mở đầu cho nhưng nghiên cứu hệ thực vật. Cụ thể Talmachay AI cho rằng “ Chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao trùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hóa về mặt địa lý”. Ông gọi đó là một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1500-2000 loài. Nghiên cứu về phân loại trạng thái rừng Mục đích chủ yếu của phân loại trạng thái rừng là nhằm xác định các đối tượng Rừng với những đặc trưng cấu trúc cụ thể, từ đó lựa chọn, đề xuất các biện pháp lâm sinh sinh thích hợp để điều khiển, dẫn dắt rừng đạt trạng thái chuẩn.
Về phân bố trước hết phải kể đến Loestschau (1966)(10) đưa ra hệ thống phân chia kiểu trạng thái rừng cho kinh doanh rừng hỗn giao thường xanh lá rộng nhiệt đới. Viện điều tra Quy hoạch rừng đã dựa trên hệ thống phân loại của Loeschau cải tiến cho phù hợp với đặc điểm rừng tự nhiên của Việt Nam và cho đến nay vẫn áp dụng hệ thống phân loại này (QPN 6-84). Tiếp theo là Thái Văn Trừng (1978)(18) đứng trên quan điểm sinh thái đã chia rừng Việt Nam thành 14 kiểu thảm thực vật. Đây là công trình tổng c 8 quát phong phú của rừng nhiệt đới, Thái Văn Trừng đã đưa ra kết luận: không thể dùng quần hợp thực vật là đơn vị cho phân loại cơ bản như các tác giả kinh điển đã sử dụng ở vùng ôn đới.
Ông đề xuất dùng kiểu thảm thực vật làm đơn vị phân loại cơ bản và lấy hình thái, cấu trúc quần thể làm tiêu chuẩn phân loại. Trần Ngũ Phương (1985-1988)(8) đã đưa ra phương pháp phân chia rừng nhằm phục vụ công tác điều chế với đơn vị phân chia là lô dựa trên 5 nhân tố là nhóm nhân tố sinh thái tự nhiên, các giai đoạn phải triển và suy thoái của Rừng, khả năng tái tạo rừng bằng tái sinh tự nhiên, đặc điểm địa hình và thổ nhưỡng. Nghiên cứu cấu trúc rừng Nghiên cứu cấu trúc rừng là một trong những nội dung quan trọng nhằm đề xuất các giải pháp kĩ thuật lâm sinh phù hợp. Trần Ngũ Phương (1970)(13), Thái Văn Trừng (1978)(18), nghiên cứu cấu trúc sinh thái làm căn cứ phân loại thảm thực vật Việt Nam.
Theo Trần Ngũ Phương (1970), đã chỉ ra những đặc điểm cấu trúc của các thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam trên cơ sở kết quả điều tra tổng quát về tình hình rừng miền Bắc Việt Nam từ năm 1961 đến năm 1965: nhân tố cấu trúc đầu tiên được nghiên cứu là tổ thành. Theo Thái Văn Trừng (1978,1998), thảm thực vật rừng ở Việt Nam và những hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam đã đưa ra những mô hình cấu trúc rừng như: Tầng vượt tán (A1), tầng ưu thế sinh thái (A2), tầng dưới tán (A3), tầng cây bụi (B) và tầng cỏ quyết (C), tác giả đã vận dụng và cải tiến, bổ sung phương pháp biểu đồ mặt cắt đứng của Davit- Risa để nghiên cứu cấu trúc rừng Việt Nam; trong đó tầng cây bụi và thảm tươi được vẽ phóng đại với tỷ lệ nhỏ hơn và có ghi kí hiệu thành phần loài cây của quần thể đối với những đặc trưng sinh thái và vật hậu cùng biểu đồ khí hậu, vị trí địa lý, địa hình. Tác giả đã dựa vào 4 tiêu chuẩn để phân chia kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam đó là: Dạng sống ưu thế của những thực vật trong tầng cây lập c 9 quần, độ tàn che của tầng ưu thế sinh thái, hình thái lá và trạng thsai màu của tán lá. Với quan điểm trên, Thái Văn Trừng đã phân chia thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu.
Nguyễn Văn Trương (1983), quy luật cấu trúc rừng gỗ hỗn loại đã xem xét sự phân tầng theo hướng định lượng, phân tầng theo cấp chiều cao một cách cơ giới. Đào Công Khanh (1996), nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc của rừng lá rộng thường xanh ở Hương Sơn, Hà Tĩnh làm cơ sở đề xuất các biện pháp lâm sinh phục vụ khai thác và nuôi dưỡng rừng. Vũ Đình Phương và Đào Công Khanh (2001), kết quả thử nghiệm phương pháp nghiên cứu một số quy luật cấu trúc, sinh trưởng phục vụ điều chế rừng lá rộng, hỗn loài thường xanh ở Kon Hà Nừng – Gia Lai đã đưa ra nhận định rằng: Đa số loài cây có cấu trúc đường kính và chiều cao giống với cấu trúc tương ứng của lâm phần, đồng thời những cấu trúc của loài cũng có những biến động. Về nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng thì việc mô hình hóa cấu trúc đường kính D1.3 và chiều cao được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và biểu diễn chúng theo các dạng hàm phân bố xác suất khác nhau.
Với rừng tự nhiên hỗn loài khác tuổi, Đồng Sỹ Hiền (1974) chỉ ra rằng dạng phân bố N/D1.3 là dạng phân bố giảm nhưng do quá trình khai thác chọn thô không theo nguyên tắc, nên đường phân bố thực nghiệm có dạng hình răng cưa và ông đã tiến hành chọn ham Meyer để nắn phân bố N/D 1.3 ở rừng tự nhiên lá rộng nước ta và dùng hệ đường cong Poisson để nắn phân bố thực nghiệm cho rừng tự nhiên miền Bắc nước ta. Với rừng tự nhiên lá rộng nước ta, Đồng Sỹ Hiền (1974), phân bố N/Hvn trong từng loại lâm phần thường có nhiều đỉnh, phản ánh mức độ phức tạp của rừng chặt chọn. Nguyễn Hải Tuất (1982, 1986)(15), sử dụng phân bố giảm, phân bố khoảng cách để biểu diễn cấu trúc rừng thứ sinh và áp dụng hàm Poisson vào nghiên cứu cấu trúc quần thể rừng. Trần Văn Con (1991), đã sừ dụng hàm Weibull để mô phỏng cấu trúc c 10 đường kính cho rừng Khộp ở tỉnh Đăk Lăk.
Lê Sáu (1996), sử dụng hàm Weibull để mô phỏng các quy luật phân bố đường kính, chiều cao tại khu vực Kon Hà Nừng, Tây Nguyên. Về nghiên cứu mô hình hóa số cây theo cỡ chiều cao (N/H vn ). Theo một số tác giả Như Bảo Huy (1993), Đào Công Khanh (1996) đã nghiên cứu phân bố số cây theo cỡ chiều cao để tìm ra tầng tích tụ tán cây và thấy rằng phân bố N/Hvn là phân bố một đỉnh, nhiều đỉnh phụ hình răng cưa và thích hợp với hàm Weibull. Nguyễn Thành Mến (2005) sử dụng hàm Weibull, Meyer, khoảng cách để mô phỏng quy luật phân bố N/Hvn ở các khu rừng lá rộng thường xanh sau khai thác ở Phú Yên và cho thấy rằng hàm Meyer và hàm khoảng cách là không phù hợp, chỉ có hàm Weibull là có khả năng mô phỏng tốt quy luật phân bố này.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về mô hình hóa phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D1.3) và phân bố số cây theo cỡ chiều cao (N/Hvn) đều cho thấy sử dụng hàm Weibull để mô phỏng các quy luật phân bố là tốt nhất so với hai hàm còn lại. Đối với các nghiên cứu về tương quan chiều cao với đường kính (H/D11.3) Đồng Sỹ Hiền (1974) đã sử dụng phương trình Logarit hai chiều hoặc hàm mũ để mô tả quan hệ H/D đồng thời cho thấy khả năng sử dụng một phương trình chung cho cả nhóm cây có tương quan H/D thuần nhất với nhau. Theo Vũ Đình Phương (1975) thì có thể lập biểu chiều cao cho lâm phần Bồ đề tự nhiên theo phương trình bậc 2 dạng parabol mà không cần phân biệt cấp đất và tuổi. Phạm Ngọc Giao (1995), Vũ Nhâm (1998) dùng phương trình logarit một chiều để xác lập quan hệ H/D1.3 cho các lâm phần Thông đuôi ngựa có thể.
Đào Công Khanh (1996), Trần Cẩm Tú (1999) đã chọn phương trình : LogHvn = a + blogD1.3 để biểu diễn mối quan hệ chiều cao vút ngọn và đường kính ngang ngực cho rừng tự nhiên hỗn loài ở Hương Sơn – Hà Tĩnh. c 11 Bảo Huy (1993)(11) khi nghiên cứu tương quan H/D1.3 của một số loài ưu thế như Bằng lăng, Cẩm xe, Kháo và Chiêu liêu ở rừng lá rụng và nửa lá rụng ở Tây Nguyên đã thử nghiệm bốn phương trình: + Hvn = a + b.16) Trong đó phương trình thích hợp nhất là phương trình: LogHvn = a + b.3 Qua những nghiên cứu cho thấy, việc nghiên cứu cấu trúc rừng ở nước ta đã có những bước phát triển nhanh chóng và có nhiều đóng góp nhằm nâng cao hiểu biết hơn về rừng, nâng cao hiệu quả nghiên cứu cũng như sản xuất kinh doanh rừng. Nghiên cứu tái sinh rừng Ở nước ta chưa có nhiều những công trình nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về tái sinh rừng, đặc biệt là tái sinh tự nhiên, một số kết quả về nghiên cứu tái sinh rừng thường đề cập trong nghiên cứu về thảm thực vật rừng. Khi nghiên cứu về thảm thực vật rừng Việt Nam, Thái Văn Trừng (1978)(18) đã nhấn mạnh tới ý nghĩa của điều kiện ngoại cảnh đến các giai đoạn phát triển của cây tái sinh.
Theo tác giả ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên ở các rừng nguyên sinh và thứ sinh. Theo Trần Ngũ Phương (1970), khi nghiên cứu quy luật phát triển rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh đến quá trình diễn thế thứ sinh của rừng tự nhiên và khảng định: “ Mặt phục hồi tự nhiên không bao giờ cân được với mặt thoái hóa về số lượng cũng như chất lượng nên không thể trông cậy vào tái sinh tự nhiên”. Những nghiên cứu trên đã có nhiều đóng góp nhằm nâng cao hiểu biết c 12 về rừng, nâng cao hiệu quả trong nghiên cứu cũng như sản xuất kinh doanh rừng. Vì vậy, những nghiên cúu đầy đủ về tái sinh rừng tự nhiên cho từng đối tượng cụ thể là hết sức cần thiết nếu muốn đề xuất biện pháp kĩ thuật chính xác.
Nghiên cứu về đa dạng sinh học Nghiên cứu về thực vật ở Việt Nam trước hết phải kể đến công trình thực vật chí Nam Bộ của Leureiro, thưc vật chí rừng Nam Bộ của Pierrel. Một trong những công trình lớn nhát về quy mô cũng như giá trị là công trình nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương của các tác giả Pháp, kết quả của nó là bộ “Thực vật chí đại cương Đông Dương” bao gồm 7 tập đây là bộ sách có ý nghĩa lớn đối với nhà thực vật học Việt Nam. Tiếp theo đó là bổ sung của Humber, đến nay thực vật chí Lào, Campuchia, Việt Nam đã xuất bản từ năm 1960 và ở nước ta đã có đến 26 tập, sau này Poct (1965) đã dựa trên bộ thực vật chí đại cương Đông Dương thống kê 5190 loài.