Chương 1: Giới thiệu. Chương này trình bày tóm tắt lý do nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, giới hạn và phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của luận văn, một số Luận văn thạc sỹ kinh tế học Trang 5 Hướng dẫn khoa học: PGS. Nguyễn Minh Hà Thực hiện nghiên cứu: Nguyễn Văn Hùng điểm khác so với các nghiên cứu trước và kết cấu luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu trước.
Chương này trình bày tóm tắt các khái niệm của luận văn; giới thiệu tổng quan lý thuyết về hàm sản xuất và chi phí, các mô hình tăng trưởng, chí phí và lợi ích, tối đa hóa lợi nhuận,. Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu. Đề xuất phương pháp nghiên cứu, xây dựng mô hình nghiên cứu, việc thu thập và xử lý dữ liệu nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Tập trung phân tích, đánh giá thực trạng tình hình sản xuất thanh long nói chung và sản xuất thanh long theo teo tiêu chuẩn VietGep nói riêng; tình hình thực hiện các chính sách khuyến khích trồng thanh long VietGap ở huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận; đồng thời đi sâu mô tả cụ thể các kết quả và nêu bật ý nghĩa thực tiễn của các kết quả thu được. Chương 5: Kết luận và gợi ý một số giải pháp. Tóm lược những kết quả thu được; đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị cơ chế, chính sách; đồng thời chỉ rõ hạn chế của đề tài và đề xuất những vấn đề tiếp tục nghiên cứu. Luận văn thạc sỹ kinh tế học Trang 6 Hướng dẫn khoa học: PGS.
Nguyễn Minh Hà Thực hiện nghiên cứu: Nguyễn Văn Hùng CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU TRƯỚC Nền tảng của mọi nghiên cứu là lý thuyết nền phục vụ phát triển ý tưởng nghiên cứu. Từ các khái niệm liên quan đến sản xuất nông nghiệp hiện nay cho đến mô hình kinh tế quan trọng và vấn đề cần tập trung ảnh hưởng đến tư duy phát triển kinh tế ngày nay. Nền tảng của lý thuyết giúp chúng ta phát triển nghiên cứu có liên quan đến phân tích lợi ích chi phí, tối đa hóa lợi nhuận và ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp.
Các khái niệm liên quan 2. Sản xuất nông nghiệp truyền thống Theo Dwight et al (2006), người ta thường nghĩ rằng nông nghiệp truyền thống được tạo nên từ những người nông dân với những phương pháp canh tác tồn tại và lưu truyền từ đời này qua đời khác. Điều đó hàm ý rằng những người nông dân truyền thống luôn tự trói mình trong tập quán và không bao giờ muốn thực hiện bất cứ sự thay đổi nào cho dù việc thay đổi có thể giúp gia tăng năng suất và hiệu quả lao động. Những tập quán này luôn được củng cố bằng giá trị và niềm tin, gắn liền với tôn giáo.
Do đó, việc thay đổi hiển nhiên là rất khó khăn do phải đối mặt với những phản ứng bắt nguồn từ tín ngưỡng lâu đời. Đặc điểm nổi bật của công nghệ nông nghiệp truyền thống là nó thay đổi rất chậm. Bởi vậy người nông dân thường không thể phản ứng kịp nếu các phương pháp nông nghiệp liên tục thay đổi, ngược lại họ thường thử nghiệm những kỹ thuật khác nhau trong một thời gian dài cho đến khi tìm ra một phương pháp phù hợp với công nghệ hiện có. Những người nông dân trong một ngữ cảnh truyền thống sẵn sàng thay đổi nếu sự thay đổi đó mang lại lợi ích lớn hơn.
Rất nhiều lần, khi giá cả của một số loại nông sản nào đó tăng cao so với các loại nông sản khác, người nông dân lập tức đổ xô trồng những loại cây này; và khi giá giảm thì hiện tượng ngược lại sẽ xảy ra. Gap Theo FAO, “Gap là quá trình thực hành canh tác, chế biến tại trang trại hướng tới sự bền vững của môi trường, kinh tế và xã hội và kết quả là an toàn và chất lượng của sản phẩm nông nghiệp”. Luận văn thạc sỹ kinh tế học Trang 7 Hướng dẫn khoa học: PGS. Nguyễn Minh Hà Thực hiện nghiên cứu: Nguyễn Văn Hùng Theo đó, GAP được định nghĩa là những nguyên tắc được thiết lập nhằm đảm bảo một môi trường sản xuất an toàn, sạch sẽ, sản phẩm phải đảm bảo không chưa các tác nhân gây bệnh như chất độc sinh học, hóa chất.
Khái niệm GAP (Thực hành canh tác tốt) đã phát triển vào những năm gần đây trong bối cảnh những thay đổi và toàn cầu hóa nhanh chóng của ngành công nghiệp thực phẩm và là kết quả của nhiều mối quan tâm, cam kết của những người quản lý sản xuất thực phẩm, an ninh lương thực, chất lượng và an toàn thực phẩm, sự bền vững môi trường của ngành nông nghiệp. Theo nghĩa rộng, GAP áp dụng những kiến thức sẵn có hướng đến sự bền vững về môi trường, kinh tế - xã hội đối với sản xuất nông nghiệp và các quá trình sau sản xuất tạo ra các sản phẩm nông nghiệp phi thực phẩm và thực phẩm bổ dưỡng an toàn. Nông dân tại các quốc gia phát triển và đang phát triển đã áp dụng GAP qua các phương pháp nông nghiệp bền vững như: quản lý động vật gây hại, quản lý dinh dưỡng và bảo tồn nông nghiệp. Những phương pháp này được áp dụng tùy theo các hệ thống canh tác và qui mô của từng đơn vị sản xuất bao gồm sự hỗ trợ, đóng góp của các chương trình và chính sách của nhà nước về an ninh lương thực, cơ sở vật chất,… Sự phát triển của cách tiếp cận chuỗi thực phẩm đến chất lượng và an toàn thực phẩm có nhiều quan hệ mật thiết với sản xuất nông nghiệp và thực hành sau sản xuất, và đề ra nhiều cơ hội sử dụng các nguồn lực bền vững.
Ngày nay GAP được công nhận chính thức trong khuôn khổ qui tắc quốc tế nhằm giảm thiểu các mối nguy liên quan đến việc sử dụng thuốc trừ sâu, đánh giá sức khỏe nghề nghiệp và cộng đồng, cân nhắc đến môi trường và an ninh. Sử dụng GAP cũng được khuyến khích trong khu vực kinh tế tư nhân qua các qui tắc thực hành và các chỉ dẫn không chính thức do các nhà chế biến và cung cấp lẻ đưa ra do nhu cầu của người tiêu thụ đối với thực phẩm không độc và sản xuất ổn định. Xu hướng này thúc đẩy người nông dân sản xuất tham gia và được công nhận GAP bởi họ có nhiều cơ hội mở thị trường mới hơn, có nhiều khả năng đáp ứng nhu cầu hơn. GlobalGap/EurepGap là một bộ tiêu chuẩn về nông trại được công nhận quốc tế dành cho việc Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (GAP).
Thông qua việc chứng nhận, các nhà sản xuất chứng minh việc thực hiện tiêu chuẩn GlobalGap của mình. Đối với người tiêu dùng và các nhà bán lẻ, giấy chứng nhận GlobalGap là sự đảm bảo rằng thực Luận văn thạc sỹ kinh tế học Trang 8 Hướng dẫn khoa học: PGS. Nguyễn Minh Hà Thực hiện nghiên cứu: Nguyễn Văn Hùng phẩm đạt được mức độ chấp nhận được về an toàn và chất lượng, và quá trình sản xuất được chứng minh là bền vững và có quan tâm đến sức khỏe, an toàn và phúc lợi của người lao động, môi trường, và có xem xét đến các vấn đề “phúc lợi” của vật nuôi. Nếu không có sự đảm bảo này, người sản xuất nông nghiệp có thể bị thị trường từ chối (http://www.org/uk_en/).
VietGap: Theo Quyết định số 379/QĐ-BNN-KHCN, 2008, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau quả tươi của Việt Nam (gọi tắt là VietGap: Vietnamese Good Agricultural Practices) là những nguyên tắc, trình tự, thủ tục hướng dẫn tổ chức, cá nhân sản xuất, thu hoạch, sơ chế bảo đảm an toàn, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội, sức khỏe người sản xuất và người tiêu dung, bảo vệ môi trường và truy nguyên nguồn gốc sản phẩm. VietGap cho rau quả tươi an toàn dựa trên cơ sở ASEAN GAP, EUREPGAP/ GLOBALGAP và FRESHCARE, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho rau quả Việt Nam tham gia thị trường khu vực ASEAN và thế giới, hướng tới sản xuất nông nghiệp bền vững (Quyết định số 379/QĐ-BNN-KHCN, 2008) Theo Quyết định số 379/QĐ-BNN-KHCN, 2008, Lợi ích của việc tham gia VietGap là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp tham gia sản xuất theo Chương trình VietGap là thực hiện quy trình sản xuất hiện đại nhằm giảm chi phí sản xuất, bảo đảm các điều kiện về môi trường nhằm phát triển bền vững; sản phẩm tham gia chương trình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap có điều kiện thâm nhập thị trường quốc tế, đặc biệt là thị trường khó tính, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng sẵn lòng chi trả cao cho các sản phẩm sạch, an toàn và tốt cho sức khỏe. Nông nghiệp sinh thái Nền nông nghiệp sinh thái là nền nông nghiệp kết hợp hài hòa những cái ưu điểm, tích cực của hai nền nông nghiệp: Nông nghiệp hóa học và nông nghiệp hữu cơ một cách hợp lý và có chọn lọc nhằm: thỏa mãn nhu cầu hiện tại nhưng không gây hại đến các nhu cầu của các thế hệ tương lai (nông nghiệp bền vững); thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người về sản phẩm nông nghiệp, nghĩa là phải đạt năng suất cao, Luận văn thạc sỹ kinh tế học Trang 9 Hướng dẫn khoa học: PGS. Nguyễn Minh Hà Thực hiện nghiên cứu: Nguyễn Văn Hùng phẩm chất nông sản tốt với mức đầu tư vật chất ít và hiệu quả kinh tế cao.
Hộ gia đình Steinemann et al (2005), hộ gia đình là một đơn vị tiêu dùng (và sản xuất) cơ bản trong nền kinh tế; bao gồm một hay nhiều cá nhân. Các hộ gia đình ra quyết định về việc lao động, chi tiêu,và sử dụng tài sản cá nhân. Những quyết định này có thể dựa trên một số mục đích, nhưng nói chung, kinh tế học giả định rằng người ta sẽ cố gắng tối đa hóa sự thỏa mãn của họ. Cho dù các hộ gia đình khác nhau, và các cá nhân trong hộ cũng khác nhau, nhưng mỗi người phải đưa ra những quyết định cơ bản về cách thức làm thế nào để kiếm thêm thu nhập và chi tiêu thu nhập của họ cho hàng hóa dịch vụ.
Người ta nhận thu nhập từ lao động, từ sinh lợi đầu tư, quà tặng, tiết kiệm và các chương trình chuyển giao. Các hộ gia đình không chỉ là người tiêu dùng mà còn là người sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Hộ gia đình hay còn gọi đơn giản là hộ, là một đơn vị xã hội bao gồm một hay một nhóm người ở chung (cùng chung hộ khẩu) và ăn chung (nhân khẩu).