Chương 1: Giới thiệu hình thành đề tai. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Chưởng 5: Kết luận, các kiến nghị, những hạn chế và hướng nghiên cứu trong tương lai của dé tài (nêu có).
CHƯƠNG 2: TONG QUAN NGANH, CƠ SỞ LÝ THUYET VA MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan thị trường du lịch ở Đà Lạt hiện nay Theo thống kê Sở Văn hóa Thông tin Du lịch Lâm Đồng 2017, lượng khách du lịch đến Đà Lat - Lâm Đồng là 5.000 lượt khách, bao gém cả khách du lịch trong và ngoài nước (tăng 7. Trong đó, khách quốc tế 295 ngàn lượt, tăng 44% so với năm 2016. là kết quả của nhiễu hoạt động tổng lực thúc day ngành du lich phát triển và thu hút khách của Lâm Dong (“Đà Lạt đón gần 6 triệu lượt khách du lịch”, 2017). Lượng khách du lịch đến Lâm Đồng tăng trưởng tốt, kết quả này có được là do: > Hiéu qua từ hoạt động xúc tiễn thu hút đầu tư, thu hút du lịch, và sản phẩm phù hợp với nhiều thị trường khác như Trung Quốc, Han Quốc, Nga.
> Sân bay quốc tế Liên Khương cách TP. Đà Lạt 30 km, được đầu tư theo tiêu chuẩn cấp 4D đủ điều kiện để phục vụ 2 triệu khách/năm từ các chuyến bay quốc tế, khai thác 6 tuyến bay nội địa đi đến TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nang, Vinh, Huế, Hải Phòng với tần suất 27 chuyến bay/ngày. > Ngoài ra, dé án về ứng dụng công nghệ thông tin trong quan lý lưu trú được đưa vào triển khai một cách rộng rãi, giúp hoạt động kê khai, quản lý, thống kê lượng khách lưu trú qua mạng được nâng lên một bước, không làm mat thời gian đi lại của cơ sở lưu trú.2 Các sản phẩm đặc trưng của Đà Lạt Đà Lạt là một trong những điểm tham quan du lịch hàng đầu Việt Nam, không chỉ nỗi tiếng trong nước mà cả đối với du khách nước ngoài. Các sản phẩm đặc trưng của Đà Lat được nhiều du khách biết đến bao gém: các loại hình du lịch, tour tham quan các điểm du lich ., các đặc sản nông nghiệp như hoa, rau xanh, trà, trái cây.
các sản phẩm thủ công và sản xuất công nghiệp như tranh thêu nghệ thuật, tranh khắc gỗ bang bút lửa, đan móc các sản phẩm len thời trang (Xuân Thảo, 2018). Đà Lạt là một thành phố nghỉ dưỡng nên có rất ít các loại hình giải trí năng động như Tp HCM, Hà Nội, Đà Nang., vi vay mua sam được xem như một hình thức giải trí phố biến của người dân địa phương và du khách từ nhiều nơi đến. Hiện nay việc mua săm những sản phẩm len ở Đà Lạt đã trở thành một thói quen đối với nhiều du khách.3 Tổng quan ngành hàng len tại Đà Lạt Len: (bắt nguồn từ tiếng Pháp: laine) là một loại sợi dệt thu được từ lông cừu va một số loài động vật khác, như dê, lạc đà. Len có một số phụ phẩm CÓ nguồn sốc từ tóc hoặc da lông, len có khả năng đàn hỏi và giữ không khí và giữ nhiệt tốt.
Len được xem là nguyên liệu để dệt, đan, sản xuất các sản phẩm thời trang như các loại áo len, nón len và nhiều sản phẩm khác, là mặt hàng giữ 4m thông dụng trên thế giới, đặc biệt những nơi có khí hậu lạnh. Trong thực tế thì có nhiều loại len va chất lượng của chúng khác nhau nhưng pho biến nhất van là các loại sau đây: - Len lông cừu thường: Loại len này được lấy từ những đàn cừu đã thay lông được một lần. So với len thường thì len lông cừu mềm mại và đàn hồi tốt hơn nên chúng sẽ 4m và bên hơn. - Len Cashmere: Loại len này được lấy từ lớp lông tơ của dê Kashmir (hay còn được gọi là Cashmere) trong dot thay lông mùa xuân.
Một sợi xơ Cashmere có khả năng cách nhiệt gấp 8 lần so với len thường, giúp giữ ấm vào mùa đông. Đây còn là một loại len siêu nhẹ. Len Cashmere có giá thành đắt nhất trong các loại len. - Len Angora: Loại len này có nguồn gốc từ thỏ Angora.
Soi len loại này mềm, mịn, mỏng va rất bông. Tuy nhiên, nó không đủ độ bên cần thiết nên khi được sử dụng trong sản xuất thì người ta thường pha thêm các thành phân len, sợi khác. Từ lâu mặt hàng len được ví như một đặc sản riêng vốn có của Đà Lạt, hình ảnh của những vật dụng làm từ len xuất hiện ở nhiều nơi với nhiều mẫu mã và dạng thức khác nhau như: Áo len, nón len, khăn len, bao tay len. và cả đồ lưu niệm rất độc đáo.
Hiện nay, thị trường ngành hàng len tại Đà Lạt rất đa dạng và phong phú, bao gôm nhiều cửa hang, quay hàng, công ty sản xuất và các địa điểm tham quan du lịch có trưng bày các mặt hàng len, qua khảo sát sơ bộ cụ thể tại chợ Đà Lạt và Đà lạt Center chiếm khoảng hơn 100 quây hàng, khu chợ đêm Đà Lạt (hay còn gọi Chợ Am Phủ) có khoảng 235 quay hàng, khoảng 30 địa điểm trên tổng 35 điểm tham quan du lịch tại Đà Lạt có trưng bảy và bán các sản phẩm len. Hơn 10 đại lý phân phối, kinh doanh si và lẻ sản phẩm len. Da Lạt có 5 doanh nghiệp chuyên sản xuất kinh doanh và xuất khâu các mặt hang từ len sợi: - _ Công ty TNHH Quốc Thịnh. - _ Công ty Cô Phần Thương Mai Đà Lạt - Cong ty TNHH Đà Lạt Apex - Céng ty TNHH Nắng Mai Da Lat - Cong ty TNHH dệt len Trúc Quynh.
Va một điều đặc biệt là hầu hết người dân Đà Lạt đều thông thạo công việc đan len thủ công, nên họ có thể tự tay đan và sản xuất những sản phẩm len để bán và phân phối trên thị trường Đà Lạt.4 Cơ sở lý thuyết về hành vi người tiêu dùng 2.1 Các khái niệm cơ bản 2.1 Hành vi người tiêu dùng Là khái niệm đa dạng, phụ thuộc vào quan điểm của từng nhà nghiên cứu. Theo tác giả Churchill và Peter cho rằng: Hành vi người tiêu dùng là những hoạt động của con người khi tham gia vào việc lựa chọn, tìm kiếm, mua, sử dụng và loại bỏ sản phẩm và dich vụ dé thõa mãn nhu cầu và mong muốn của họ. Theo Philip Kotler thì hành vi tiêu dùng là những hành vi cụ thé của một các nhân khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng và loại bỏ sản phẩm hay dịch vụ. Thuật ngữ hành vi tiêu dùng dé chỉ hành vi mà người tiêu dùng thé hiện trong việc tìm kiếm mua, sử dụng, đánh giá và loại bỏ các sản phẩm dịch vụ mà người tiêu dùng mong muốn sẽ thỏa mãn nhu cau của ho.
Hành vi tiêu dùng tập trung vào việc cá nhân ra quyết định như thé nao dé sử dụng các nguồn lực hiện có (thời gian, tiên bạc, công sức) vào việc tiêu thụ các mặt hàng có liên quan. Nó bao gồm việc họ mua gi, tại sao mua, khi nào mua, mua ở đâu, họ có thường mua chúng, có thường sử dụng chúng, đánh giá chúng ra sao sau khi mua và ảnh hưởng của những đánh giá này đến những lần mua tới và họ vứt bỏ chúng như thé nào. Hành vi tiêu dùng bao hàm cả hai khía cạnh, đó là những quyết định mang tính trí óc (ý nghĩ) và những hành động vật chất của cơ thể được tạo ra từ những quyết định/ý nghĩ đó. Mặc dù một số nhà khoa học xã hội thường giới hạn định nghĩa của họ về “hành vỉ” trong các hành động có thể quan sát được, nhưng rõ ràng là các lý do và những quyết định nằm sau những hành động (tức là các quyết định suy tính) là có liên quan chặt chẽ với hành vi con người nói chung và người tiêu dùng nói riêng.
Do đó, để hiểu được hành vi, chúng ta cần phải nghiên cứu một cách đầy đủ cả hai khía cạnh của nó. Người tiêu dùng là những người mua va sử dụng các sản phẩm hàng hóa va dịch vụ cung ứng trên thị trường. Người tiêu dùng nói chung thường được phân chia thành hai nhóm cơ bản là: Người tiêu dùng cá nhân và người tiêu dùng tổ chức. Người tiêu dùng cá nhân: là những người mua hàng hóa, dịch vụ để sử dụng cho chính cá nhân họ (ví dụ kem đánh răng, son môi.
), cho gia đình (ví dụ một cái tivi, tủ lạnh .), cho người thân (bộ quan áo hay món đồ chơi cho con. Người tiêu dùng này còn được gọi là người tiêu dùng cuối cùng”. Người tiêu dùng tô chức bao gdm các tổ chức kinh doanh (doanh nghiệp), don vị hành chính, sự nghiệp ., họ là những người mua sản phẩm, dịch vụ phục vụ cho hoạt động của cơ quan, tô chức. Trong nghiên cứu dé tai, chủ yếu thường tập trung vào những người tiêu dùng cá nhân, bởi vì tiêu dùng cuối cùng là yếu tố bao trùm lên tất cả các dạng khác nhau của hành vi tiêu dùng và liên quan đến mọi người với vai trò là người mua, người tiêu dùng hoặc cả hai.2 Hành vi tiêu dùng du lịch Theo Luật Du lịch sửa đối được Quốc hội thông qua ngày 19/6/2017 tại Ky hop thứ 3 - Quốc hội Khóa XIV đã khái niệm như sau: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu câu tham quan, nghỉ dưỡng, giải tri, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác.
Khách du lịch: Là khách thăm viếng, lưu trú tại một quốc gia hoặc một vùng khác với nơi ở thường xuyên trên 24 giờ và nghỉ qua đêm tại đó với các mục đích nghỉ dưỡng, tham quan, thăm viễng gia đình, tham dự hội nghị, tôn giáo, thể thao (Trần Văn Thông, 2010). Hành vi tiêu dùng du lịch theo nghiên cứu cua Carey va Tim (2006) là nghiên cứu tâm lý cá nhân, nghiên cứu những niềm tin cốt yếu, những giá trị, phong tục tập quán ảnh hưởng đến hành vi con người trong tiêu dùng và những ảnh hưởng lẫn nhau giữa các cá nhân trong quá trình mua sản phẩm du lịch. Đặc biệt, việc nghiên cứu hành vi tiêu dùng du lịch là một phần quan trọng trong nghiên cứu marketing với mục đích tìm hiểu xem bằng cách nảo và tại sao những người tiêu dùng mua (hoặc không mua) các sản phẩm, dịch vụ và quá trình mua sắm của người tiêu dùng diễn ra như thế nào.