi cũng nhƣ một số loài cây có giá trị khác (theo Zaizhi Z. (2001)[34] khi nghiên cứu rừng thứ sinh ở Nepal đã thống kê có trên 65.000 loài cây có hoa và 4.064 loài cây không hoa, trong đó có trên 1.500 loài nấm và hơn 350 loài địa y.
Cấu trúc tầng thứ Nghiên cứu cấu trúc tầng thứ của rừng đãđƣợc nhiều tác giả trên thế giới quan tâm và đề cập từ rất sớm, đặc biệt là là đối với rừng mƣa nhiệt đới. Năm 1919, tác giả Brown khi nghiên cứu về cây họ Dầu tại Phillippine, đã cho biết là các cây gỗ lớn sắp xếp thành ba tầng tƣơng đối rõ. Tác giả Davis và Richards P.W (1939) đã nghiên cứu và phân rừng nguyên sinh ở Nijeria thành 5 tầng, trong đó có 3 tầng cây gỗ. Vaughan và Weihe (1941) trong khi nghiên cứu rừng trên đỉnh núi cao tại Moritiut xác nhận sự phân tầng là có thực và Bear (1946) cũng cho rằng sự phân tầng ở vùng rừng Trinidad là rõ ràng với 3 tầng cây gỗ và tầng cây bụi, tầng thảm tƣơi (Theo Richards P.
6 Nghiên cứu rừng ẩm nhiệt đới, Catinot (1974) [3] đã cho rằng rừng ẩm nhiệt đới có sự phân hoá mạnh, các tầng trong quần thụ đƣợc phân chia tƣơng đối rõ rệt, có tầng vƣợt tán với chiều cao trên 40 m và những tầng bên dƣới. Theo Steve Nix (1997)[55] cho rằng cấu trúc rừng mƣa nhiệt đới có ít nhất 5 tầng, gồm tầng vƣợt tán; tầng tán chính của rừng; tầng dƣới tán; tầng cây bụi; tầng mặt đất. Theo Geoffrey Jess Parker (2008)[51] khi nghiên cứu về cấu trúc, tăng trƣởng, và chức năng của các hệ sinh thái của rừng rụng lá cho rằng cấu trúc tầng tán của quần thụ có ảnh hƣởng tới sự phát triển của rừng. Cấu trúc mật độ Cấu trúc mật độ của rừng cũng đã đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu, kết quả cho thấy rằng có sự biến động về mật độ giữa các vùng.W (1959) [29] nghiên cứu rừng mƣa nhiệt đới ở Nam Mỹ và châu Phi cho thấy mật độ lâm phần tức những cây có đƣờng kính ngang ngực từ 10 cm trở lên biến động từ 390-1.710 cây/ha, mật độ của những cây có đƣờng kính từ 41 cm trở lên có 39-60 cây/ha.