Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu: Trình bày tổng thể nội dung của toàn bộ nghiên cứu. Phần này bao gồm lý do đưa ra vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi, ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu của toàn bài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Trình bày các lý thuyết, khái niệm nền tảng liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của sinh viên. Đồng thời liệt kê tổng quan các nghiên cứu trước đây, từ đó nêu giả thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Trình bày quy trình thực hiện bài nghiên cứu, nêu thang đo của các nhóm yếu tố có trong mô hình nghiên cứu. Thực hiện việc thiết kế mẫu, lấy dữ liệu nghiên cứu và thiết kế định tính, định lượng. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và kiến nghị.
3 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm, cơ sở lý thuyết nghiên cứu 2. Các khái niệm liên quan Lựa chọn: Là thuật ngữ được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụng loại phương thức hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thực hiện để có thể đạt được mục tiêu tổng các điều kiện khan hiếm nguồn lực. Tử trong những lựa chọn, người lựa chọn có thể dùng những thang đo tiêu chuẩn để so sánh lợi, hại của từng lựa chọn, từ đó có thể đưa ra quyết định cho lĩnh vực mà mình đang cân nhắc.
Theo từ điển tiếng Việt, quyết định là một động từ, có ý nghĩa chỉ việc có ý kiến dứt khoát về việc làm cụ thể nào đó, là kết quả lựa chọn một trong các khả năng, sau khi đã có sự cân nhắc. Nghề nghiệp: Đây là một trong những việc cốt lõi mà bất cứ một học sinh THPT nào cũng phải xác định để lên kế hoạch cho tương lai và kế hoạch đó sẽ ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học mà sinh viên theo học. Bản chất của việc chọn lựa nghề nghiệp là xoay quanh những việc mà học sinh THPT muốn làm lâu dài trong tương lai. Vậy nghề nghiệp là gì? Theo Nguyễn Thị Thùy Dương, 2018: Nghề nghiệp là khái niệm chung dành để chỉ những công việc sẽ gắn với bản thân của mỗi người trong hầu hết phần lớn khoảng thời gian quan trọng của họ.
Nghề nghiệp hay hoạt động nghề nghiệp được hiểu là hoạt động phục vụ cho cơ sở tồn tại và hướng vào việc kiếm sống, việc này phải làm lâu dài, miệt mài và để hoàn thành cần có kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm (trình độ chuyên môn) theo tổ hợp đặc biệt. Nghề nghiệp là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức và kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định. 4 Quyết định chọn trường đại học: Là một quá trình phức tạp, đa giai đoạn trong đó một cá nhân phát triển từ những nguyện vọng để tiếp tục giáo dục chính quy sau khi học xong THPT, sau đó là quyết định bằng một hành động theo học một trường ĐH cụ thể, cao đẳng hoặc quá trình đào tạo của một tổ chức hướng nghiệp tiên tiến (Hossler, Braxton, & Coopersmith, 1989). Tại cuộc họp tại Lahabana (Cu Ba), trong khuôn khổ của Hội nghị lần thứ 9 (Tháng 10/1980), những người đứng đầu cơ quan giáo dục nghề nghiệp các nước xã hội chủ nghĩa đã thống nhất về khái niệm hướng nghiệp như sau: Hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, sinh lý học, y học và nhiều khoa học khác để giúp đỡ học sinh chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp với những năng lực, sở trường và tâm sinh lý cá nhân, nhằm mục đích phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động dự trữ có sẵn của đất nước.
Theo Nguyễn Thị Minh Hương, 2020, quyết định lựa chọn trường đại học của học sinh THPT được hiểu là kết quả của sự lựa chọn các cơ sở giáo dục - đào tạo đáp ứng yêu cầu của người học sau khi cân nhắc, tính toán từ các nguồn thông tin khác nhau. Các cơ sở lý thuyết liên quan Thuyết hành động hợp lý - Theory of Reasoned Action (TRA): Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) được phát triển từ năm 1967, sau đó được hiệu chỉnh và mở rộng bởi Ajzen và Fishbein trong thập niên 70 thế kỷ 20 và được xem là học thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội (Eagly và Chaiken 1993; Olson và Zanna 1993; Sheppard, Hartwick và Warshaw 1988). Thuyết TRA được thiết kế dựa trên giả định rằng con người thường hành động một cách hợp lý, họ xem xét các thông tin có sẵn xung quanh và những hậu quả từ hành động của họ. Theo TRA, yếu tố quyết định hành vi là ý định thực hiện hành vi đó.
Ý định là trạng thái nhận thức ngay trước khi thực hiện hành vi; là một yếu tố dẫn đến thực hiện hành vi. Vì thế, ý định hành vi (Behavior Intention - BI) là yếu tố quan trọng nhất dự đoán hành vi và chịu ảnh hưởng bởi hai yếu tố là thái độ đối với hành vi (Attitude 5 Toward Behavior - AB) và tiêu chuẩn chủ quan (Subjective Norm - SN), đóng vai trò như các chức năng để một người dẫn đến thực hiện hành vi. Ajzen và Fishbein định nghĩa thái độ đối với một hành vi cụ thể là cảm xúc tích cực/tiêu cực của người tiêu dùng đến việc thực hiện hành vi đó, thái độ của người dùng đến 1 hành vi (A) có thể được đo lường bằng tổng của niềm tin về một hệ quả (bj) khi thực hiện hành vi đó và sự đánh giá (ei) nhìn nhận hệ quả đó được trình bày qua công thức sau: ∑(bj×ei) Cũng như với biến chuẩn mực chủ quan, tác giả giải thích nó là hành vi của một người khi những người thân xung quanh nghĩ rằng người đó không nên thực hiện hành vi đó. Hai nhà nghiên cứu trên cũng bổ sung thêm rằng chuẩn mực chủ quan được xác định bằng tổng niềm tin chủ quan của một người (nbj), khi niềm tin này được dự đoán từ một cá nhân hay một nhóm, và động lực hướng tới thực hiện hành vi của người đó (mci).
Công thức sau được đưa ra để đo lường được chuẩn mực chủ quan tác động thế nào đến hành vi thật sự: SN =∑(nbi×mci) Qua 2 công thức trên, ý định hành vi (BI) của một người có thể được tính toán bằng cách sử dụng công thức phía dưới, với A là thái độ đối với hành vi và SN là chuẩn mực chủ quan BI=A+SN Ý định của cá nhân để thể hiện hành vi là sự kết hợp giữa thái độ nhằm thực hiện hành vi và chuẩn chủ quan. Trong đó, thái độ (Attitude Toward Behavior) là yếu tố cá nhân thể hiện niềm tin tích cực hay tiêu cực, đồng tình hay phản đối của một người đối với hành vi và sự đánh giá đối với kết quả của hành vi đó. Và tiêu chuẩn chủ quan (Subjective Norms) là nhận thức, suy nghĩ về những người ảnh hưởng (có quan hệ gần gũi với người có ý định thực hiện hành vi) cho rằng nên thực hiện hay không nên thực hiện hành vi (Ajzen 1991, tr. Thuyết hành động hợp lý (TRA) mở ra đường lối và phát triển cho các nghiên cứu nổi tiếng sau này về hành vi người tiêu dùng như: Thuyết hành vi có hoạch định (TPB), Môhình chấp nhận công nghệ (TAM),.
Được Ajzen và Fishbein xây dựng và phát triển vào năm 1967 và được mở rộng năm 1975.1: Mô hình thuyết hành động hợp lý - (TRA) Thuyết hành vi hoạch định - Theory of Planned Behaviour (TPB): Trên cơ sở thuyết hành động hợp lý của Ajzen và Fishbein (1975), Ajzen (1991) phát triển Thuyết hành vi hoạch định (Theory of Planed Behavior - TPB) để làm rõ hơn hành vi con người trong một bối cảnh cụ thể. Thuyết hành vi này cho phép dự đoán cả những hành vi không hoàn toàn điều khiển được với giả định một hành vi có thể được dự báo hoặc được giải thích bởi ý định để thực hiện hành vi đó (Kolvereid 1996). Theo TPB, ý định là nhân tố động cơ dẫn đến hành vi và được định nghĩa như là mức độ nỗ lực cá nhân để thực hiện hành vi. Động cơ hay ý định là tiền đề gần nhất của hành vi và được dẫn dắt bởi 3 yếu tố cơ bản là “Thái độ”; “Chuẩn chủ quan” và “Nhận thức kiểm soát hành vi”.
Lý thuyết này sử dụng thái độ người tiêu dùng, nhận thức kiểm soát hành vi và chuẩn mực chủ quan để ảnh hưởng đến ý định hành vi của một người và từ đó dẫn đến hành động thật sự. Trong một số trường hợp, nếu một người có cảm xúc, thái độ tiêu cực và không điều khiển được hành vi, hành động nào đó sẽ dẫn đến việc lưỡng lự trong thực hiện hành vi, hành động đó. Bổ sung thêm, nếu như việc số đông không tán thành hoặc không chấp nhận hành động đó thì điều này sẽ tác động âm đến ý định thực hiện hành động của người đó.2: Mô hình thuyết hành vi hoạch định (TPB) 2. Tổng quan các nghiên cứu trước đây 2.
Các nghiên cứu trong nước Nguyễn Thị Minh Hương (2020) Nguyễn Thị Minh Hương nghiên cứu về “ Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi “ vào năm 2020. Các số liệu của nghiên cứu được thu thập từ 340 học sinh lớp 12 của 5 trường THPT tại Quảng Ngãi niên khóa 2019-2020. Bằng phương nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính, bài nghiên cứu đã chỉ ra được 5 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh bao gồm: (1) Điều kiện học tập, (2) Danh tiếng trường đại học, (3) Hoạt động truyền thông, (4) Yếu tố thuộc về bản thân học sinh và (5) Các cá nhân có ảnh hưởng. Dựa vào những khái niệm của Hossler và cộng sự ( 1989 ) và của Nguyễn Thị Kim Chi (2018), từ đó đưa ra khái niệm chính xác nhất về việc quyết định chọn trường đại học là gì?.