Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực sông Cả là một trong những hệ thống sông liên quốc gia lớn nhất khu vực Bắc Trung Bộ với tổng diện tích tự nhiên đạt 27.200 km2, trong đó phần diện tích thuộc lãnh thổ Việt Nam là 17.730 km2, chiếm 65,2% diện tích toàn lưu vực. Mặc dù tổng lượng dòng chảy hàng năm đạt khoảng 23,3 tỷ m3 (tương đương lưu lượng trung bình 738 m3/s), nguồn nước phân bố rất không đồng đều theo không gian và thời gian. Lượng dòng chảy trong mùa lũ (kéo dài từ tháng 7 đến tháng 12) chiếm tới 73,4% tổng lượng năm, trong khi ba tháng kiệt nhất (từ tháng 2 đến tháng 4) chỉ chiếm vỏn vẹn 7,1%, riêng tháng 4 chỉ đạt 2,4% lượng dòng chảy năm. Tình trạng này kết hợp với hiện tượng xâm nhập mặn sâu tại hạ du (độ mặn trên 1‰ từng ảnh hưởng tới hơn 30.000 ha đất canh tác) đã gây ra mâu thuẫn gay gắt giữa nhu cầu sử dụng nước ngày càng gia tăng và khả năng cung cấp thực tế.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là thiết lập mô hình tính toán cân bằng nước chi tiết nhằm đánh giá định lượng khả năng đáp ứng nguồn nước của lưu vực sông Cả trong giai đoạn hiện trạng năm 2017 và kịch bản quy hoạch đến năm 2030 khi có sự tham gia của hai công trình thủy lợi đa mục tiêu trọng điểm: Hồ Ngàn Trươi (dung tích toàn bộ 932,7 triệu m3) và Hồ Bản Mồng (dung tích toàn bộ 224,78 triệu m3). Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ lưu vực sông Cả trên địa bàn hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, dựa trên chuỗi số liệu thủy văn nhiều năm. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài là xác định chính xác các điểm nghẽn thiếu hụt nguồn nước, nâng cao mức đảm bảo cấp nước lên trên 85% cho các ngành kinh tế - xã hội và cung cấp luận cứ khoa học vững chắc cho công tác quản lý, vận hành liên hồ chứa bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết cân bằng nước lưu vực sông và nguyên lý bảo toàn khối lượng tại các nút tính toán mạng lưới. Phương trình cân bằng nước tổng quát xem xét mối tương quan giữa lượng nước đến (dòng chảy tự nhiên, lượng xả từ các hồ chứa thượng nguồn), lượng nước mưa rơi trên lưu vực với các thành phần tổn thất (bốc thoát hơi nước, ngấm sâu) và tổng nhu cầu dùng nước của các ngành kinh tế. Đồng thời, lý thuyết bốc thoát hơi nước của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) được áp dụng để xác định chính xác lượng bốc thoát hơi chuẩn theo công thức Penman cải tiến, kết hợp hệ số cây trồng trong từng giai đoạn sinh trưởng.

Các khái niệm chính được định nghĩa và chuẩn hóa trong đề tài bao gồm:

  1. Nhu cầu nước tưới mặt ruộng: Tổng lượng nước cần thiết bù đắp cho bốc thoát hơi cây trồng, thấm ổn định và làm đất sau khi đã trừ đi lượng mưa hiệu quả.
  2. Mức đảm bảo cấp nước (P = 85%): Tần suất thiết kế tiêu chuẩn cho cấp nước nông nghiệp và phát triển kinh tế lưu vực theo quy chuẩn quốc gia.
  3. Dòng chảy môi trường (Qmt): Lưu lượng xả tối thiểu sau công trình nhằm duy trì hệ sinh thái thủy sinh và hạn chế xâm nhập mặn vùng cửa sông, với định mức duy trì tại hồ Ngàn Trươi là 4 m3/s.
  4. Nút sử dụng nước: Điểm hội tụ của nguồn cung cấp và các hộ tiêu thụ nước trong sơ đồ không gian mạng lưới thủy lực lưu vực.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng chuỗi dữ liệu khí tượng thủy văn đo đạc liên tục suốt 37 năm (giai đoạn 1980 - 2017) tại 6 trạm khí tượng đại diện (Quỳnh Lưu, Cửa Rào, Quỳ Hợp, Vinh, Hà Tĩnh, Hương Khê) và các trạm thủy văn chính trên lưu vực sông Cả như Yên Thượng, Dừa, Sơn Diệm, Hòa Duyệt. Phương pháp lấy mẫu chuỗi số liệu được phân chia theo ba vùng địa hình đặc trưng: vùng núi cao (chiếm 71,6% diện tích), vùng trung du bán sơn địa và vùng đồng bằng ven biển. Toàn bộ lưu vực được chia thành 14 vùng cấp nước lớn và phân rã chi tiết thành 22 tiểu vùng tính toán để phản ánh chính xác cấu trúc mạng lưới lấy nước thực tế.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích mô hình hóa kết hợp:

  • Mô hình CROPWAT 8.0: Tính toán nhu cầu nước cho từng loại cây trồng (lúa, ngô, lạc, mía) theo từng thập kỷ và thời vụ canh tác dựa trên các yếu tố vi khí hậu thực đo.
  • Mô hình mưa - dòng chảy MIKE NAM: Tái hiện dòng chảy đến tại các lưu vực thành phần chưa có trạm đo với độ chính xác cao.
  • Mô hình MIKE BASIN: Công cụ cốt lõi mô phỏng mạng lưới phân bổ tài nguyên nước phức hợp với nhiều hồ chứa, đập dâng và trạm bơm, cho phép giải bài toán cân bằng nước động theo từng tháng và từng nút sử dụng nước trên toàn lưu vực.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, ở kịch bản hiện trạng năm 2017 khi chưa có sự vận hành của hồ Ngàn Trươi và hồ Bản Mồng, lưu vực sông Cả xảy ra tình trạng thiếu nước nghiêm trọng vào các tháng mùa kiệt (tháng 3 đến tháng 5). Dòng chảy kiệt nhỏ nhất tại Yên Thượng chỉ đạt 39 m3/s, tại Sơn Diệm đạt 6,43 m3/s. Sự thiếu hụt thể hiện rõ rệt tại các vùng hạ lưu như vùng Diễn Yên Quỳnh (vùng VI), vùng Nam Hưng Nghi (vùng VIII) và vùng hưởng lợi sông Nghèn (vùng XIII), khiến mức đảm bảo cấp nước thực tế ở nhiều tiểu vùng xuống dưới mức 75%.

Thứ hai, việc đưa hồ chứa Ngàn Trươi vào vận hành (dung tích hữu ích 704 triệu m3) đã giải quyết triệt để bài toán thiếu nước cho toàn bộ vùng hạ du sông La và Bắc Hà Tĩnh. Công trình đảm bảo cấp nước tưới ổn định cho 32.585 ha đất canh tác nông nghiệp, cấp nước công nghiệp với lưu lượng 6 m3/s cho mỏ thép Thạch Khê và các khu công nghiệp, cấp nước sinh hoạt, nuôi trồng thủy sản 5.991 ha và phát điện với công suất lắp máy 15 MW.

Thứ ba, hồ chứa nước Bản Mồng (dung tích hữu ích 170,45 triệu m3, diện tích mặt hồ 24,4 km2) khi tham gia cấp nước đã giải tỏa áp lực khô hạn cho lưu vực sông Hiếu, trực tiếp phục vụ 18.871 ha đất canh tác và xả bổ sung cho hạ du sông Cả trong các tháng cạn kiệt với lưu lượng lên tới 22 m3/s, đồng thời tạo nguồn phát điện công suất 42 MW.

Thứ tư, tại kịch bản quy hoạch năm 2030 khi có sự tham gia đồng thời của cả hai đại công trình, tổng lượng thiếu hụt nguồn nước trên toàn lưu vực giảm mạnh trên 85%, nâng mức đảm bảo cấp nước tổng thể của hệ thống đạt trên 85-90%, đáp ứng trọn vẹn mục tiêu an ninh nguồn nước.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của sự mất cân bằng nước trước đây bắt nguồn từ đặc tính khí hậu nhiệt đới gió mùa khắc nghiệt với số ngày xuất hiện gió Tây khô nóng lên tới 30-35 ngày/năm, gây bốc hơi mạnh và suy kiệt dòng chảy tự nhiên. Hơn nữa, việc vận hành đơn mục tiêu phát điện của một số nhà máy thủy điện thượng lưu như Bản Vẽ trong các tháng 3 và 4 đã làm giảm đáng kể lượng nước xả về hạ du.

Khi tổng hợp dữ liệu trên biểu đồ tương quan dòng chảy đến và nhu cầu dùng nước theo 12 tháng, kết quả cho thấy biểu đồ đường nhu cầu nước đạt đỉnh vào tháng 4 và tháng 5, hoàn toàn lệch pha với biểu đồ đường dòng chảy đến tự nhiên. Tuy nhiên, thông qua bảng cân bằng nước tổng hợp và bản đồ không gian GIS phân vùng cấp nước, sự xuất hiện của hai hồ Ngàn Trươi và Bản Mồng đã san phẳng độ lệch pha này bằng dung tích điều tiết hữu ích tổng cộng lên tới gần 875 triệu m3. So với các công trình nghiên cứu sử dụng mô hình DSF hay IQQM trước đây, phương pháp tiếp cận trong luận văn này phản ánh linh hoạt hơn sự tương tác giữa các hồ chứa đa mục tiêu và các tiểu vùng dùng nước.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Tối ưu hóa quy trình vận hành liên hồ chứa: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Ủy ban nhân dân hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh cần sớm ban hành quy trình vận hành liên hồ chứa tích hợp giữa Bản Vẽ, Bản Mồng và Ngàn Trươi. Mục tiêu bắt buộc là duy trì lưu lượng xả về hạ du sông Lam tối thiểu 22 m3/s và dòng chảy môi trường sông Ngàn Trươi tối thiểu 4 m3/s trong các tháng mùa kiệt trước năm 2025.

  2. Nâng cấp và hiện đại hóa hệ thống thủy nông: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khai thác công trình thủy lợi tại các địa phương cần đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hệ thống kênh chính Ngàn Trươi (đoạn nối tiếp kênh Linh Cảm) và kiên cố hóa hệ thống dẫn nước Đô Lương. Target metric là giảm tỷ lệ thất thoát nước từ 25-30% hiện nay xuống dưới 15% vào năm 2030.

  3. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng và áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh cần triển khai kế hoạch chuyển đổi diện tích lúa kém hiệu quả sang cây trồng cạn có nhu cầu nước thấp hơn, đồng thời nhân rộng mô hình tưới ướt - khô xen kẽ (AWD) và tưới nhỏ giọt trên 20.000 ha đất sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn 2025 - 2030.

  4. Xây dựng hệ thống quan trắc và cảnh báo xâm nhập mặn tự động: Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước Quốc gia chủ trì thiết lập mạng lưới đo mặn và mực nước tự động theo thời gian thực tại các cống đầu mối quan trọng như cống Đức Xá, cống Trung Lương và trạm bơm Lam Hồng, hoàn thành lắp đặt trước năm 2026 nhằm hỗ trợ đóng mở cống lấy nước ngọt kịp thời.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý và chuyên viên quy hoạch tài nguyên nước: Nắm bắt cơ sở dữ liệu và kịch bản phân bổ nguồn nước chi tiết trên lưu vực sông Cả để xây dựng các chính sách, kế hoạch phân bổ nguồn nước và quy hoạch phòng chống thiên tai cấp tỉnh.
  • Kỹ sư thiết kế công trình thủy lợi và thủy điện: Ứng dụng quy trình tính toán nhu cầu tưới qua CROPWAT và phương pháp mô hình hóa cân bằng hệ thống bằng MIKE BASIN vào các dự án quy hoạch lưu vực sông tương tự tại miền Trung.
  • Đơn vị quản lý và khai thác công trình thủy lợi, hồ chứa: Tham khảo biểu đồ điều tiết và thông số dung tích phòng lũ, dung tích hữu ích để xây dựng phương án tích nước, xả lũ và cấp nước mùa cạn đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Thủy văn, Kỹ thuật tài nguyên nước: Khai thác bộ số liệu thực nghiệm, phương pháp luận phân vùng cấp nước 22 tiểu vùng và các công thức tính toán bốc thoát hơi nước chuẩn làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

  1. Sự tham gia của hồ Ngàn Trươi và hồ Bản Mồng có ý nghĩa quyết định như thế nào đối với việc giải quyết hạn hán lưu vực sông Cả? Hồ Ngàn Trươi với dung tích hữu ích 704 triệu m3 và hồ Bản Mồng với 170,45 triệu m3 bổ sung nguồn trữ nước khổng lồ. Hai công trình này giúp bù đắp lượng thiếu hụt 7,1% dòng chảy trong ba tháng kiệt nhất, đảm bảo lưu lượng xả về hạ du đạt 22 m3/s, cung cấp nước tưới cho hơn 51.000 ha đất nông nghiệp.

  2. Tại sao mô hình MIKE BASIN lại được lựa chọn để tính toán cân bằng nước cho đề tài này? MIKE BASIN là công cụ mô phỏng mạng lưới chuyên sâu, có khả năng tích hợp linh hoạt 14 vùng quy hoạch và 22 tiểu vùng với các quy tắc ưu tiên lấy nước nghiêm ngặt. Mô hình giải quyết chính xác bài toán phân bổ nguồn nước động theo không gian và thời gian giữa các hồ chứa và hộ tiêu thụ.

  3. Tần suất cấp nước P = 85% trong nghiên cứu mang ý nghĩa kỹ thuật gì? Tần suất P = 85% là chỉ tiêu thiết kế quốc gia cho nguồn nước nông nghiệp, biểu thị mức độ cấp nước an toàn được đảm bảo trong 85% số năm tính toán (tương ứng chu kỳ lặp lại thiếu nước chỉ xảy ra trung bình 15 năm một lần trong điều kiện khí hậu cực đoan).

  4. Việc vận hành hai hồ chứa mới tác động như thế nào đến việc kiểm soát xâm nhập mặn ở hạ du? Lưu lượng xả bổ sung thường xuyên trong mùa cạn giúp đẩy lùi ranh mặn 1‰ ra xa các công trình lấy nước. Hiện tượng nhiễm mặn tại cống lấy nước Đức Xá và trạm bơm Lam Hồng được khắc phục triệt để, bảo vệ an toàn cho 30.000 ha đất sản xuất nông nghiệp ven biển.

  5. Giải pháp nào được đưa ra để cân bằng giữa mục tiêu phát điện và mục tiêu cấp nước hạ du? Luận văn kiến nghị áp dụng quy chế phối hợp vận hành liên hồ chứa, trong đó quy định rõ ràng mực nước khống chế từng thời kỳ và đặt quyền ưu tiên cấp nước sinh hoạt, môi trường sinh thái (tối thiểu 4 m3/s) và tưới nông nghiệp lên trước nhiệm vụ phát điện.

Kết luận

  • Nghiên cứu đã đánh giá toàn diện bức tranh tài nguyên nước lưu vực sông Cả với tổng dòng chảy 23,3 tỷ m3/năm nhưng phân bố bất hợp lý khi mùa kiệt chỉ chiếm 7,1% tổng lượng nước.
  • Ứng dụng thành công chuỗi công cụ mô hình hóa hiện đại gồm CROPWAT 8.0, MIKE NAM và MIKE BASIN trên mạng lưới 14 phân vùng lớn và 22 tiểu vùng sử dụng nước.
  • Khẳng định vai trò chiến lược của Hồ Ngàn Trươi và Hồ Bản Mồng trong việc nâng tỷ lệ đảm bảo cấp nước vượt ngưỡng 85-90% cho toàn lưu vực vào năm 2030.
  • Cung cấp cơ sở khoa học và đề xuất 4 nhóm giải pháp công trình và phi công trình đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý bền vững tài nguyên nước.
  • Bước tiếp theo cần triển khai ngay việc xây dựng quy chế vận hành liên hồ chứa thời gian thực trước năm 2025, kính mời các cơ quan quản lý và nhà khoa học tham khảo, ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn quản trị lưu vực.