ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là một bộ phận của môi trƣờng sống, là tài nguyên quý giá của đất nƣớc, có khả năng tái tạo rất phong phú và đa dạng, có giá trị to lớn về nhiều mặt đối với nền kinh tế quốc dân, văn hoá cộng đồng, du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học, an ninh quốc gia và chất lƣợng sống của cả dân tộc. Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33 triệu hecta, trong đó có tới 2/3 diện tích là vùng đồi núi. Gần 50 năm qua, tài nguyên rừng ở Việt Nam liên tục bị giảm sút, xét trên tất cả các phƣơng diện: diện tích rừng, chất lƣợng rừng, trữ lƣợng gỗ… Cho đến nay, tình trạng rừng bị phá, bị cháy và suy thoái chất lƣợng vẫn chƣa đƣợc ngăn chặn. Năm 1945 Việt Nam có 14,6 triệu hecta rừng, độ che phủ hơn 43,6% thì năm 1997 độ che phủ rừng chỉ còn khoảng 28% (trong đó có 0,7 triệu hecta rừng trồng), tổng trữ lƣợng gỗ chỉ còn khoảng 580 triệu m3 và gỗ có khả năng khai thác và thƣơng mại hóa thì thấp hơn nhiều.
Sự suy thoái tài nguyên rừng, đặc biệt là chất lƣợng rừng đang đẩy xa những ngƣời dân nghèo ra khỏi tầm thụ hƣởng các nguồn tài nguyên. Chính điều đó đã tạo điều kiện cho sự phân cực giàu nghèo ngày càng sâu sắc và tiềm ẩn yếu tố không ổn định trong nông thôn miền núi Việt Nam. Từ thực tế này, đòi hỏi Chính phủ Việt Nam phải có những điều chỉnh trong phƣơng thức quản lý rừng. Quá trình thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần và chuyển hƣớng chiến lƣợc lâm nghiệp, từ lâm nghiệp Nhà nƣớc sang lâm nghiệp nhân dân đã xuất hiện nhiều nhân tố mới, đặc biệt là đa dạng hoá các phƣơng thức quản lý tài nguyên rừng.
Cho đến nay, ở Việt Nam tồn tại 3 hình thức quản lý rừng là: - Hình thức quản lý rừng Nhà nƣớc; - Hình thức quản lý rừng tƣ nhân; - Hình thức quản lý rừng có sự tham gia của cộng đồng (QLRCĐ). Cộng đồng tham gia quản lý rừng là một trong những hình thức quản lý đang thu hút sự quan tâm ở cấp Trung ƣơng và địa phƣơng. Xét về mặt lịch sử, ở Việt Nam, rừng cộng đồng đã tồn tại từ lâu đời, gắn liền với sự sinh tồn và tín 1 ngƣỡng của các cộng đồng dân cƣ sống dựa vào rừng. Đặc biệt, trong vài năm gần đây, xuất phát từ yêu cầu quản lý, một số địa phƣơng đã triển khai giao đất, giao rừng cho cộng đồng (làng bản, nhóm hộ.) quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài vào các mục đích khác nhau, theo đó, cộng đồng với tƣ cách nhƣ là ngƣời làm chủ.
Ngoài ra, các cộng đồng còn tham gia nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng mới rừng của các tổ chức Nhà nƣớc. Thực tiễn một số nơi đã chỉ rõ quản lý rừng với sự tham gia của các cộng đồng địa phƣơng là mô hình quản lý có tính khả thi về kinh tế - xã hội, phù hợp với tập quán sản xuất truyền thống của nhiều dân tộc ở Việt Nam. Tuy nhiên, xét về khía cạnh pháp lý, cộng đồng chƣa đƣợc thừa nhận là đối tƣợng đƣợc giao đất, giao rừng. Có hàng loạt câu hỏi đang đặt ra, nhƣ a) vị trí, vai trò của cộng đồng trong hệ thống tổ chức quản lý rừng ở Việt Nam nhƣ thế nào? b) Những vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển rừng cộng đồng là gì? c) Có nên khuyến khích phát triển rừng cộng đồng hay không? d) Khuôn khổ pháp lý nhằm khuyến khích cộng đồng tham gia bảo vệ và phát triển rừng cần đƣợc xác lập nhƣ thế nào? v.
Từ thực tiễn quản lý cũng nhƣ kinh nghiệm quản lý rừng của các địa phƣơng khác trên toàn quốc cho thấy, quản lý rừng có sự tham gia của cộng đồng là hình thức quản lý tiên tiến và bền vững, tuy nhiên trong vấn đề thực hiện đã bộc lộ một số vấn đề cần giải quyết nhƣ: - Sự tham gia quản lý của ngƣời dân nhƣ thế nào là ph hợp; - Hiệu quả đem lại từ hình thức quản lý này là nhƣ thế nào; - Vấn đề hƣởng lợi của ngƣời dân; - Khung chính sách để thực thi vấn đề này nhƣ thế nào? Xuất phát từ tầm quan trọng, tính cấp thiết và ý nghĩa thực tiễn đối với xu hƣớng phát triển bền vững hiện nay, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động quản lý rừng cộng đồng tại KBTTN Thượng Tiến – Kim Bôi – Hòa Bình”. 2 Phần 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Rừng và tác dụng của rừng đối với đời sống xã hội Rừng: Có nhiều khái niệm khác nhau về rừng, song có thể tìm hiểu một số khái niệm sau: - Rừng là khu đất rộng, có nhiều cây mọc tự nhiên hoặc đƣợc trồng tạo ra một hệ sinh thái rừng mà trong đó cây rừng là thành phần chính của quần thể sinh vật rừng.
Rừng gồm rừng tự nhiên và rừng trồng trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. - Rừng là một tổng thể cây gỗ có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển (Môrôdốp - 1930) - Rừng là một bộ phận canh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật. Trong quá trình phát triển của mình, chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hƣởng lẫn nhau và tới hoàn cảnh bên ngoài (Teachenkô - 1952) - Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu (Mêlêkhốp - 1974) Nhƣ vậy, rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trƣờng khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trừng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 10% trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng.
Vai trò của rừng: Rừng có vai trò qua trọng đối với xã hội về mặt kinh tế cũng nhƣ về môi trƣờng - Rừng cung cấp các sản phẩm gỗ, củi và các loại đặc sản quý hiếm - Rừng có tác dụng to lớn đối với môi trƣờng sống của con ngƣời. Cụ thể: - Rừng có vai trò quan trọng đối với khí hậu, thời tiết, làm khí hậu và 3 thời tiết đƣợc điều hoà. - Rừng có khả năng giữ nƣớc, làm tăng lƣợng nƣớc ngầm trong lòng đất do hệ rễ cây điều tiết. - Rừng có tác dụng chống xói mòn cao.
- Bảo vệ đa dạng sinh học - Làm sạch không khí, phòng chống ô nhiễm. - Phòng chống những thiên tai của thời tiết nhƣ cát bay, chống nóng ven biển, giảm tốc độ gió để bảo vệ m a màng trong nông nghiệp. Tóm lại, rừng là lớp thảm thực vật có tác dụng lớn trong việc chống ô nhiễm môi trƣờng. Rừng là lá phổi xanh của trái đất, nhả oxi và hấp thu cacbonic của khí quyển trong quá trình đồng hoá của cây với môi trƣờng.
Rừng làm trong sạch bầu khí quyển, giữ cân bằng lƣợng oxi và cacbonic trong không khí, duy trì sự sống trong hành tinh chúng ta. Rừng là tấm màn xanh coi giữ và làm sạch các nguồn nƣớc. Số phận của rừng là số phận của hành tinh chúng ta, “nếu rừng nhiệt đới không còn, sẽ có khoảng 1 tỉ ngƣời không có nguồn sống” (Nigel Sitwell). Theo tính toán khoa học, mỗi quốc gia cần có ít nhất 1/3 diện tích rừng che phủ thì mới bảo đảm đƣợc cân bằng sinh thái, diện tích rừng che phủ phải phân bố đều trên diện tích cả nƣớc và phân bố có trọng điểm, nhất là vùng đầu nguồn.
Rừng có khả năng cải tạo khí hậu, ngăn cản gió lạnh, gió nóng, hạn chế tác hại của gió bão, bảo vệ mùa màng nông nghiệp và nâng cao năng suất hoa mầu. Rừng có tác dụng phòng hộ đầu nguồn, nuôi dƣỡng nguồn nƣớc, nhất là ở những v ng núi cao. Rừng có khả năng bảo vệ đất đai, chống xói mòn. Xã hội ngày càng phát triển, vai trò của rừng ngày cành trở nên vô giá.
Hiệu quả cân bằng sinh thái của rừng không thể tính toán bằng giá trị kinh tế thông thƣờng. Có thể nói chắc chắn rừng: thảm thực bì rừng không còn thì sự sống trên hành tinh chúng ta cũng sẽ mất theo. Rừng còn có giá trị cảnh quan, làm tăng thêm vẻ đẹp cho non sông, đất nƣớc. Rừng là nơi thăm quan, nghỉ mát, du lịch, “rừng và cảnh quan của rừng có thể làm tăng sức khoẻ con ngƣời, làm mạnh thêm quan niệm về đạo đức” (Tselchiep).
Khái niệm về “cộng đồng” Cộng đồng là một tập hợp những ngƣời sống thành xã hội, có quan điểm chung với nhau, có các mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau và thƣờng có ranh giới trong không gian một làng, một bản. Cộng đồng đƣợc phân chia theo 2 loại hình cơ bản sau: - Cộng đồng địa lý: Bao gồm những ngƣời dân cƣ trú trong cùng một địa bàn với các đặc điểm xã hội đồng nhất và có một mối quan hệ ràng buộc với nhau. Họ cùng đƣợc áp dụng chính sách chung. - Cộng đồng chức năng: Gồm những gồm ngƣời có thể cƣ trú gần nhau hoặc không gần nhau nhƣng có lợi ích chung.
Họ liên kết với nhau trên cơ sở nghề nghiệp, sở thích, hợp tác hay hiệp hội có tổ chức. Nhƣ vậy, theo quan niệm này, cộng đồng có thể là cộng đồng dân cƣ làng, bản; nhóm hộ, dòng họ…; hợp tác xã; các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp (cấp làng, xã) cũng có thể coi là một loại hình cộng đồng. Khái niệm về "cộng đồng" trong quản lý tài nguyên rừng Các nhà xã hội học, dân tộc học đã đƣa ra nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm "cộng đồng". ở đây chỉ đƣa ra khái niệm "cộng đồng" đƣợc dùng trong lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng.
Theo đó, có thể khái quát thành 3 quan điểm chính sau đây: - Quan điểm thứ nhất cho rằng, thuật ngữ "cộng đồng" chính là nói đến cộng đồng dân cƣ làng bản, bao gồm toàn thể những ngƣời sống thành một xã hội có những điểm tƣơng đồng về mặt văn hoá truyền thống, có các mối quan hệ sản xuất và đời sống gắn bó với nhau và thƣờng có ranh giới không gian trong một làng bản.