Chương 1 trình bày tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu, kết cấu của luận văn. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Dịch vụ và Dịch vụ viễn thông di động Vinaphone 2. Dịch vụ Có rất nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau về dịch vụ.
Philip Kotler (2006) định nghĩa dịch vụ là bất kỳ hành động hay lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên khác mà về cơ bản là vô hình và không đem lại sự sở hữu nào. (2000) [1] định nghĩa khác, dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Christopher & Jochen (2004) [2] cho rằng dịch vụ là một hoạt động kinh tế tạo nên giá trị và mang lại lợi ích cho khách hàng ở một địa điểm và thời gian nhất định bằng cách đáp ứng những mong muốn của người nhận dịch vụ. Gronroos (1990) cho rằng dịch vụ là một hoạt động hoặc chuổi các hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình trong đó diển ra sự tương tác giữa khách hàng và nhân viên tiếp xúc với khách hàng, các nguồn lực vật chất, hàng hóa hay hệ thống cung cấp dịch vụ - nơi giải quyết những vấn đề của khách hàng Một cách tổng quát, dịch vụ là một dạng đặc biệt của hàng hóa.
Người tiêu dùng có thể sờ, ngắm, nhìn, ngửi…,phân biệt hàng hóa qua các hình dáng, công dụng và màu sắc khác nhau nhưng đối với các sản phẩm dịch vụ họ chỉ cảm nhận được bằng cảm tính, qua giao tiếp và trực tiếp sử dụng chúng. Dịch vụ là sản phẩm vô hình, không đồng nhất, và cũng không thể tách ly được. Trong quá trình tiêu dùng dịch vụ, chất lượng dịch vụ thể hiện trong tương tác giữa khách hàng và nhân viên của đơn vị cung cấp dịch vụ. 6 Các đặc tính của sản phẩm dịch vụ bao gồm: TT Đặc tính Giải thích 1 Tính vô hình Sản phẩm của dịch vụ là sự thực thi.
Khách hàng không thể thấy, nếm, sờ, ngửi, … trước khi mua 2 Tính không đồng Gần như không thể cung ứng dịch vụ hoàn toàn giống nhất nhau 3 Tính không thể Quá trình cung ứng dịch vụ cũng là quá trình tiêu thụ chia tách dịch vụ, do vậy, không thể giấu được các sai lỗi của dịch vụ 4 Tính dễ hỏng Dịch vụ không thể tồn kho. Không thể kiểm tra chất lượng trước khi cung ứng, người cung ứng chỉ có thể làm đúng từ đầu và làm đúng mọi lúc 5 Không thể hoàn trả Nếu khách hàng không hài lòng họ có thể được hoàn tiền nhưng không thể hoàn trả dịch vụ 6 Nhu cầu bất định Độ bất định nhu cầu dịch vụ cao hơn sản phẩm hữu hình nhiều 7 Quan hệ con người Quan hệ con người trong dịch vụ rất cao và thường được khách hàng thẩm định khi đánh giá dịch vụ 8 Tính cá nhân Khách hàng đánh giá dịch vụ dựa vào cảm nhận cá nhân của mình rất nhiều 9 Tâm lý Chất lượng dịch vụ được đánh giá theo trạng thái tâm lý của khách hàng Từ các đặc tính này của dịch vụ, cùng một sản phẩm dịch vụ được cung cấp đến các đối tượng khách hàng khác nhau sẽ nhận được các đánh giá khác nhau. Vai trò của các khâu tương tác trực tiếp với khách hàng trong chuổi cung cấp dịch vụ vô cùng quan trọng. Dịch vụ viễn thông di động Vinaphone: Dịch vụ viễn thông là dịch vụ truyền ký hiệu, tín hiện, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh hoặc các dạng khác của thông tin giữa các điểm kết cuối thông qua mạng viễn thông.
Dịch vụ viễn thông là dịch vụ cung cấp cho khách hàng khả năng trao đổi thông tin với nhau hoặc thu nhận thông tin qua mạng viễn thông (thường là mạng công cộng như mạng điện thoại chuyển mạch công cộng, mạng điện thoại di động, mạng internet, mạng truyền hình cáp…) của các nhà cung cấp dịch vụ và cung cấp hạ tầng mạng. 7 Dịch vụ viễn thông di động là dịch vụ viễn thông. Trong đó, việc truyền ký hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh hoặc các dạng khác của thông tin dưới dạng sóng di động giữa các đối tượng sử dụng dịch vụ thông tin di động tại mọi địa điểm, thời gian. Dịch vụ viễn thông di động Vinaphone là dịch vụ viễn thông di động mang thương hiệu Vinaphone do Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (tên gọi tắt là Tập đoàn VNPT) cung cấp trên thị trường Việt Nam.
Hiện nay có các nhà mạng cung cấp dịch vụ viễn thông di động tại thị trường Việt Nam là Vietel, Mobiphone, Vinaphone, Vietnammobile, Gmobile(Beeline). Trong đó, ba nhà mạng lớn chiếm thị phần khống chế (trên 90% thị phần) là Vietel, Mobiphone, Vinaphone. Vinaphone đứng vị trí thứ ba về thị phần dịch vụ di động tại Việt Nam và tại thị trường tỉnh Đồng Nai cũng tương tự. *Đặc tính của Dịch vụ Viễn thông di động: Theo giáo trình thông tin di động của tác giả Nguyễn Phạm Anh Dũng (2003).
Các yếu tố cấu thành nên dịch vụ thông tin đi động gồm các dịch vụ cơ bản (đảm bảo thông tin liên lạc), dịch vụ giá trị gia tăng (gửi tin nhắn, tải nhạc, xổ số…) và dịch vụ bổ sung (hậu mãi, chăm sóc khách hàng…). Nó có đầy đủ đặc tính của một dịch vụ thông thường như: tính vô hình, không tồn kho, lưu trữ, tính đồng thời, không đồng nhất. Lợi ích nổi bật của dịch vụ này là đặc tính linh động về mặt không gian và vị trí người sử dụng. Dịch vụ viễn thông di động giúp khách hàng có thể thực hiện gửi và nhận được thông tin khi họ di chuyển ở bất cứ nơi nào trong vùng phủ sóng, giúp khách hàng thoát khỏi sự bó buộc ở một nơi cố định.
Cấu thành nên dịch vụ viễn thông di động gồm ba yếu tố như sau: Dịch vụ cơ bản: đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt mọi lúc, mọi nơi. Đây là mục tiêu chính của khách hàng khi sử dụng dịch vụ viễn thông di động. Để đảm bảo dịch vụ này cho khách hàng thì vùng phủ sóng, chất lượng mạng lưới sẽ là yếu tố quyết định. Dịch vụ giá trị gia tăng: Các dịch vụ giá trị gia tăng ngoài dịch vụ thoại như chuyển tiếp cuộc gọi, chuyển vùng quốc tế, tải nhạc chuông, hiện số, giấu số, hộp thư thoại.để mang lại giá trị phụ thêm cho khách hàng.
Dịch vụ bổ sung: Các dịch vụ hậu mãi, dịch vụ chăm sóc khách hàng. tạo nên sự hài lòng của khách hàng góp phần vào việc nâng cao chất lượng dịch vụ viễn thông di động. 8 Theo thông tư 05/2012/TT-BTTTT [3] của Bộ Thông tin Truyền thông, Dịch vụ viễn thông di động bao gồm các loại sau : a) Dịch vụ viễn thông cơ bản bao gồm: dịch vụ điện thoại; dịch vụ fax; dịch vụ truyền số liệu; dịch vụ truyền hình ảnh; dịch vụ nhắn tin và các dịch vụ viễn thông cơ bản khác theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông; b) Dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng bao gồm: dịch vụ thư điện tử; dịch vụ thư thoại; dịch vụ fax gia tăng giá trị; dịch vụ truy nhập Internet, gồm dịch vụ truy nhập Internet băng hẹp có tốc độ tải thông tin xuống thấp hơn 256 kb/s và dịch vụ truy nhập Internet băng rộng có tốc độ tải thông tin xuống từ 256 kb/s trở lên và các dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng khác theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông; c) Dịch vụ viễn thông cộng thêm bao gồm: dịch vụ hiển thị số chủ gọi; dịch vụ giấu số gọi; dịch vụ bắt số; dịch vụ chờ cuộc gọi; dịch vụ chuyển cuộc gọi; dịch vụ chặn cuộc gọi; dịch vụ quay số tắt và các dịch vụ viễn thông cộng thêm khác theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông. Chất lượng dịch vụ và Chất lượng dịch vụ viễn thông di động 2.
Chất lượng dịch vụ Coronin và Taylor (1992) [4] cho rằng, chất lượng dịch vụ là yếu tố sống còn quyết định mức độ hài lòng của khách hàng. Chất lượng dịch vụ là điều kiện tiên quyết đối với sự bền vững của doanh nghiệp (Brady, 2002) [5]. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu như hiện nay, dịch vụ chất lượng cao là nhân tố thành công của doanh nghiệp. Vì thế, chiến lược quan trọng của công ty là đánh giá và giám sát chất lượng dịch vụ và mức độ hài lòng của khách hàng.
Chất lượng dịch vụ còn là tiền đề để đánh giá sự hài lòng của khách hàng. Parasuraman (1988) [6] cho rằng, dịch vụ có ba đặc tính cơ bản: sự vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể chia tách. Ông đưa ra khái niệm: chất lượng dịch vụ là một dạng của thái độ, có liên quan đến, nhưng không đồng nhất với sự thỏa mãn và bắt nguồn từ sự khác biệt giữa kỳ vọng ban đầu của khách hàng và cảm nhận về dịch vụ sau khi sử dụng. Để biết được dự đoán của khách hàng thì tốt nhất là nhận dạng và thấu hiểu những mong đợi của họ.
Từ định nghĩa trên, các nhà nghiên cứu có các định nghĩa rõ hơn về chất lượng dịch vụ. Họ chỉ ra chín sự khác biệt giữa dịch vụ và hàng hóa thông thường, bao gồm: vô hình, không đồng nhất, không thể chia tách, dễ hỏng, không thể hoàn trả, nhu cầu 9 bất định, quan hệ con người, tính cá nhân và tâm lý. Bên cạnh việc khẳng định chất lượng dịch vụ là khoảng cách mong đợi về sản phẩm dịch vụ của khách hàng và nhận thức, cảm nhận của họ khi sử dụng qua sản phẩm dịch vụ đó Zeithaml còn cho rằng chất lượng dịch vụ: (1) khác so với chất lượng khách quan hay chất lượng thực tế, (2) liên quan đến cảm nhận về một khía cạnh hơn là các tiêu chí kỹ thuật của sản phẩm dịch vụ, (3) tương tự như thái độ, (4) theo ý kiến chủ quan của khách hàng. Lehtinen & Lehtinen (1982) [7] cho rằng chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh, (1) quá trình cung cấp dịch vụ và (2) kết quả của dịch vụ.
Gronroos (1984) [8] cũng và đề nghị hai thành phần của chất lượng dịch vụ, đó là (1) chất lượng kỹ thuật, là những gì mà khách hàng nhận được và (2) chất lượng chức năng, diễn giải dịch vụ được cung cấp như thế nào. Prasuraman và đồng nghiệp (1988) [6], định nghĩa chất lượng dịch vụ là mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ sau khi sử dụng dịch vụ.