Tổng quan nghiên cứu

Vỡ hoành do chấn thương là một cấp cứu ngoại khoa nghiêm trọng với tần suất xuất hiện dao động từ 0,46% đến 8% trong tổng số các trường hợp chấn thương ngực bụng. Dù tỷ lệ gặp không quá cao, đây lại là thương tổn rất dễ bị bỏ sót với khoảng 14% trường hợp không được phát hiện ngay trong lần phẫu thuật mở bụng ban đầu. Việc chẩn đoán chậm trễ hoặc bỏ sót vỡ hoành để lại hậu quả nặng nề, khi có tới 50% bệnh nhân phải nhập viện lại trong tình trạng cấp cứu muộn do thoát vị tạng nghẹt, kéo theo tỷ lệ tử vong lên tới 11%.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực tế lâm sàng: các triệu chứng của vỡ hoành thường nghèo nàn, không đặc hiệu và dễ bị che lấp bởi các tổn thương phối hợp đe dọa tính mạng tại lồng ngực và ổ bụng. Mục tiêu cụ thể của luận văn là mô tả chi tiết các đặc điểm hình ảnh của vỡ hoành trên chụp cắt lớp vi tính đa dãy đầu dò (MDCT), đồng thời so sánh độ nhạy và đặc điểm hình thái thương tổn giữa chấn thương kín với vết thương ngực bụng, cũng như giữa tổn thương cơ hoành bên phải và bên trái.

Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại hai trung tâm ngoại khoa và cấp cứu hàng đầu là Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, thu thập dữ liệu trong giai đoạn từ tháng 1/2017 đến tháng 8/2021. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc nâng cao độ chính xác chẩn đoán của cắt lớp vi tính lên trên 87% đến 95%, cung cấp bằng chứng hình ảnh học tin cậy giúp phẫu thuật viên đưa ra quyết định can thiệp kịp thời, giảm thiểu nguy cơ biến chứng suy hô hấp và hoại tử tạng thoát vị cho người bệnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng hệ thống phân loại tổn thương cơ hoành của Hiệp hội Phẫu thuật Chấn thương Hoa Kỳ (AAST 2018), chia mức độ tổn thương thành 5 độ từ Độ I (dập, tụ máu cơ hoành), Độ II (rách nhỏ hơn hoặc bằng 2 cm), Độ III (rách từ 2 đến 10 cm), Độ IV (rách trên 10 cm kèm mất mô nhỏ hơn hoặc bằng 25 cm²) đến Độ V (rách và mất mô trên 25 cm²).

Về mặt sinh lý bệnh, nghiên cứu dựa trên mô hình biến đổi gradient áp lực khoang ngực và ổ bụng. Ở trạng thái bình thường, chênh lệch áp suất giữa ổ bụng (từ +2 đến +10 cm H2O) và màng phổi (từ -5 đến -10 cm H2O) duy trì ở mức +7 đến +20 cm H2O. Khi xảy ra va chạm chấn thương kín cực mạnh, áp lực ổ bụng tăng đột ngột lên mức +150 đến +200 cm H2O, vượt quá sức bền cơ học của mô cơ hoành và dẫn đến rách vỡ tại các điểm yếu giải phẫu.

Hệ thống dấu hiệu hình ảnh trên cắt lớp vi tính được chuẩn hóa thành hai nhóm:

  • Nhóm dấu hiệu trực tiếp: Mất liên tục một phần cơ hoành và không nhìn thấy cơ hoành một bên.
  • Nhóm dấu hiệu gián tiếp: Vòm hoành lơ lửng, thoát vị tạng qua lỗ khuyết, dấu hiệu cổ thắt, dấu hiệu bướu và dải, dấu hiệu tạng phụ thuộc, dấu hiệu tổn thương hai phía ở một bên cơ hoành và đường tổn thương đi xuyên qua cơ hoành trong vết thương ngực bụng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế hồi cứu mô tả loạt ca trên cỡ mẫu toàn bộ bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn chọn mẫu trong giai đoạn từ tháng 1/2017 đến tháng 8/2021 tại Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp lấy mẫu thuận tiện được lựa chọn do đặc thù vỡ hoành là bệnh cảnh cấp cứu hiếm gặp nhưng đòi hỏi tính chính xác tuyệt đối trong đối chiếu phẫu thuật. Tiêu chuẩn chọn mẫu gồm các bệnh nhân có chẩn đoán vỡ hoành xác định qua phẫu thuật, đã được chụp cắt lớp vi tính ngực bụng trước mổ và có đầy đủ dữ liệu hình ảnh lưu trữ.

Dữ liệu hình ảnh được thu nhận từ các hệ thống máy chụp cắt lớp vi tính đa dãy đầu dò hiện đại gồm GE 16 dãy, Siemens 64 dãy và Siemens 128 dãy đầu dò với độ mở chuẩn trực từ 0,6 đến 1,25 mm, thời gian quay bóng 0,5 đến 0,6 giây, điện thế 120 kV và điều biến liều tự động. Quy trình chụp sử dụng thuốc cản quang iod tan trong nước áp lực thẩm thấu thấp tiêm tĩnh mạch liều 1,5 đến 2,0 ml/kg với tốc độ bơm 2,5 đến 4,0 ml/giây. Hình ảnh cắt ngang được xử lý và tái tạo đa mặt phẳng (MPR) gồm mặt phẳng đứng dọc, đứng ngang và mặt phẳng chếch trên phần mềm chuyên dụng RadiAnt DICOM Viewer 5.0.

Dữ liệu nghiên cứu được nhập liệu bằng phần mềm Excel và xử lý thống kê trên môi trường phần mềm R phiên bản x64 4.4. Phương pháp phân tích thống kê mô tả và kiểm định so sánh phi tham số được lựa chọn nhằm đánh giá chính xác mối tương quan giữa các biến số danh định, tỷ lệ phần trăm và xác định độ nhạy của từng dấu hiệu hình ảnh học với mức ý nghĩa thống kê p < 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu cho thấy cơ chế chấn thương do vết thương ngực bụng chiếm tỷ lệ áp đảo từ 67% đến 73% (gồm vết thương do dao đâm và hỏa khí), trong khi chấn thương kín chiếm khoảng 25% đến 33%. Vị trí tổn thương ghi nhận sự chênh lệch rõ rệt khi vỡ hoành bên trái chiếm khoảng 75% tổng số trường hợp, cao gấp 2 đến 3 lần so với vỡ hoành bên phải (chiếm từ 25% đến 35%), tổn thương hai bên rất hiếm gặp (chỉ khoảng 2% đến 8%).

Về giá trị chẩn đoán hình ảnh, dấu hiệu mất liên tục một phần cơ hoành thể hiện độ nhạy cao vượt trội, đạt từ 85,7% đến 100% đối với vỡ hoành bên trái và 85,7% đối với vỡ hoành bên phải trên các dòng máy đa dãy đầu dò thế hệ mới. Dấu hiệu tạng phụ thuộc đạt độ nhạy từ 64% đến 100% ở bên trái, nhưng giảm xuống còn 33% đến 83% ở bên phải.

Đối với nhóm bệnh nhân bị vết thương ngực bụng đơn độc, dấu hiệu tổn thương hai phía ở một bên cơ hoành đạt độ nhạy ấn tượng từ 82% đến 100%. Đặc biệt, dấu hiệu đường tổn thương đi qua cơ hoành đạt độ nhạy từ 73% đến 100% cùng độ đặc hiệu cao từ 83% đến 92%, chứng minh giá trị định hướng chuẩn xác vị trí rách cơ hoành do vật sắc nhọn hoặc đạn bắn xuyên thấu.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch về tỷ lệ tổn thương giữa hai bên cơ hoành được giải thích rõ ràng qua đặc điểm giải phẫu học: gan phải là một tạng đặc lớn đóng vai trò như một lá chắn cơ học bảo vệ và phân tán lực tác động lên vòm hoành phải. Ngược lại, vòm hoành bên trái không có cấu trúc che chắn tương đương, đồng thời tồn tại các vùng yếu phôi thai học ở phần sau ngoài gần vị trí lách, khiến vùng này dễ bị xé rách khi áp lực ổ bụng tăng vọt. Trong vết thương thấu do dao đâm, tỷ lệ vỡ hoành trái chiếm ưu thế còn do yếu tố đa số đối tượng tấn công thuận tay phải và thực hiện đâm trực diện.

Khi so sánh với các công bố quốc tế của Dreizin và Sliker, việc ứng dụng kỹ thuật tái tạo đa mặt phẳng (MPR) trên máy chụp cắt lớp vi tính 64 và 128 dãy đầu dò đã cải thiện ngoạn mục khả năng phát hiện dấu hiệu cổ thắt (tăng độ nhạy từ 16% lên 63%) và dấu hiệu vòm hoành lơ lửng (đạt 54% độ nhạy, 98% độ đặc hiệu). Các dữ liệu này được thể hiện trực quan qua hệ thống 21 biểu đồ phân bố và bảng so sánh đa biến trong luận văn, tiêu biểu như biểu đồ so sánh cơ chế chấn thương theo bên tổn thương và bảng tổng hợp độ nhạy các dấu hiệu MDCT, giúp lượng hóa cụ thể xác suất xuất hiện dấu hiệu ở từng vị trí giải phẫu.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Chuẩn hóa quy trình chụp cắt lớp vi tính đa dãy đầu dò: Ban hành hướng dẫn bắt buộc thực hiện chụp cắt lớp vi tính ngực bụng có tiêm thuốc cản quang trên hệ thống máy tối thiểu 16 dãy đầu dò (ưu tiên 64 đến 128 dãy) cho 100% bệnh nhân có chấn thương ngực bụng nguy cơ cao trong vòng 30 phút kể từ khi tiếp nhận tại phòng cấp cứu. Giải pháp này do Khoa Cấp cứu phối hợp Khoa Chẩn đoán hình ảnh thực hiện nhằm đạt mục tiêu giảm tỷ lệ bỏ sót thương tổn ban đầu xuống dưới 3%.

  2. Bắt buộc ứng dụng kỹ thuật tái tạo đa mặt phẳng (MPR): Quy định tất cả bác sĩ chẩn đoán hình ảnh phải dựng hình đa mặt phẳng gồm mặt phẳng đứng dọc (sagittal), đứng ngang (coronal) và mặt phẳng chếch theo hướng cơ hoành khi đọc kết quả. Biện pháp này giúp nâng cao độ nhạy phát hiện các vết rách cơ hoành kích thước nhỏ dưới 2 cm từ mức 50% lên trên 85% trong giai đoạn 2022-2024.

  3. Áp dụng bảng kiểm dấu hiệu gián tiếp cho vết thương xuyên thấu: Thiết lập danh mục kiểm tra hình ảnh tập trung vào dấu hiệu đường tổn thương đi qua cơ hoành và tổn thương hai phía ở một bên cơ hoành đối với các ca vết thương do dao đâm hoặc đạn bắn. Chủ thể thực hiện là Hội đồng Chẩn đoán hình ảnh và Ngoại khoa tại các bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến trung ương, hướng tới mục tiêu nâng độ chính xác chẩn đoán vết thương ngực bụng lên trên 90%.

  4. Tổ chức các khóa đào tạo liên tục (CME) về hình ảnh cấp cứu: Triển khai các chương trình tập huấn định kỳ 6 tháng một lần về nhận diện dấu hiệu vỡ hoành trên cắt lớp vi tính cho 100% bác sĩ chẩn đoán hình ảnh, bác sĩ ngoại khoa và bác sĩ nội trú. Chủ thể chủ trì là các Trường Đại học Y Dược kết hợp các bệnh viện hạt nhân tuyến cuối trong giai đoạn 2022-2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Bác sĩ Chẩn đoán hình ảnh và Bác sĩ Cấp cứu: Cung cấp bộ tiêu chuẩn hình ảnh học chi tiết, các dấu hiệu trực tiếp và gián tiếp trên cắt lớp vi tính đa dãy, giúp nhận định nhanh chóng và chính xác các ca vỡ hoành phức tạp trong tua trực cấp cứu.
  • Phẫu thuật viên Ngoại Lồng ngực - Tim mạch và Ngoại Tiêu hóa: Hỗ trợ đánh giá trước mổ về vị trí rách, kích thước khiếm khuyết cơ hoành và các tạng ổ bụng thoát vị (dạ dày, lách, gan, ruột), từ đó lựa chọn đường mổ tối ưu qua nội soi lồng ngực (VATS), nội soi ổ bụng hoặc mở bụng/mở ngực.
  • Bác sĩ Nội trú, Học viên Sau đại học và Nghiên cứu sinh Y khoa: Là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu chẩn đoán hình ảnh, kỹ thuật xử lý hình ảnh DICOM đa mặt phẳng và phương pháp phân tích thống kê y học bằng phần mềm R.
  • Nhà quản lý y tế và Lãnh đạo bệnh viện: Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực chứng để xây dựng quy trình tiếp nhận cấp cứu chấn thương (ATLS), đầu tư trang thiết bị máy chụp cắt lớp vi tính đa dãy đầu dò và tối ưu hóa phối hợp liên chuyên khoa.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao vỡ cơ hoành bên trái lại chiếm tỷ lệ cao hơn nhiều so với bên phải?

Vỡ hoành bên trái chiếm khoảng 75% trường hợp do cơ hoành bên phải được bảo vệ bởi khối nhu mô gan lớn giúp hấp thu và phân tán lực va đập. Ngoài ra, cơ hoành bên trái có các điểm yếu giải phẫu phôi thai học ở vùng sau ngoài và hầu hết vết thương dao đâm do đối tượng thuận tay phải tấn công trực diện đều hướng vào bên ngực trái của nạn nhân.

Chụp cắt lớp vi tính đa dãy đầu dò (MDCT) có ưu thế gì vượt trội so với X-quang và siêu âm?

Chụp cắt lớp vi tính đa dãy đầu dò có độ chính xác lên đến 95%, khắc phục hoàn toàn nhược điểm bị che khuất bởi khí ruột, tràn khí dưới da của siêu âm hoặc hình ảnh mờ nhạt trên X-quang quy ước (độ nhạy X-quang chỉ đạt 27% đến 73%). MDCT cho phép tái tạo đa mặt phẳng giúp quan sát liên tục toàn bộ vòm hoành chỉ trong một lần nín thở.

Dấu hiệu "tạng phụ thuộc" (dependent viscera sign) trên phim cắt lớp vi tính có ý nghĩa gì?

Bình thường cơ hoành ngăn cách các tạng bụng trên tiếp xúc trực tiếp với thành ngực sau ở tư thế nằm ngửa. Khi vòm hoành bị rách, các tạng như gan, lách, dạ dày hoặc ruột sẽ thoát vị lên lồng ngực và rơi ra phía sau theo trọng lực để nằm áp sát thành ngực sau. Dấu hiệu này có độ đặc hiệu lên tới 98% đến 100% để chẩn đoán vỡ hoành.

Làm thế nào để phát hiện vỡ hoành trong trường hợp vết thương do dao đâm hoặc đạn bắn?

Đối với vết thương ngực bụng, bác sĩ dựa vào dấu hiệu đường tổn thương đi qua cơ hoành (độ đặc hiệu 83% đến 92%) và dấu hiệu tổn thương hai phía ở một bên cơ hoành (độ nhạy 82% đến 100%), biểu hiện qua đường rách nhu mô gan, phổi, tụ máu, bóng khí hoặc mảnh kim khí nằm thẳng hàng xuyên qua vị trí giải phẫu của cơ hoành.

Tại sao tất cả các trường hợp vỡ hoành do chấn thương đều bắt buộc phải phẫu thuật?

Cơ hoành là cơ vân vận động liên tục theo nhịp thở và luôn chịu sự chênh lệch áp lực giữa ngực và bụng (gradient từ 7 đến 20 cm H2O). Vết rách cơ hoành không thể tự lành mà sẽ tiến triển rộng dần theo thời gian, dẫn đến thoát vị hoành nghẹt muộn, hoại tử tạng tiêu hóa và suy hô hấp cấp với tỷ lệ tử vong lên tới 11%.

Kết luận

  • Chụp cắt lớp vi tính đa dãy đầu dò (MDCT) kết hợp kỹ thuật tái tạo đa mặt phẳng (MPR) là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán hình ảnh vỡ hoành do chấn thương với độ chính xác đạt trên 90%.
  • Tổn thương cơ hoành bên trái chiếm ưu thế tuyệt đối (khoảng 75%), trong đó dấu hiệu mất liên tục một phần cơ hoành và dấu hiệu tạng phụ thuộc có giá trị chẩn đoán cao nhất.
  • Trong vết thương ngực bụng xuyên thấu, dấu hiệu đường tổn thương đi qua cơ hoành và tổn thương hai phía là những chỉ dấu then chốt để không bỏ sót các vết rách kích thước nhỏ dưới 2 cm.
  • Luận văn đóng góp nguồn dữ liệu thực chứng giá trị cao từ 2 bệnh viện tuyến cuối (Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM), được xử lý chặt chẽ bằng phần mềm thống kê R.
  • Phẫu thuật khâu phục hồi cơ hoành cấp cứu là chỉ định bắt buộc cho 100% bệnh nhân nhằm ngăn chặn triệt để biến chứng thoát vị tạng nghẹt và giảm tỷ lệ tử vong 11% do chẩn đoán muộn; các trung tâm y tế cần khẩn trương chuẩn hóa quy trình chụp MDCT đa dãy và đưa bảng kiểm dấu hiệu hoành vào thực hành lâm sàng thường quy ngay hôm nay.