CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ðẾN CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ GỬI TIẾT KIỆM NGÂN HÀNG 1. Khái niệm dịch vụ Có nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ và luận văn chỉ trình bày các khái niệm phổ biến như sau: Theo quan ñiểm kinh tế học, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng ñể ñáp ứng nhu cầu của khách hàng và ñem lại lợi nhuận cho người cung cấp. Theo Zeithaml & Bitner (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào ñó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong ñợi của khách hàng. Theo Philip Kotler và Armstrong (2004), dịch vụ là những hoạt ñộng hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng Theo Philip Kotler, dịch vụ là mọi hành ñộng và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn ñến quyền sở hữu.
Dịch vụ có thể có hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất. Một cách tổng quát, dịch vụ là toàn bộ các hoạt ñộng trong suốt quá trình mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tiếp xúc nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng cũng như tạo ñược giá trị cho khách hàng. ðặc tính dịch vụ Dịch vụ có các ñặc ñiểm cơ bản là vô hình, không ñồng nhất, không thể tách rời và không thể lưu trữ. Chính ñiều này làm dịch vụ khó ñịnh lượng và không thể nhận dạng bằng mắt thường.
Tính vô hình Dịch vụ không thể nhìn thấy ñược, không nghe thấy ñược, không ngửi thấy ñược trước khi người ta mua chúng. Vì lý do là vô hình nên sẽ rất khó khăn trong việc ñánh giá chất lượng dịch vụ. Khách hàng có thể sẽ ñánh giá chất lượng dịch vụ từ các yếu tố như ñịa ñiểm, con người, trang thiết bị, tài liệu, thông tin, giá cả… b. Tính không ñồng nhất Dịch vụ có tính không ñồng nhất, còn ñược gọi là tính khác biệt của dịch vụ, ñặc biệt ñối với những dịch vụ bao hàm sức lao ñộng con người cao thì tính không ñồng nhất càng rõ nét.
Việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, lĩnh vực dịch vụ, người phục vụ, thời gian, ñối tượng và ñịa ñiểm phục vụ… Theo Caruana và Pitt, (1997) thì việc ñòi hỏi chất lượng dịch vụ ñồng nhất từ ñội ngũ nhân viên là rất khó ñảm bảo. Tính không thể tách rời Tính không thể tách rời của dịch vụ thể hiện ở việc không thể phân chia thành giai ñoạn sản xuất và giai ñoạn tiêu thụ ñối với nhiều loại hình dịch vụ. ðặc thù của dịch vụ là ñược sản xuất và tiêu thụ cùng một lúc, ñiều này dẫn ñến các ñiểm khác biệt sau của dịch vụ:Người sản xuất hay người cung cấp dịch vụ và người bán thường là một, người cung cấp và người tiêu dùng thường gặp gỡ nhau tại một ñịa ñiểm và việc giao nhận dịch vụ thường không tách rời sự hiện diện của người tiêu dùng. Tính không lưu giữ ñược Dịch vụ không thể ñược sản xuất, lưu kho rồi ñem bán như hàng hóa thông thường.
ðặc ñiểm này dẫn ñến khó khăn cho các nhà cung cấp dịch vụ, ñó chính là phải tố chức cung ứng dịch vụ như thế nào ñể ñáp ứng với nhu cầu thường xuyên biến ñộng của dịch vụ. Mức cầu dịch vụ ở những giờ cao 10 ñiểm hay thời gian cao ñiểm luôn luôn cao, trong khi dịch vụ không thể ñược lưu kho ñể ñược tung ra với số lượng lớn như hàng hóa. Bởi vậy, các hãng dịch vụ cần nỗ lực tìm mọi cách ñể ñiều hành sản xuất kinh doanh hợp lý nhằm phục vụ khách hàng một cách tốt nhất. DỊCH VỤ GỬI TIẾT KIỆM 1.
Khái niệm dịch vụ ngân hàng Hiện nay có nhiều quan ñiểm khác nhau về dịch vụ ngân hàng, tuy nhiên vẫn chưa có một khái niệm chung nào về dịch vụ ngân hàng. Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2010quy ñịnh: “Hoạt ñộng ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau ñây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản” với “Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán, thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng”. Như vậy, theo cách hiểu Luật các TCTD, dịch vụ ngân hàng là các dịch vụ thanh toán qua tài khoản, không bao gồm nhận tiền gửi và cấp tín dụng. Một số ý kiến khác cho rằng các hoạt ñộng sinh lời của NHTM ngoài hoạt ñộng tín dụng thì ñược gọi là hoạt ñộng dịch vụ.
Quan ñiểm này phân ñịnh rõ hoạt ñộng tín dụng-loại hoạt ñộng chủ ñạo trong thời gian qua của hệ thống NHTM với hoạt ñộng phi tín dụng-loại hoạt ñộng mới bắt ñầu phát triển tại Việt Nam. Tuy nhiên tại Việt Nam vẫn có không ít quan niệm cho rằng tất cả các hoạt ñộng ngân hàng phục vụ cho doanh nghiệp và công chúng ñều là dịch vụ ngân hàng. Trong phạm vi của ñề tài, dịch vụ ngân hàng ñược hiểu theo nghĩa là một bộ phận của dịch vụ tài chính, dịch vụ ngân hàng bao gồm toàn bộ các 11 hoạt ñộng nghiệp vụ mà các ngân hàng cung ứng nhằm phục vụ khách hàng. Dịch vụ gửi tiết kiệm a.
Khái niệm dịch vụ gửi tiết kiệm Dịch vụ gửi tiết kiệm là một trong những dịch vụ ngân hàng truyền thống và ñược sử dụng hết sức rộng rãi hiện nay. Có thể khái niệm dịch vụ gửi tiết kiệm như sau: Dịch vụ gửi tiết kiệm ngân hàng là một hình thức giữ hộ tài sản mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng, và ngân hàng phải trả một khoản lãi tương ứng với giá trị tài sản và kỳ hạn gửi của khách hàng. Trong suốt quá trình gửi tiết kiệm, ngân hàng phải ñảm bảo tính bảo mật thông tin và tính an toàn của tài sản khách hàng. Tài sản ñể gửi tiết kiệm có thể là tiền mặt, vàng… tuy nhiên, hình thức gửi tiết kiệm bằng tiền là phổ biến nhất, do ñó, khái niệm dịch vụ gửi tiết kiệm ñược ñề cập ñến trong luận văn là dịch vụ gửi tiết kiệm bằng tiền.
ðặc ñiểm dịch vụ gửi tiết kiệm Dịch vụ gửi tiết kiệm ngân hàng có các ñặc ñiểm cơ bản sau: Thứ nhất, dịch vụ gửi tiết kiệm ngân hàng là một trong những dịch vụ ngân hàng truyền thống, do ñó dịch vụ gửi tiết kiệm có tính phổ biến và tính ña dạng cao. Thật vậy, tất cả các NHTM ñều có dịch vụ gửi tiết kiệm và ñể nâng cao tính cạnh tranh, thu hút khách hàng thì ở mỗi NHTM khác nhau ñều bổ sung thêm các ñặc tính, các hình thức riêng ñối với dịch vụ gửi tiết kiệm, do ñó, không phải tất cả các loại hình dịch vụ gửi tiết kiệm ñều ñồng dạng ñối với tất cả các NHTM. Thứ hai, dịch vụ gửi tiết kiệm có tính bảo mật cao. Ngân hàng cam kết không tiết lộ thông tin về tiền gửi của khách hàng cho bên thứ ba biết, trừ trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu hoặc ñể giải quyết thủ tục thừa kế.
Thứ ba, dịch vụ gửi tiết kiệm có tính an toàn cao, giúp bảo toàn tối ña 12 tài sản của khách hàng và là một trong những hình thức ñầu tư an toàn ñối với khách hàng. Vai trò dịch vụ gửi tiết kiệm Dịch vụ gửi tiết kiệm có vai trò quan trọng ñối với khách hàng, cụ thể dịch vụ gửi tiết kiệm là kênh ñầu tư an toàn trong danh mục ña dạng các kênh ñầu tư của khách hàng. Bên cạnh ñó, dịch vụ gửi tiết kiệm còn ñóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt ñộng huy ñộng vốn của NHTM, và là hình thức huy ñộng vốn chính của các ngân hàng. Với ñiều kiện nước ta hiện nay, các hoạt ñộng chính của NHTM vẫn là hoạt ñộng huy ñộng vốn và hoạt ñộng tín dụng thì dịch vụ gửi tiết kiệm-hình thức huy ñộng vốn chính của NHTM ñóng vai trò quyết ñịnh ñến cả sự hoạt ñộng ổn ñịnh và lợi nhuận của NHTM.
Không những vậy, dịch vụ gửi tiết kiệm còn ñóng vai trò quan trọng trong việc làm giảm lượng tiền mặt tích trữ trong dân chúng, ñưa tiền vào lưu thông và qua ñó góp phần làm tăng hiệu quả của các công cụ, các chính sách mà NHNN dùng ñể ñiều tiết nền kinh tế vĩ mô. CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 1. Khái niệm chất lượng dịch vụ Có nhiều khái niệm khác nhau về chất lượng dịch vụ tùy thuộc vào môi trường nghiên cứu và ñối tượng nghiên cứu. Các khái niệm và cách ñánh giá về chất lượng dịch vụ như sau: Lehtinen & Lehtinen (1982) cho là chất lượng dịch vụ phải ñược ñánh giá trên hai khía cạnh: quá trình cung cấp dịch vụ và kết quả của dịch vụ.
Theo Lewis và Boom (1983), chất lượng dịch vụ có thể ñược ñịnh nghĩa là sự so sánh giữa kỳ vọng và cảm nhận của khách hàng về dịch vụ. Nếu như kết quả bằng hay cao hơn kỳ vọng thì dịch vụ có chất lượng tốt và ngược lại nếu kết quả thực hiện dịch vụ nếu thấp hơn kỳ vọng thì dịch vụ có 13 chất lượng kém. ðồng tình với quan ñiểm này của Lewis và Boom, Parasuraman và cộng sự cũng cho rằng chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong ñợi về dịch vụ của khách hàng và nhận thức của họ khi ñã sử dụng qua dịch vụ. Mô hình nghiên cứu chất lượng dịch vụ của Parasuraman và cộng sự năm 1985 ño lường khoảng cách giữa sự mong ñợi và cảm nhận thực tế của khách hàng thông qua 10 nhân tố bao gồm: Tin cậy, ðáp ứng, Năng lực phục vụ, Tiếp cận, Truyền thông, Lịch sự, Tín nhiệm, An toàn, Hiểu biết về khách hàng và Phương tiện hữu hình.
ðến năm 1988, Parasuraman và cộng sự ñã ñưa ra mô hình mới nghiên cứu chất lượng dịch vụ với 5 nhân tố: Tin cậy, Cảm thông, ðảm bảo, Khả năng ñáp ứng và Phương tiện hữu hình, mô hình ñược ñặt tên là SERVQUAL. Theo Cronin và Taylor (1992), chất lượng dịch vụ ñược ñánh giá chỉ thông qua nhận thức của khách hàng mà không có sự ñánh giá về chất lượng dịch vụ trong sự kỳ vọng của khách hàng.