CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH 1. Khái niệm về cấu trúc tài chính Xuất phát từ nhiều góc độ, mục đích và phương pháp tiếp cận khác nhau, do đó, cho đến nay đã có khá nhiều khái niệm khác nhau về cấu trúc tài chính doanh nghiệp: Theo tác giả Trương Bá Thanh và Trần Đình Khôi Nguyên, cấu trúc tài chính hiểu theo nghĩa rộng, là: “Cấu trúc tài chính phản ánh cấu trúc nguồn vốn, cấu trúc tài sản và mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp” [9, tr. Các tác giả người Pháp Marc Bertonèche và J.
Teulie (1976) thì định nghĩa, “cấu trúc tài chính của doanh nghiệp là quan hệ tỷ lệ nợ và vốn chủ sở hữu phục vụ cho quá trình tài trợ của doanh nghiệp, còn cấu trúc vốn được hiểu là quan hệ tỷ lệ giữa nợ trung, dài hạn và vốn chủ sở hữu”.196] Chi tiết hơn, tác giả Horne V. (1998) cho rằng, “cấu trúc tài chính là cấu trúc tài trợ của doanh nghiệp, trong đó, bao gồm các khoản phải trả, nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, vốn chủ sở hữu”. [22] Mặc dù chưa có sự thống nhất trong định nghĩa về cấu trúc tài chính doanh nghiệp, song có thể hiểu, cấu trúc tài chính là cơ cấu nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động để tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp mình. Với các khái niệm trên về cấu trúc tài chính, đã phần nào chỉ ra được cách thức mà doanh nghiệp tìm kiếm nguồn tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp bằng cách kết hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu.
Luan van 12 Nợ ngắn hạn Nợ trung và dài hạn Cấu trúc tài chính Cấu trúc vốn Vốn chủ sở hữu 1. Các thành phần của cấu trúc tài chính Cấu trúc tài chính của một doanh nghiệp gồm 2 thành phần: nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. - Nợ phải trả: Là nghĩa vụ hiện tại của đơn vị phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua mà đơn vị phải thanh toán từ nguồn lực của mình. Trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp thì nợ phải trả bao gồm khoản phải trả ngắn hạn và dài hạn.32] Trong đó, nợ phải trả ngắn hạn là một khoản nợ phải trả được xếp vào loại nợ ngắn hạn, khi các khoản nợ này được dự kiến thanh toán trong một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp hoặc được thanh toán trong vòng 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm.
Các khoản nợ ngắn hạn có ba thành phần chính đó là: + Vay và nợ ngắn hạn: Đối tượng cho vay thường là các ngân hàng thương mại, khoản nợ này luôn có chi phí sử dụng vốn đi kèm, thời hạn sử dụng gắn liền với hợp đồng tín dụng từ ngân hàng và các đối tượng khác. + Nợ các nhà cung cấp: Khoản nợ này hình thành khi doanh nghiệp mua hàng trả chậm, chưa thanh toán cho người bán. Đây được xem là khoản nợ không tốn chi phí sử dụng vì doanh nghiệp chỉ hoàn trả nợ gốc không kèm lãi. Tuy nhiên, trên thực tế các nhà cung cấp khi cung cấp sản phẩm hàng hóa dịch vụ cho khách hàng đều đã tính toán cả phần chi phí bị chiếm dụng vốn này vào sản phẩm.
Do đó, giá mua hàng trả chậm thường cao hơn so với giá Luan van 13 hàng trả ngay. Để quyết định sử dụng nguồn này, doanh nghiệp cần cân nhắc, tính toán cẩn thận chi phí thực tế. + Nợ các đối tượng khác: Các đối tượng khác ở đây là Nhà nước (thuế), người lao động (tiền lương), nợ bảo hiểm xã hội,… Các khoản nợ này có đặc điểm là thường biến đổi cùng với quy mô hoạt động của doanh nghiệp, thường liên quan đến luật pháp và chi phí sử dụng vốn coi như không phát sinh nhưng doanh nghiệp ít khi chiếm dụng nguồn này. Nợ phải trả dài hạn, là những khoản nợ có thời hạn thanh toán trên một năm hoặc trên một chu kỳ kinh doanh bình thường.
Nợ dài hạn bao gồm: Vay dài hạn cho đầu tư phát triển, nợ phải trả nhà cung cấp dài hạn, trái phiếu phát hành, các khoản nhận ký quỹ, ký cược dài hạn, thuế thu nhập hoãn lại phải trả, quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm, dự phòng phải trả dài hạn. Về nguyên tắc, sử dụng nguồn tài trợ này có chi phí sử dụng vốn cao hơn so với sử dụng nợ ngắn hạn. Tuy nhiên, doanh nghiệp ít chịu áp lực trong thanh toán hơn. - Vốn chủ sở hữu: Là phần vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp.
Đây là nguồn vốn mà doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán. Các thành phần của vốn chủ sở hữu bao gồm: Vốn góp của chủ sở hữu và lợi nhuận giữ lại. +Vốn góp của chủ sở hữu: Là toàn bộ số vốn góp của chủ sở hữu vào đơn vị như: Vốn đầu tư của nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước; vốn góp của các cổ đông đối với công ty cổ phần; vốn góp của các bên liên quan; vốn góp của các thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn; vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân. - Lợi nhuận giữ lại: Là số lợi nhuận còn lại sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho nhà nước và chia cho các chủ sở hữu, được giữ lại để tích lũy bổ sung vốn chủ sở hữu.
Các chỉ tiêu của đo lường cấu trúc tài chính - Tỷ lệ nợ Trong chỉ tiêu trên, nợ phải trả bao gồm nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và nợ khác. Tỷ lệ nợ phản ánh mức độ tài trợ tài sản của doanh nghiệp bởi các khoản nợ. Tỷ lệ nợ càng cao phản ánh mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp càng lớn, tính tự chủ của doanh nghiệp càng thấp và khả năng tiếp nhận các khoản vay nợ càng khó một khi doanh nghiệp không thanh toán kịp thời các khoản và hiệu quả hoạt động kém. Đối với chủ nợ, tỷ lệ này càng cao thì khả năng thu hồi vốn cho vay – nợ càng ít vì trên thực tế luôn có sự tách rời giữa giá lịch sử của tài sản với giá hiện hành.
Do vậy, các chủ nợ thường thích những doanh nghiệp có tỷ lệ nợ thấp. Đây là một trong những chỉ tiêu để nhà đầu tư đánh giá rủi ro và quyết định đầu tư vào doanh nghiệp. - Tỷ lệ nợ ngắn hạn Tỷ lệ nợ ngắn hạn phản ánh mức độ tài trợ tài sản của doanh nghiệp bởi các khoản nợ ngắn hạn (khoản nợ có thời hạn thanh toán dưới 12 tháng). Tỷ lệ này càng cao thì doanh nghiệp phải chịu áp lực thanh toán trong ngắn hạn càng cao.
- Tỷ lệ nợ dài hạn Tỷ lệ nợ dài hạn phản ánh tài sản của doanh nghiệp được tài trợ bằng các khoản vay và nợ trên một năm. Tỷ lệ này giảm dần qua các năm cho thấy công ty đang dần ít phụ thuộc vào nợ để phát triển doanh nghiệp của họ. Mối quan hệ giữa cấu trúc tài chính và giá trị doanh nghiệp Một trong những vấn đề làm đau đầu các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp là xây dựng cấu trúc tài chính của doanh nghiệp như thế nào, vốn chủ sở hữu bao nhiêu, nợ bao nhiêu để có thể tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, hay còn gọi là xây dựng cấu trúc vốn tối ưu. Một cấu trúc vốn tối ưu được định nghĩa là một cấu trúc vốn trong đó, chi phí sử dụng vốn bình quân nhỏ nhất và giá trị doanh nghiệp đạt lớn nhất.
Như vậy, cấu trúc vốn có mối quan hệ mật thiết với giá trị của doanh nghiệp, một doanh nghiệp có cấu trúc vốn hợp lý sẽ làm cho giá trị của doanh nghiệp tăng lên và ngược lại. Quyết định cấu trúc tài chính là một trong những quyết định trọng tâm quan trọng mà các giám đốc tài chính phải quan tâm. Trước hết, hầu như chắc chắn rằng các thay đổi trong cấu trúc tài chính sẽ dẫn đến sự thay đổi trong giá trị thị trường của doanh nghiệp. Thứ hai, lợi ích của tấm chắn thuế từ nợ dẫn đến giá trị doanh nghiệp gia tăng, ít nhất là đến điểm mà chi phí đại diện và chi phí phá sản gia tăng làm bù trừ lợi thế về thuế của nợ vay.
Thứ ba, khi các giám đốc thực hiện các thay đổi thể hiện trong cấu trúc tài chính của doanh nghiệp, các hành động này sẽ chuyển các thông tin quan trọng đến các nhà đầu tư. Có thể hình dung là giá trị của doanh nghiệp khi vay nợ sẽ bằng giá trị của doanh nghiệp không vay nợ cộng với hiện giá của lá chắn thuế từ nợ. Trong trường hợp đặc biệt, khi doanh nghiệp vay nợ hoàn toàn thì hiện giá của tấm chắn thuế sẽ bằng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp nhân với nợ vay. Hiểu được vai trò của cấu trúc vốn tối ưu sẽ giúp các doanh nghiệp xây dựng một cấu trúc vốn thích hợp với đặc điểm tính chất ngành, bối cảnh của Luan van 16 nền kinh tế và những đặc trưng riêng của doanh nghiệp, vì vậy sẽ nâng cao giá trị doanh nghiệp, cụ thể là tối đa hóa giá trị cổ phần mà các cổ đông đang nắm giữ.
CÁC LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH 1. Lý thuyết về cấu trúc tài chính theo quan điểm truyền thống Theo quan điểm truyền thống về cấu trúc tài chính, khi bắt đầu vay mượn, doanh nghiệp sẽ gặp thuận lợi vượt trội hơn so với bất lợi. Bởi, với ưu điểm là tận dụng được lá chắn thuế, việc sử dụng nợ sẽ rẻ hơn so với vốn chủ sở hữu, từ đó làm cho chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC) của doanh nghiệp giảm nếu tỷ lệ sử dụng nợ tăng lên. Công thức sau sẽ giải thích cụ thể hơn vấn đề này [42]: WACC = + Trong đó: E: Giá trị vốn chủ sở hữu D: Giá trị nợ phải trả rE : Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu rD : Chi phí sử dụng nợ phải trả T : Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp Vấn đề đặt ra là nếu lợi ích của việc sử dụng nợ vay quá rõ ràng như vậy thì sao doanh nghiệp không sử dụng 100% nợ vay để tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp mình ?.