CHƯƠNG 1 Chương này trình bày lý do thực hiện đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu và giới thiệu bố cục tổng thể của luận văn. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Nội dung của chương 2 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết các khái niệm về chất lượng dịch vụ; sự hài lòng của khách hàng, mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng khách hàng. Chương này cũng trình bày tổng quan các nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố về chất lượng dịch vụ bán hàng đến sự hài lòng của khách hàng, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu.1 Các khái niệm về chất lượng dịch vụ 2.1 Khái niệm chất lượng Chất lượng là một khái niệm đa chiều và được nhìn nhận với nhiều góc độ khác nhau, hiện nay đang tồn tại nhiều khái niệm về chất lượng khác nhau. Theo quan niệm của các nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ thì chất lượng là sự hoàn hảo và phù hợp của một sản phẩm/dịch vụ với một tập hợp các yêu cầu tiêu chuẩn, qui cách đã được xác định trước.
Từ đó, căn cứ vào một đối tượng nghiên cứu cụ thể, là chất lượng trong hoạt động bán hàng nghề nghiệp. Như vậy, “Chất lượng là đáp ứng chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ bảo đảm thỏa mãn mong đợi của khách hàng với cách thức quản lý đúng đắn và mang lại hiệu quả cho xã hội”.2 Khái niêm dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm khá phổ biến nên có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng các định nghĩa đều nhấn mạnh đến các đặc điểm then chốt của dịch vụ đó là sự vô hình, tính không thể tách rời, không đồng nhất và không thể tồn trữ. Chính vì những đặc điểm này khiến cho việc đo lường, đánh giá chất lượng dịch vụ trở nên khó khăn đối với các nhà nghiên cứu, doanh nghiệp. Theo Zeithaml & Britner (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.
Thongsamak (2001) tổng kết các quan điểm của các nhà nghiên cứu về đặc điểm của dịch vụ cho thấy dịch vụ khó định nghĩa, mô tả hay đo lường so với các sản phẩm hữu hình là do các đặc tính sau: (i) Vô hình (intangibility): Dịch vụ là vô hình, nó khác với sản phẩm chế tạo là hữu hình. Sản phẩm dịch vụ thuần túy là sự thực hiện, khách hàng không thể nhìn thấy, cảm nhận hoặc tiếp xúc, nếm, ngửi, nghe trước khi mua nó. 10 (ii) Không đồng nhất (heterogeneity): Dịch vụ rất khó thực hiện một cách đồng nhất và chính xác theo thời gian mà thường hay thay đổi tùy theo thời gian thực hiện, tùy theo nhà cung cấp và tùy theo khách hàng. Đặc tính này của dịch vụ làm cho tiêu chuẩn hóa chất lượng dịch vụ không giống như là đối với các sản phẩm chế tạo.
(iii) Không thể tách rời (inseparability): Trong ngành dịch vụ, cung ứng dịch vụ thường được thực hiện cùng lúc với tiêu thụ. Do đó, nhà cung cấp khó che dấu lỗi hay những khiếm khuyết của dịch vụ vì nó không có khoảng cách thời gian từ sản xuất đến tiêu thụ như sản phẩm hữu hình. (iv) Dễ hỏng (perishability): Khác với sản phẩm chế tạo, dịch vụ không thể tồn trữ để tiêu thụ sau đó. Điều này làm cho khó kiểm tra chất lượng trước khi cung cấp cho người tiêu dùng.
Do vậy, nhà cung cấp dịch vụ chỉ có một cách duy nhất là cung cấp đúng ngay từ lần đầu và mọi lúc đã cam kết. (v) Không thể hoàn trả (non – returnable): Dịch vụ không thể hoàn trả, trong nhiều ngành dịch vụ, khách hàng có thể được hoàn trả lại tiền nếu không hài lòng với dịch vụ của nhà cung ứng. (vi) Không chắc chắn trong đáp ứng nhu cầu (Needs – match uncertainty): Các thuộc tính của dịch vụ kém chắc chắn hơn là sản phẩm hữu hình. Điều này dẫn tới dịch vụ khó đáp ứng nhu cầu hơn so với sản phẩm hữu hình.
(vii) Quan hệ cá nhân (interpersonal): Dịch vụ có khuynh hướng bị ảnh hưởng bởi quan hệ qua lại giữa người với người hơn là sản phẩm hữu hình. Vì dịch vụ do con người thực hiện. (viii) Tính cá nhân (personal): Khách hàng thường đánh giá cung cấp dịch vụ dựa vào cảm nhận cá nhân của mình. (ix) Tâm lý (Psychic): Dịch vụ tác động rất rõ đến tâm lý khách hàng.
Khi một chuyến bay, xe, tàu. bị trễ, khách hàng thường khó chịu, bực bội. Tuy nhiên, nếu nhân viên phục vụ thân thiện, vui vẻ, nhiệt tình thì khách hàng vẫn vui lòng với dịch vụ này. Theo Kotler & Armstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng.
Philip Kotler định nghĩa dịch vụ: 11 “Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất”. Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.3 Khái niệm về chất lượng dịch vụ: Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng dịch vụ, nhưng nhìn chung định nghĩa chất lượng dịch vụ là những gì mà khách hàng cảm nhận được. Theo Leisen và Vance (2001) chất lượng dịch vụ giúp tạo ra lợi thế cạnh tranh cần thiết bởi đó là một yếu tố khác biệt có hiệu quả.
Theo Wal et al (2002) chất lượng dịch vụ đã được bắt đầu vào những năm 1980 như một xu hướng trên toàn thế giới, khi các nhà tiếp thị nhận ra rằng chỉ có sản phẩm chất lượng mới có thể được bảo đảm để duy trì lợi thế cạnh tranh. Theo Parasuraman & ctg (1988, 1991), định nghĩa chất lượng dịch vụ là “mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ”, “Chất lượng dịch vụ là khoản cách giữa sự mong đợi (kỳ vọng) của khách hàng và nhận thức (cảm nhận) của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ”. Định nghĩa này đã được giới học giả và quản trị chấp nhận, sử dụng rộng rãi vào nghiên cứu cũng như ứng dụng thực tế.4 Khái niệm về các yếu tố chất lượng dịch vụ Theo Hiệp hội Chất lượng Hoa Kỳ (ASQ) chất lượng là toàn bộ các tính năng và đặc điểm mà một sản phẩm hay dịch vụ đem lại nhằm đáp ứng những nhu cầu đặt ra từ khách hàng. Chất lượng dịch vụ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh trong kinh doanh.
Chất lượng dịch vụ được xem là phương thức tiếp cận quan trọng trong quản lý kinh doanh nhằm đảm bảo sự hài lòng của khách hàng, đồng thời giúp tăng khả năng cạnh tranh và hiệu quả của ngành (Arun Kumar G. và Naveen Kumar H. Chất lượng dịch vụ là kết quả đánh giá của khách hàng dựa trên những tiêu chí thông qua kinh nghiệm và mong đợi của họ và những ảnh hưởng từ hình ảnh của doanh nghiệp (Caruana, 2000). Đặc điểm vô hình, không đồng nhất, không thể tách rời và không thể lưu giữ được của dịch vụ gây khó khăn trong việc đánh giá chất 12 lượng dịch vụ Do đó, việc nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ là cần thiết để xác định, đo lường, kiểm soát và cải thiện cảm nhận khách hàng về chất lượng dịch vụ.
Parasuraman và cộng sự (1985) cho rằng chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ. Theo Philip Kotler và Gary Armstrong (2011) chất lượng dịch vụ được định nghĩa là khả năng của một dịch vụ bao gồm độ bền tổng thể, độ tin cậy, độ chính xác, sự dễ vận hành, dễ sửa chữa và các thuộc tính có giá trị khác để thực hiện các chức năng của nó. Một số nhà nghiên cứu như Gronroos (1984), Cronin và Taylor (1992) thì cho rằng chất lượng dịch vụ chỉ có thể được đo bằng các chức năng của nó và không cần thiết để đánh giá mong đợi của khách hàng, chất lượng dịch vụ chỉ có thể được đo bằng cảm nhận mà không cần có bất kỳ liên quan nào với kỳ vọng. Ngoài ra, do môi trường văn hóa khác nhau, người tiêu dùng ở mỗi quốc gia khác nhau có thể có nhận thức khác nhau về chất lượng dịch vụ ở mỗi loại hình dịch vụ khác nhau.
Có nhiều khái niệm về yêu tố chất lượng dịch vụ, tuy nhiên tất cả các nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước điều có chứng minh các yếu tố chất lượng dịch vụ đều khởi nguồn từ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp tác động trực tiếp đến sản phẩm dịch vụ làm cho khách hàng hài lòng. Parasuraman & ctg, (1988,1991) và Cronin và Taylor (1992) chứng minh có 5 yếu tố quyết định chất lượng dịch vụ bao gồm: (1) Sự tin cậy (reliability): Thể hiện khả năng thực hiện dịch vụ một cách chính xác và đúng thời hạn ngay từ giao dịch đầu tiên; (2) Sự đáp ứng (responsiveness): Thể hiện sự mong muốn và sẵn sàng cung cấp dịch vụ cho khách hàng; (3) Sự hữu hình (tangibility): Thể hiện qua cơ sở vật chất, trang thiết bị, trang phục của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ cho khách hàng; (4) Sự đảm bảo (assurance): Khả năng bảo đảm an toàn cho khách hàng về tài sản, bảo mật thông tin; (5) Sự đồng cảm (empathy): Thể hiện sự quan tâm đến nhu cầu của khách hàng, chăm sóc khách hàng một cách tốt nhất.