CHƯƠNG 1 TỔNG THUẬT VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. HIỆU QUẢ KINH DOANH 1. Khái niệm Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Trên góc độ này thì hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng về mặt chất lượng của sản phẩm đối với nhu cầu của thị trường.
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là chỉ tiêu rất quan trọng đối với các bên liên quan như cổ đông, ban giám đốc, chủ nợ, nhà cung cấp, người tiêu thụ… trong việc ra quyết định kinh doanh hoặc đầu tư. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được đo lường bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau trong các nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu của Hult và các cộng sự (2008) đánh giá cách thức đo lường hiệu quả hoạt động trong các nghiên cứu khoa học đã công bố về doanh nghiệp kinh doanh quốc tế, bao gồm các cấp độ tập đoàn, công ty và đơn vị kinh doanh chiến lược, cho thấy có ba tiêu chí đo lường hiệu quả hoạt động được sử dụng là hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh doanh hoặc hiệu quả tổng hợp. Theo giáo trình Phân tích tài chính [6] “Hiệu quả kinh doanh là xem xét hiệu quả sử dụng toàn bộ các phương tiện kinh doanh trong quá trình sản xuất, tiêu thụ.
Hiệu quả kinh doanh thể hiện sự tương quan giữa kết quả đầu ra với các nguồn lực đầu vào sử dụng trong quá trình hoạt động kinh doanh 6 của doanh nghiệp.” Để đạt hiệu quả kinh doanh cao, doanh nghiệp cần tối đa hóa các kết quả đầu ra trong điều kiện các nguồn lực hạn chế của mình. Hiệu quả kinh doanh thể hiện mối quan hệ tương đối giữa kết quả kinh doanh và phương tiện tạo ra kết quả nên chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh thường có dạng như công thức: Kết quả (lợi nhuận, doanh thu,…) Hiệu quả = Phương tiện (chi phí, tài sản, doanh thu,…) 1. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh doanh Kết quả nghiên cứu của Hult và các cộng sự [11] cũng cho thấy đa số các nghiên cứu (chiếm 44.8%) tập trung khảo sát với số liệu ở cấp độ công ty và sử dụng chỉ tiêu tài chính để đo lường hiệu quả. Việc đo lường hiệu quả hoạt động có thể bị tác động bởi mục tiêu của công ty mà mục tiêu này có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn cách đo lường hiệu quả hoạt động của công ty và sự phát triển của thị trường chứng khoán và thị trường vốn.
Ví dụ, nếu thị trường chứng khoán không phát triển cao và các hoạt động lúc đó chỉ tiêu đo lường theo giá trị thị trường không cung cấp một thông tin chính xác. Các biến đại diện cho hiệu quả hoạt động phổ biến là lợi nhuận trên tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) hoặc lợi nhuận trên đầu tư (ROI). Những đo lường hiệu quả hoạt động theo kế toán này đại diện cho các chỉ số tài chính thu được từ bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập đã được sử dụng bởi nhiều nhà nghiên cứu, ví dụ, Mehran (1995), và Ang, Cole & Line (2000). Ngoài ra, còn có các đo lường hiệu quả hoạt động khác được gọi là đo lường hiệu quả hoạt động thị trường, chẳng hạn như giá mỗi cổ phiếu với thu nhập trên mỗi cổ phiếu (P/E), tỷ số giá thị trường của vốn chủ sở hữu trên giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu (MBVR), và Tobin Q.
Hai đo lường dựa vào số liệu kế toán, ROA và ROE và ba chỉ tiêu hoạt động thị trường là P/E, MBVR, và Q. Tobin được sử dụng như là chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả hoạt động của 7 công ty. Hiệu quả hoạt động đo lường bằng ROA và ROE thường được sử dụng nhiều nhất. Nhược điểm lớn nhất của chỉ số ROE là nó có thể dễ dàng bị bóp méo bởi các hành động quản trị lợi nhuận của nhà quản trị doanh nghiệp.
Ví dụ, nhà quản trị có thể dự đoán được vì một lý do gì đó mà lợi nhuận của doanh nghiệp có khả năng bị ảnh hưởng và suy giảm nên doanh nghiệp sẽ tăng đầu tư vào dư nợ hoặc mua lại cổ phiếu từ nguồn tiền mặt tích trữ, và chính những hoạt động này sẽ giúp doanh nghiệp cải thiện được đáng kể chỉ số ROE. Trong khi đó chỉ số ROA có tính đến số lượng tài sản được sử dụng để hỗ trợ các hoạt động kinh doanh. Chỉ số này xác định công ty có thể tạo ra một tỷ suất lợi nhuận ròng đủ lớn trên những tài sản của mình. Không giống ROE, đo lường tỷ suất sinh lợi của tài sản ROA bao gồm tất cả các loại tài sản của một doanh nghiệp, nghĩa là tổng tài sản được sử dụng chứ không phải là tài sản thuần (bao gồm vốn cổ đông, vốn hình thành từ lợi nhuận để lại, vốn chênh lệch do phát hành cổ phiếu ra công chúng cao hơn mệnh giá, các quỹ dự trữ phát triển dự phòng).
Ví dụ như lượng tiền mà doanh nghiệp có được do vay nợ sẽ được cân bằng với một trách nhiệm tương ứng với một khoản nợ phải trả. Chính vì vậy, chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi của tài sản được dùng đánh giá việc sử dụng toàn bộ số tiền được đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh mà không cần quan tâm đến nguồn gốc từ vay nợ hay từ vốn chủ sở hữu. Do đó, ROA thường đo lường theo lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Tuy nhiên, tùy thuộc vào từng ngành nghề kinh doanh khác nhau mà mức độ đầu tư vào tài sản mà doanh nghiệp cần sử dụng khác nhau.
Ví dụ như đối với các doanh nghiệp sản xuất thiết bị lớn như sản xuất ô tô thì cần một khối lượng tài sản hữu hình lớn trong khi đó một doanh nghiệp quảng cáo hay sản xuất phần mềm máy tính chỉ cần một lượng thiết bị tối thiểu và do đó có thể tạo ra được tỷ suất ROA cao hơn. Tuy nhiên trong trường hợp kinh doanh 8 thất bại, các doanh nghiệp có nhiều tài sản hữu hình lớn có thể chuyển đổi thành tiền trong khi một doanh nghiệp sử dụng chủ yếu là các tài sản trí tuệ sẽ gặp nhiều khó khăn. Do đó mặc dù chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) làm cho công việc phân tích cơ bản trở nên dễ dàng hơn, giúp nhà đầu tư nhận ra cơ hội cổ phiếu tốt và giảm thiểu những rủi ro có thể xảy ra nhưng việc sử dụng chỉ tiêu nên áp dụng trong việc so sánh đánh giá các doanh nghiệp trong cùng một ngành nghề kinh doanh. Như vậy, kết hợp việc so sánh giữa các chỉ tiêu tài chính và đặc điểm của dữ liệu thu thập (tính sẵn có của báo cáo tài chính, thị giá cổ phiếu chịu ảnh hưởng nhiều bởi tâm lý nhà đầu tư), chỉ tiêu tỷ suất sinh lời tài sản (ROA) phù hợp nhất để tính toán và so sánh hiệu quả kinh doanh giữa các chủ thể khác nhau về thời gian, không gian.
- Công thức xác định: Lợi nhuận trước thuế (hoặc sau thuế) ROA = x 100% Tổng tài sản bình quân Thông thường, ROA đo lường theo lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Chỉ tiêu này phản ánh cứ 100 đồng đầu tư vào tài sản thì mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Các nghiên cứu trên thế giới - Bài nghiên cứu “An empirical study on relationship between corporation performance and capital structure” của Wei Xu và các cộng sự (2005).
Dữ liệu nghiêu cứu gồm 1.300 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Thượng Hải ngoại trừ các công ty hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính như ngân hàng, bảo hiểm, công ty tài chính. Wei Xu và các cộng sự đã nghiên cứu tác động của biến tỷ lệ nợ và một 9 số biến khác đến biến quả kinh doanh, trong đó họ xây dựng 3 mô hình: quan hệ tuyến tính, quan hệ phi tuyến bậc 2 và quan hệ phi tuyến bậc 3. Các biến được đưa vào mô hình nghiên cứu bao gồm: biến phụ thuộc là tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) và các biến độc lập là tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu, tốc độ tăng trưởng của tổng tài sản, quy mô công ty. Kết quả nghiên cứu ở cả 3 mô hình cho thấy hiệu quả kinh doanh bị tác động rất lớn bởi biến tỷ lệ nợ, biến tốc độ tăng trưởng không có tác động đến hiệu quả kinh doanh.
Biến quy mô công ty tác động khá mạnh ở mô hình tuyến tính, còn mô hình phi tuyến thì không có tác động đến hiệu quả kinh doanh. - Bài nghiên cứu “Capital structure and corporate performance: evidence from Jordan” trong Autralasian Accounting Business and Finance Journal của 2 tác giả Zeitun và Tian (2007) đã thực hiện nghiên cứu các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh và giá trị thị trường của doanh nghiệp. Dữ liệu nghiên cứu được thực hiện từ năm 1989 – 2003 của 167 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Amman – Jordan thuộc 16 ngành nghề kinh doanh khác nhau trong lĩnh vực phi tài chính. Trên phương diện tài chính, biến hiệu quả kinh doanh được đại diện bởi chỉ số: tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA).
Trên phương diện thị trường, biến hiệu quả kinh doanh được đại diện bởi các chỉ số: tỷ số giữa giá trị thị trường của vốn cổ phần và giá trị sổ sách của nợ trên giá trị sổ sách của tổng tài sản (Tobin’s Q); tỷ số giữa giá trị thị trường của vốn cổ phần trên giá trị sổ sách của vốn cổ phần (MBVR). Biến độc lập cũng tương tự như nghiên cứu của Wei Xu và có đưa thêm một số biến vào mô hình như: mức sai lệch của dòng tiền trong 3 năm qua, thuế thu nhập, tỷ trọng tài sản cố định, khủng hoảng chính trị và ngành nghề kinh doanh. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nợ, cấu trúc tài sản có mối quan hệ nghịch 10 chiều tới ROA. Ngược lại quy mô doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng của tổng tài sản và thuế có mối quan hệ ảnh hưởng thuận chiều tới ROA.
Nhân tố khả năng thanh toán không có ý nghĩa thống kê tới mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến ROA của các doanh nghiệp.