Tổng quan luận án

Tổn thương đám rối thần kinh cánh tay (ĐRTKCT) do chấn thương là dạng thương tổn phức tạp, thường gặp trong các vụ tai nạn giao thông (đặc biệt là tai nạn xe máy) và tai nạn sinh hoạt hoặc lao động. Theo các nghiên cứu được tác giả điểm lại, tổn thương vùng trên đòn chiếm khoảng 70 - 75% các ca chấn thương ĐRTKCT, trong đó thương tổn trước hạch (nhổ rễ thần kinh ra khỏi tủy sống) chiếm tỷ lệ cao và không có khả năng tự hồi phục nếu không can thiệp phẫu thuật kịp thời. Về mặt lâm sàng và ngoại khoa, việc chẩn đoán phân biệt chính xác giữa tổn thương trước hạch (nhổ rễ) và tổn thương sau hạch (đứt, giãn rễ ngoài lỗ ghép) có ý nghĩa quyết định chiến lược phẫu thuật: tổn thương sau hạch có thể nối ghép trực tiếp, trong khi tổn thương trước hạch bắt buộc phải phẫu thuật chuyển ghép thần kinh từ các nguồn lân cận.

Mặc dù chụp cộng hưởng từ (CHT) là phương pháp không xâm lấn có giá trị cao đối với tổn thương sau hạch, kỹ thuật này bộc lộ nhiều hạn chế khi chẩn đoán nhổ rễ trong ống sống, dễ bị nhiễu ảnh do chuyển động dòng dịch não tủy, nhịp đập mạch máu và đặc biệt không thể thực hiện được ở nhóm bệnh nhân có phương tiện kết xương kim loại ái từ vùng cổ - vai (vốn rất phổ biến trong chấn thương phối hợp gãy xương). Ngược lại, chụp cắt lớp vi tính (CLVT) tủy cổ cản quang đa dãy với lát cắt mỏng dưới 1 mm và kỹ thuật tái tạo đa mặt phẳng cho phép đánh giá trực tiếp cấu trúc các rễ con trong ống sống và phát hiện tổn thương nhổ rễ với độ chính xác cao. Tại Việt Nam, trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, quy mô lớn về đặc điểm hình ảnh và đối chiếu giá trị chẩn đoán của CLVT tủy cổ cản quang với kết quả phẫu thuật.

Luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Tống Thị Thu Hằng, thực hiện tại Viện Nghiên cứu Khoa học Y Dược Lâm sàng 108 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lâm Khánh và PGS.TS Lê Văn Đoàn (chuyên ngành Chẩn đoán hình ảnh, mã số: 62720166, bảo vệ năm 2022), được tiến hành nhằm giải quyết khoảng trống học thuật và thực tiễn này với hai mục tiêu cụ thể:

  1. Mô tả đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính tủy cổ cản quang trong chẩn đoán nhổ rễ đám rối thần kinh cánh tay do chấn thương.
  2. Xác định vai trò, giá trị của cắt lớp vi tính tủy cổ cản quang trong chẩn đoán nhổ rễ đám rối thần kinh cánh tay do chấn thương thông qua đối chiếu với kết quả phẫu thuật.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các bệnh nhân bị tổn thương ĐRTKCT do chấn thương được chỉ định chụp CLVT tủy cổ cản quang và phẫu thuật thăm dò/điều trị tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan hệ thống các mốc lịch sử và hướng nghiên cứu trong nước cũng như quốc tế về chẩn đoán hình ảnh và tổn thương ĐRTKCT:

  • Về dịch tễ học và cơ chế chấn thương: Tác giả Midha R. công bố tổn thương ĐRTKCT chiếm khoảng 5% các ca chấn thương do xe máy và 4% do trượt tuyết. Tại Việt Nam, theo Hồ Hữu Lương (1992), tổn thương thần kinh trong chấn thương cột sống cổ chiếm 60 - 70%; Lê Văn Đoàn (2013) ghi nhận nguyên nhân hàng đầu tại Việt Nam là tai nạn xe máy. Nghiên cứu của Moran S. (2005) phân tích chi tiết cơ chế tổn thương giằng giật theo cơ chế trung tâm (tủy sống di chuyển đột ngột làm đứt rễ con) và cơ chế ngoại vi (lực kéo vượt quá sức bền bao xơ màng cứng, kéo nón màng tủy gây giả thoát vị màng tủy - GTVMT).
  • Về các phương pháp chẩn đoán hình ảnh:
    • X-quang tủy cản quang kinh điển: Được báo cáo từ sớm bởi Choroschoko (1935) và Murphey (1947), song hạn chế do độ phân giải thấp và độ chính xác chỉ đạt khoảng 60 - 70%.
    • Siêu âm: Nguyễn Phước Bảo Quân (2012) cùng các tác giả quốc tế (Pequeux F., 2014) ghi nhận siêu âm bằng đầu dò tần số cao (10 - 18 MHz) chỉ có giá trị thăm dò tổn thương sau hạch và các rễ trên (C5 - C7), không quan sát được đoạn trong ống sống.
    • Cộng hưởng từ: Khởi đầu từ Blair D.N. (1987) đến các nghiên cứu sử dụng từ trường cao 1.5 - 3.0 Tesla của Cejas D.C. (2016), Fan Y.L., Veronesi B.A. (2018), Vargas M.I. (2015), Gallagher T.A. (2015). Tại Việt Nam, Đinh Hoàng Long (2012) khảo sát 36 bệnh nhân trên CHT 1.5 Tesla cho thấy sự phù hợp với phẫu thuật đạt 80,6%, nhưng CHT khó quan sát rễ con trong ống sống mà chủ yếu dựa vào dấu hiệu gián tiếp GTVMT; Nguyễn Ngọc Trung (2019) nghiên cứu CHT 3.0 Tesla trên 60 bệnh nhân đạt độ nhạy, đặc hiệu từ 70 - 95%.
    • CLVT tủy cổ cản quang: Kỹ thuật tiêm thuốc cản quang vào ống sống được Di Chiro và Chellinger đề xuất năm 1976, áp dụng cho ĐRTKCT lần đầu bởi Marshall và De Silva (1986). Sau đó, Carvalho G.A. và cs (1997) chứng minh CLVT tủy cản quang là phương tiện đáng tin cậy nhất để chẩn đoán nhổ rễ hoàn toàn và không hoàn toàn. Doi K. và cs (2002) so sánh CHT và CLVT kết hợp X-quang trên 175 rễ (35 bệnh nhân), ghi nhận CLVT ưu thế hơn trong phát hiện nhổ rễ không hoàn toàn. Yamazaki H. và cs (2007) trên 28 bệnh nhân chứng minh kỹ thuật tái tạo đứng ngang và chếch ngang nâng độ nhạy lên 100%, độ đặc hiệu 96% và độ chính xác 98% so với 90% của mặt cắt ngang đơn thuần. Yoshikawa T. (2006) khẳng định vai trò của bộ lọc làm sắc nét hình ảnh (hard-bone kernel) trên máy CLVT đa dãy. Phân loại hình ảnh học của Nagano A. (1989) chia thương tổn rễ thành 6 mức độ (N, A1, A2, A3, D, M) đặt nền tảng cho việc đánh giá chi tiết. Các nghiên cứu của Steens S.C. (2011), Vande Linde (2015), Laohaprasitiporn (2018), Walker A., Bordalo-Rodrigues M. (2020) tiếp tục củng cố giá trị vượt trội của CLVT tủy cản quang trong đánh giá rễ thần kinh.

Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là xây dựng quy trình kỹ thuật chụp CLVT tủy cổ cản quang đa dãy chuẩn hóa tại Việt Nam, phân tích toàn diện các dấu hiệu hình ảnh trực tiếp lẫn gián tiếp của nhổ rễ ĐRTKCT theo vị trí giải phẫu từ C5 đến T1, đồng thời đối chiếu mù đôi với tiêu chuẩn vàng phẫu thuật để xác định độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự báo và độ chính xác của phương pháp.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và giải phẫu ứng dụng

ĐRTKCT được cấu tạo bởi ngành trước của các rễ thần kinh gai sống từ C5 đến T1 (có thể nhận nhánh phụ từ C4 hoặc T2). Cấu trúc phân chia từ trong ra ngoài theo các mức:

  • Rễ (Roots): Gồm các rễ con trước (vận động) và rễ con sau (cảm giác) xuất phát từ tủy sống, hợp lại thành rễ trước và rễ sau nguyên phát, tiếp nối thành thần kinh gai sống qua lỗ ghép. Đoạn trong ống sống chỉ được bao bọc bởi mô xơ lỏng lẻo nên dễ bị tổn thương nhổ rễ do lực kéo. Rễ C5 - C7 thường có 3 - 4 nhóm rễ con, rễ C8 - T1 có 2 nhóm rễ con. Đường kính rễ từ 1,5 - 3 mm, chiều dài từ 5 - 20 mm.
  • Thân (Trunks): Thân trên (hợp bởi C5, C6), thân giữa (tiếp tục từ C7), thân dưới (hợp bởi C8, T1).
  • Ngành (Divisions) và Bó (Cords): Mỗi thân chia ngành trước và sau; hợp thành bó ngoài, bó trong và bó sau tương ứng ở vùng dưới đòn.
  • Các dây thần kinh ngoại vi (Branches): Gồm các nhánh bên (thần kinh ngực dài, trên vai, ngực trong, ngực ngoài...) và các nhánh tận (thần kinh quay, giữa, trụ, cơ bì, nách).

Cơ sở chẩn đoán điện thần kinh

Khảo sát dẫn truyền thần kinh vận động (MCV, DML, CMAPs), cảm giác (SCV, DSL, SNAPs) và điện cơ đồ (EMG) giúp định khu thương tổn:

Dây thần kinh DML MCV CMAP (Biên độ) DSL SCV SNAP (Biên độ) Sóng F
Thần kinh Giữa < 4,2 ms > 50 m/s > 7 mV < 3,5 ms > 48 m/s > 10 µV < 31 ms, > 75%
Thần kinh Trụ < 3,5 ms > 50 m/s > 7 mV < 3,0 ms > 48 m/s > 10 µV < 31 ms, > 75%
Thần kinh Quay - > 50 m/s > 7 mV - - - -
Bì cẳng tay ngoài - - - - > 45 m/s > 6 µV -
Bì cẳng tay trong - - - - > 45 m/s > 6 µV -

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu kết hợp hồi cứu, có đối chiếu trực tiếp với kết quả phẫu thuật và thăm dò điện sinh lý trong mổ.
  • Phương tiện kỹ thuật:
    • Máy chụp cắt lớp vi tính 16 dãy GE-Brivo.
    • Máy kích thích thần kinh dùng trong phẫu thuật.
    • Kim chọc dò tủy sống 22G, 25G.
    • Thuốc cản quang tan trong nước không ion hóa (Iopamidol hoặc Iohexol hàm lượng 180 - 300 mg Iod/ml, thể tích 10 - 20 ml ở người lớn).
  • Quy trình kỹ thuật chụp CLVT tủy cổ cản quang:
    1. Chọc dò khoang dưới nhện tủy sống tại vị trí thắt lưng (dưới mức đốt sống L3 để tránh tổn thương chóp tủy).
    2. Tiêm thuốc cản quang vào khoang dưới nhện.
    3. Đặt bệnh nhân nằm đầu thấp nghiêng một góc 45° so với mặt bàn nhằm dồn thuốc cản quang từ vùng thắt lưng lên vùng tủy cổ.
    4. Tiến hành chụp CLVT vùng tủy cổ tại thời điểm 15 - 20 phút sau khi tiêm thuốc (theo quy trình kỹ thuật tại Quyết định số 172/QĐ-BV108 năm 2015 của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108). Thời điểm thực hiện tối ưu từ 3 - 4 tuần sau chấn thương (đảm bảo cục máu đông nội tủy đã hấp thu và các túi GTVMT đã hình thành ổn định).
    5. Cắt lớp mỏng trường chụp bao phủ từ C2 đến T2; sử dụng các thuật toán làm sắc nét và làm mịn; tái tạo đa mặt phẳng (MPR) theo các hướng: cắt ngang (axial), đứng ngang (coronal) và chếch theo đường đi của từng rễ thần kinh (oblique coronal).
  • Xử lý và phân tích số liệu: Phân loại tổn thương rễ theo hệ thống phân loại 6 mức độ của Nagano A. (N, A1, A2, A3, D, M) hoặc phân nhóm nhổ rễ hoàn toàn và nhổ rễ không hoàn toàn. Đánh giá tính đồng thuận và các chỉ số giá trị chẩn đoán (độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác, giá trị dự báo dương tính, giá trị dự báo âm tính) đối chiếu với biên bản phẫu thuật.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 trình bày chi tiết về giải phẫu học ĐRTKCT, đối chiếu giải phẫu thực tế với hình ảnh cắt ngang và đứng ngang trên CLVT tủy cổ cản quang. Tác giả phân tích bệnh sinh, cơ chế chấn thương (trực tiếp, gián tiếp, cơ chế kéo căng trung tâm và ngoại vi), phân loại tổn thương theo định khu (trên đòn, dưới đòn, trước hạch, sau hạch). Đồng thời, chương này tổng kết các triệu chứng lâm sàng tương ứng theo mức tổn thương (mức rễ với dấu hiệu cánh xương bả vai do liệt thần kinh ngực dài, teo cơ cạnh sống, hội chứng Claude Bernard - Horner do tổn thương chuỗi hạch giao cảm cổ đi kèm rễ C8 - T1; mức thân; mức bó). Chương 1 cũng điểm duyệt các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh (X-quang, siêu âm, CHT, CLVT) và phương pháp chẩn đoán điện thần kinh cơ, tổng kết tình hình ứng dụng CLVT tủy cổ cản quang tại Việt Nam và trên thế giới.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 xác định cụ thể tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân (bệnh nhân chấn thương ĐRTKCT được chụp CLVT tủy cổ cản quang và có kết quả phẫu thuật đối chiếu) và tiêu chuẩn loại trừ (chống chỉ định chọc dịch não tủy, dị ứng thuốc cản quang, tổn thương ĐRTKCT không do chấn thương). Trình bày chi tiết các bước trong quy trình can thiệp chọc dò thắt lưng, tư thế dồn thuốc đầu dốc 45°, thông số chụp trên máy CLVT 16 dãy GE-Brivo, các mặt phẳng dựng hình giải phẫu rễ (đặc biệt là mặt phẳng đứng ngang chếch theo đường đi của rễ). Chương này cũng quy định rõ các tiêu chí phân loại hình ảnh rễ tổn thương theo Nagano (N, A1, A2, A3, D, M), các chỉ tiêu đánh giá tính tương đồng giữa hình ảnh học và kết quả phẫu thuật, quy trình bảo đảm y đức trong nghiên cứu lâm sàng.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các số liệu nghiên cứu thực nghiệm thu được:

  • Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu: Phân bố tuổi, giới tính, nguyên nhân chấn thương, bên bị tổn thương (phải/trái), phân loại tổn thương theo lâm sàng và các tổn thương cơ quan phối hợp (gãy xương đòn, xương bả vai, chi trên). Thống kê thời gian từ khi bị chấn thương đến khi chụp CLVT và đến khi được phẫu thuật.
  • Đặc điểm hình ảnh tổn thương rễ trên CLVT tủy cổ cản quang:
    • Phân tích vị trí rễ bị tổn thương (từ C5 đến T1) và số lượng rễ bị tổn thương trên mỗi bệnh nhân (tổn thương đơn rễ, tổn thương nhiều rễ, tổn thương toàn bộ 5 rễ C5 - T1 với nhóm tổn thương nhiều rễ chiếm n = 179).
    • Mối liên quan giữa các rễ tổn thương: rễ C5 và C6; rễ C8 và T1; tương quan giữa nhóm rễ trên (C5, C6) và rễ dưới (C8, T1) với rễ C7.
    • Đặc điểm các dấu hiệu hình ảnh: mất hoàn toàn rễ con, giảm số lượng rễ con, biến dạng lối ra của rễ/tay áo màng tủy, hình ảnh giả thoát vị màng tủy (GTVMT), khuyết cột dịch não tủy và co kéo tủy sống lệch bên. Tần suất xuất hiện đơn độc hoặc kết hợp của các dấu hiệu này trên từng vị trí rễ.
    • Phân loại mức độ tổn thương rễ theo thang điểm Nagano A.
  • Giá trị chẩn đoán của CLVT tủy cổ cản quang đối chiếu với kết quả phẫu thuật:
    • Mức độ tổn thương từng rễ và nhóm rễ (nhổ rễ trên C5 - C6, nhổ 3 rễ trên C5 - C7, nhổ rễ dưới C8 - T1, nhổ 3 rễ dưới C7 - T1, nhổ toàn bộ 5 rễ C5 - T1) theo chẩn đoán phẫu thuật.
    • Độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác, giá trị dự báo dương tính, giá trị dự báo âm tính của CLVT tủy cổ cản quang đối với từng rễ và từng kiểu hình tổn thương. Biểu đồ đồng thuận giữa chẩn đoán CLVT tủy cổ cản quang và phẫu thuật.

Chương 4: Bàn luận

Tác giả bàn luận sâu về:

  • Đặc điểm dịch tễ và lâm sàng: So sánh nhóm tuổi lao động, tỷ lệ nam giới vượt trội, nguyên nhân chủ yếu do tai nạn giao thông xe máy với các công bố quốc tế. Phân tích ý nghĩa của các tổn thương gãy xương phối hợp trong việc hạn chế chỉ định chụp CHT và làm tăng tính cấp thiết của chụp CLVT tủy cản quang.
  • Đặc điểm hình ảnh học và giá trị chẩn đoán: So sánh phân bố tổn thương rễ C5 - T1 và các dấu hiệu trực tiếp (mất rễ con, giảm rễ con) và gián tiếp (GTVMT) với các nghiên cứu của Dubuisson A., Cho A., Laohaprasitiporn (2018), Doi K. (2002), Walker A., Bordalo-Rodrigues M. (2020). Bàn luận về tỷ lệ dương tính giả của dấu hiệu GTVMT khi không đi kèm mất rễ con thực sự.
  • Giá trị của các mặt phẳng dựng hình và kỹ thuật chụp: Phân tích sự cần thiết của mặt phẳng cắt đứng ngang chếch (oblique coronal) để bộc lộ toàn bộ chiều dài bó rễ bụng và rễ lưng, khắc phục triệt để hạn chế của mặt cắt ngang đơn thuần; thời điểm chụp tối ưu (3 - 4 tuần sau tai nạn).
  • So sánh đối chiếu phẫu thuật: Đánh giá độ tin cậy của CLVT tủy cổ cản quang trong việc định hướng đường mổ, lựa chọn dây thần kinh cho và nhận trong kỹ thuật chuyển ghép thần kinh.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt khoa học và lý luận:

    • Luận án cung cấp hệ thống dữ liệu lâm sàng - hình ảnh học hoàn chỉnh về tổn thương nhổ rễ ĐRTKCT do chấn thương trên cỡ mẫu lớn tại Việt Nam.
    • Làm sáng tỏ mối tương quan hình thái học giữa hình ảnh CLVT tủy cổ cản quang đa dãy (ở các bình diện axial, coronal, oblique coronal) với thương tổn giải phẫu thực tế trong phẫu thuật.
    • Chứng minh dấu hiệu quan sát trực tiếp rễ con (mất hoặc giảm số lượng rễ con trên chuỗi ảnh lát mỏng dựng hình) có độ tin cậy và giá trị chẩn đoán xác định cao hơn dấu hiệu gián tiếp giả thoát vị màng tủy (GTVMT), giúp giảm thiểu tỷ lệ dương tính giả trong thực hành chẩn đoán.
  2. Về mặt thực tiễn và ứng dụng lâm sàng:

    • Chuẩn hóa và hoàn thiện quy trình kỹ thuật chụp CLVT tủy cổ cản quang: từ kỹ thuật chọc dò tủy sống thắt lưng dưới L3, góc dốc tư thế nằm 45°, thời gian dồn thuốc và thời điểm chụp (15 - 20 phút sau tiêm), đến các thông số tái tạo lát cắt mỏng và bộ lọc hình ảnh sắc nét.
    • Chứng minh CLVT tủy cổ cản quang là phương pháp chẩn đoán hình ảnh có độ chính xác cao trong phát hiện nhổ rễ ĐRTKCT, đặc biệt là giải pháp thay thế hoàn hảo và vượt trội cho CHT ở các bệnh nhân có phương tiện kết xương kim loại vùng cổ - ngực - vai hoặc chấn thương trong giai đoạn còn phù nề mô mềm.
    • Cung cấp bản đồ chẩn đoán định khu chính xác trước mổ, hỗ trợ các phẫu thuật viên chấn thương chỉnh hình lập kế hoạch phẫu thuật chuyển ghép thần kinh chính xác, rút ngắn thời gian mổ và nâng cao hiệu quả phục hồi chức năng vận động cho người bệnh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Phương pháp chụp CLVT tủy cổ cản quang là một kỹ thuật có tính chất xâm lấn do phải chọc dò khoang dưới nhện thắt lưng để bơm thuốc cản quang, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa bác sĩ lâm sàng, bác sĩ chẩn đoán hình ảnh và kỹ thuật viên.
    • Kỹ thuật sử dụng tia X, do đó cần cân nhắc thận trọng trên các đối tượng đặc biệt.
    • Phương pháp chỉ khảo sát tối ưu đoạn trong ống sống và rễ thần kinh tại lỗ ghép (chẩn đoán tổn thương trước hạch/nhổ rễ), không đánh giá được toàn diện các tổn thương sau hạch ở vùng xa như thân, bó và các nhánh tận ngoài lồng ngực bằng CHT hay siêu âm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Nghiên cứu kết hợp đa phương thức giữa CLVT tủy cổ cản quang (đánh giá đoạn trước hạch trong ống sống) và CHT/siêu âm phân giải cao (đánh giá đoạn sau hạch ngoài lỗ ghép) để xây dựng phác đồ chẩn đoán toàn diện cho mọi mức độ tổn thương ĐRTKCT.
    • Ứng dụng các thế hệ máy CLVT đa dãy nâng cao (từ 64 dãy, 128 dãy trở lên hoặc CT hai mức năng lượng - Dual Energy CT) nhằm giảm liều tia xạ, giảm tối đa nhiễu ảnh kim loại và tối ưu hóa độ phân giải không gian của các rễ con thần kinh.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị cao cho:

  • Bác sĩ chuyên ngành Chẩn đoán hình ảnh: Nắm vững quy trình kỹ thuật chụp tủy cản quang, phương pháp dựng hình đa mặt phẳng chếch theo rễ thần kinh và tiêu chuẩn nhận diện các dấu hiệu nhổ rễ trực tiếp, gián tiếp theo phân loại Nagano.
  • Bác sĩ Phẫu thuật Chấn thương Chỉnh hình và Phẫu thuật Thần kinh: Sử dụng kết quả hình ảnh học CLVT tủy cản quang để lập kế hoạch mổ chuyển thần kinh, đánh giá nguồn rễ lành phục vụ cho kỹ thuật ghép thần kinh tái tạo vận động chi trên.
  • Học viên sau đại học, nghiên cứu sinh, bác sĩ nội trú: Tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu đối chiếu hình ảnh - phẫu thuật, quy trình chẩn đoán điện sinh lý thần kinh cơ và xử lý số liệu y học.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao chụp CLVT tủy cổ cản quang lại có giá trị chẩn đoán nhổ rễ ĐRTKCT vượt trội hơn chụp cộng hưởng từ (CHT) ở một số nhóm bệnh nhân?
CLVT tủy cổ cản quang đa dãy với lát cắt mỏng (< 1 mm) và kỹ thuật tái tạo đa mặt phẳng bộc lộ rõ nét cấu trúc các rễ con trong khoang dịch não tủy mà không bị ảnh hưởng bởi nhiễu ảnh chuyển động dịch não tủy hay nhịp đập mạch máu. Đặc biệt, phương pháp này thực hiện an toàn và cho hình ảnh rõ ràng ở những bệnh nhân có phương tiện kết xương kim loại (nẹp vít, đinh nội tủy) vùng cổ, vai, xương đòn — nhóm đối tượng bị chống chỉ định hoặc bị nhiễu ảnh nặng khi chụp CHT.

2. Kỹ thuật tiêm thuốc cản quang trong nghiên cứu được thực hiện tại vị trí nào và vì sao?
Thuốc cản quang tan trong nước không ion hóa được tiêm vào khoang dưới nhện qua chọc dò tủy sống tại vùng thắt lưng (dưới mức đốt sống L3). Vị trí này chỉ còn các rễ thần kinh vùng đuôi ngựa, không còn tủy sống nên an toàn, tránh nguy cơ tổn thương chóp tủy. Sau khi tiêm, bệnh nhân được đặt nằm đầu dốc nghiêng 45° để thuốc di chuyển tự nhiên lên vùng tủy cổ trước khi tiến hành chụp.

3. Thời điểm thích hợp nhất để thực hiện chụp CLVT tủy cổ cản quang sau chấn thương là khi nào?
Thời điểm chụp tối ưu được khuyến cáo là từ 3 - 4 tuần sau khi bị chấn thương. Khoảng thời gian này đảm bảo các cục máu đông hình thành trong màng tủy sau tai nạn đã được hấp thu hoàn toàn (tránh tạo ảnh giả gây chẩn đoán quá mức), đồng thời là thời gian đủ để các túi giả thoát vị màng tủy (GTVMT) hình thành ổn định.

4. Dấu hiệu giả thoát vị màng tủy (GTVMT) có phải là tiêu chuẩn vàng tuyệt đối để khẳng định nhổ rễ thần kinh hay không?
Không. Mặc dù GTVMT là dấu hiệu gián tiếp rất thường gặp của nhổ rễ, các nghiên cứu (như Laohaprasitiporn, 2018) ghi nhận tỷ lệ dương tính giả của GTVMT có thể lên tới 20% (đặc biệt ở mức rễ C6 - C8) khi màng tủy bị rách thoát dịch nhưng rễ thần kinh chưa bị đứt nhổ hoàn toàn. Chẩn đoán xác định nhổ rễ bắt buộc phải dựa vào dấu hiệu trực tiếp là mất hoàn toàn hoặc suy giảm rõ rệt các rễ con trên các bình diện dựng hình.


Kết luận

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Tống Thị Thu Hằng là công trình nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống hóa và chuẩn hóa thành công quy trình chụp cắt lớp vi tính tủy cổ cản quang đa dãy trong chẩn đoán tổn thương nhổ rễ đám rối thần kinh cánh tay do chấn thương tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Thông qua đối chiếu chặt chẽ với kết quả phẫu thuật thực tế, luận án khẳng định vai trò then chốt và độ chính xác vượt trội của CLVT tủy cổ cản quang trong việc phát hiện các tổn thương trước hạch từ rễ C5 đến T1. Công trình cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc giúp các phẫu thuật viên chấn thương chỉnh hình xác định chiến lược phẫu thuật chuyển ghép thần kinh kịp thời, nâng cao tỷ lệ phục hồi chức năng chi trên cho người bệnh.