mở đầu cho mùa vụ, ngày vui tươi hạnh phúc nhất trong năm, đối với thanh niên nam, nữ coi đây là dịp để trao đổi, tâm sự, hẹn hò…Những lễ hội này có ảnh hưởng lớn từ đạo Bà La Môn. Cho đến nay, khi các lễ hội trong năm đã cắt bớt đi nhiều, bởi lẽ Phật giáo Tiểu thừa đã trở thành “môi trường sống” cho bất cứ người Khmer nào. Họ có thể đem của cải của mình cúng vào chùa, bởi họ quan niệm dâng một thì sẽ được gấp mười nên khi có điều kiện, họ trích một số lớn để cũng dường để tỏ thành tâm. Họ không sợ nghèo đói, chỉ sợ chết không được hỏa thiêu để đem tro vào chùa ở cạnh Đức Phật.
Bởi thế, tâm lý chúng của người Khmer là thích sống đơn giản, không muốn tranh giành, nghe và tin những gì thấy trước mắt, ghét ba hoa, trừu tượng. Họ rất cần cù, mộc mạc, giỏi chịu đựng gian khổ, khi họ đã tin cậy ai thì người đó nói gì họ cũng nghe. Họ có một tinh thần tự túc, tương trợ lẫn nhau, những việc cất nhà, cưới hỏi, tang lễ thường nhận được sự giúp đỡ của hàng xóm” [15, tr 33]. Tuy nhiên, đôi khi ta vẫn bắt gặp những triết lý về nhân sinh, những tín ngưỡng dân gian thể hiện qua các tác phẩm văn xuôi thì lại in đậm tư tưởng của Ấn Độ giáo.
Như trên đã nói, nền văn hóa Ấn cung cấp nguồn để tài cho văn hóa nghệ thuật Khmer. Những yếu tố văn hóa Ấn đặc biệt quan trọng trong các loại hình nghệ thuật Khmer là: Bà-la-môn, mà tín ngưỡng Civa là cơ sở tôn giáo; sử thi Ramayana và Mahabharata cung cấp đề tài, ca ngợi đức tính của giai cấp thống trị và thể thức múa 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ấn … [43, tr. Vì thế khi tìm hiểu các vấn đề có liên quan đến văn hóa dân tộc Khmer, phải thừa nhận Phật giáo tiểu thừa có tác động sâu sắc đến tất cả những lệ tục trong cuộc đời mỗi con người Khmer, nhưng cũng nên lưu ý cuội nguồn sâu xa của tín ngưỡng tôn giáo Bà La Môn trong tâm thức và quan niệm về cuộc sống của họ. Thế nên, cho dù Phật giáo Tiểu thừa đã trở thành một “môi trường sống” cho bất cứ người Khmer nào nhưng những triết lí về nhân sinh, những tín ngưỡng dân gian vẫn còn in đậm tư tưởng của Ấn Độ giáo.
Các khái niệm thần “Neak tà”, “Mahaprum”, quỷ “Reahu”, chim “Krut”, tiên thần “Krây-no” đều có nguồn gốc từ Bà La Môn giáo. Lấy một ví dụ: Cùng theo đạo Phật nhưng những người theo tu theo trường phái Đại thừa (người Kinh ở Việt Nam, người Hán ở Trung Quốc) thì quan niệm người chết là phải xuống âm phủ, đầu thai kiếp khác; chết là kết thúc một vòng đời để tiếp tục tái sinh ở một kiếp khác. Lý thuyết “luân hồi”, “nghiệp báo” là một trong những điều mà các tín đồ Phật giáo đại thừa vẫn thường nhắc nhở nhau. Ngược lại, người Khmer theo Phật giáo Tiểu thừa lại cho rằng: “linh hồn của người là linh hồn cá thể được sinh ra từ linh hồn vũ trụ (Brama) nên khi chết phải quay về với vũ trụ.
Chính vì vậy nên thân xác cần được hỏa thiêu để tiêu trừ tội lỗi, phần thân xác trần tục tiêu tan càng nhanh thì linh hồn càng mau chóng trở về với vũ trụ” [49, tr. Tín ngưỡng đậm chất Ấn Độ với các khái niệm Bản ngã (Brama) và Tiểu ngã (Atman) chìm sâu dưới tinh thần Phật giáo đã làm cho đời sống tâm thức của người Khmer Nam Bộ có những nét độc đáo riêng so với người Việt và người Hoa theo Phật giáo Bắc tông. Ngoài ra một trong những đặc điểm về văn hoá của người Khmer đáng lưu ý nữa là khuynh hướng biểu diễn và nghệ thuật tạo hình. Các điệu múa của người Khmer rất đa dạng và phổ biến.
Hầu như người Khmer nào cũng biết múa một vài điệu. Bởi thế mà khuynh hướng biểu diễn của một số môn nghệ thuật mang nhiều đặc điểm hoàn toàn độc đáo so với người Việt và người Hoa ở Nam Bộ. Về kiến trúc và điêu khắc, nghệ thuật tạo hình của những nghệ nhân Khmer mang một đặc điểm hoàn toàn độc đáo so với người Việt và người Hoa, đặc biệt là trong các ngôi chùa. Chùa Khmer dù lớn hay nhỏ, ở địa phương nào cũng có công trình kiến trúc rất công phu, có sự phối hợp bởi những đường nét nghệ thuật độc đáo và hài hòa thể hiện ý nghĩa sâu xa và thâm thúy của triết lý Phật giáo, minh họa những 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hình ảnh cổ xưa theo tín ngưỡng dân gian, đồng thời diễn tả những sinh hoạt của cộng đồng dân tộc Khmer.
Chùa Khmer thực sự là một sản phẩm văn hóa dân tộc gắn liền với cuộc sống của người Khmer qua nhiều thế kỷ cũng như trong hiện tại và góp phần vào công trình kiến trúc của các dân tộc ở vùng đất Tây Nam Bộ. Chúng tôi tìm hiểu và ghi nhận điều này thông qua các kiến trúc của các ngôi chùa trong từng “phum, sóc” của người Khmer như chùa Âng, chùa Dơi, chùa Ông Mẹt, chùa Bà Om. Nói một các khái quát thì toàn bộ đặc điểm văn hóa của người Khmer Nam Bộ có nhiều đặc trưng cơ bản, tác động đa chiều của nhiều tôn giáo đến tâm linh và tín ngưỡng, ảnh hưởng rộng tới từng lĩnh vực của đời sống, trong đó có nền văn học dân gian. Tóm lại, toàn bộ đặc điểm văn hoá của một tộc người không thể tóm lược trong một vài trang giấy.
Nhưng qua một vài đặc điểm văn hoá cũng có thể thấy được nét đặc trưng cơ bản của tộc người Khmer Nam Bộ. Những đặc trưng này có tác dụng sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống, trong đó có nền văn học dân gian nói chung, và thể loại ca dao dân ca nói riêng. Giới thuyết về khái niệm ca dao Ca dao dân ca là một bộ phận lớn trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Ca dao là khái niệm chỉ thể loại thơ ca trữ tình dân gian, diễn tả đời sống nội tâm con người.
Ca dao là một từ Hán Việt, theo từ nguyên, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu dùng để hát hoặc ngâm; dao là bài hát ngắn độ một vài câu. Theo cuốn Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, “thuật ngữ ca dao được dùng vời nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau. Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu. Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu.
Trong trường hợp này thì ca dao đồng nghĩa với dân ca” [12, tr 31 – 32]. Để phân loại ca dao dân ca, cuốn từ điển cũng dựa trên chức năng kết hợp với hệ thống đề tài thì chia thành ca dao ru con, ca dao tình yêu, ca dao tình cảm gia đình, ca dao than thân, ca dao trào phúng [12, tr 32]. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo cuốn Văn học dân gian Việt Nam do Đinh Gia Khánh (chủ biên), phần thể loại trữ tình dân gian cho Chu Xuân Diên biên soạn, ông cho rằng: “Trong sinh hoạt văn học dân gian có một bộ phận quan trọng là sinh hoạt ca hát…Người ta thường hay nghĩ đến việc diễn xướng ca dao, dân ca” [4, tr 410]. Bởi vậy, ông đưa ra khái niệm: “Dân ca là những bài hát và câu hát dân gian trong đó cả phần lời và phần giai điệu là một trong những đặc điểm ấy.
Song nói đến dân ca Việt Nam, không chỉ nói đến những bài, những câu hát nhất định, mà còn là nói đến những hình thức sinh hoạt dân ca nhất định nữa” [4, tr 411]. Cũng dựa trên cuốn sách này, chúng tôi có thêm chú ý khi tìm hiểu về đặc điểm và phân loại dân ca Việt Nam: lời ca (câu hay bài), giai điệu (giọng hoặc làn điệu), hình thức sinh hoạt (hay lề lối hát). Hay nói cách khác, khi phân tích ca dao dân ca phải chú ý tới mối quan hệ hữu cơ giữa nó với giai điệu và với một hệ thống câu hát hoặc bài hát nhất định. Từ đây, các tác giả đưa ra một cách phân loại ca dao dân ca dựa trên ba mảng màu cơ bản: Sinh hoạt lao động (quan hệ của con người với giới tự nhiên); Sinh hoạt gia đình và xã hội (quan hệ của con người với nhau); Sinh hoạt nghi lễ (quan hệ giữa con người với giới tự nhiên và giữa con người với các lực lượng siêu nhiên do trí tưởng tượng của chính con người tạo ra).
Bức tranh thứ nhất là sinh hoạt lao động, đặc điểm cơ bản của những bài ca ở đề tài này là: bằng cách tạo ra và tăng cường tính chất nhịp nhàng cho động tác lao động và có khi lại giúp con người nhận thức được những đặc điểm của quá trình lao động, những bài ca này có tác dụng làm giảm nhẹ sự mệt nhọc và gây ra sự phấn khích trong lao động. Bức tranh thứ hai về sinh hoạt gia đình và xã hội, có thể kể đến những khúc hát ru hay những lời răn dạy của ông ba cha mẹ dành cho con cháu, của vợ chồng dành cho nhau, của anh em trong gia đình nói với nhau…Hai bức tranh kể trên có thể coi là cơ sở chính cho sự phát triển của dân ca Việt Nam. Bức tranh thứ ba nói đến sinh hoạt nghi lễ. Khi đi vào phân tích các bài ca ở đề tài này, chúng ta cần nhấn mạnh yếu tố tôn giáo và văn hóa bản địa của mỗi dân tộc là khác nhau.
Có thể là nghi lễ trong lao động, những lễ tiết trong một năm, những nghi lễ trong một đời người (sinh đẻ, trưởng thành, đám hỏi, hôn lễ, ma chay…) hay nghi lễ 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tế thần. Mỗi dân tộc đều có một hình thức sinh hoạt nghi lễ riêng để thể hiện tập tục, truyền thống của mình. Ở luận văn này, chúng tôi sử dụng phương pháp liên ngành nhằm làm sáng rõ hơn nét riêng trong truyền thống của người Khmer Nam Bộ. Theo Nguyễn Xuân Kính, khi nghiên cứu ca dao dân ca, ta cần chú ý trước tiên ở việc xác định ranh giới giữa các thể loại.
Ông phân biệt cụ thể ca dao với tục ngữ, thành ngữ. Ông đã khảo sát được tục ngữ Việt cũng có nhiều câu được làm bằng thể thơ lục bát, đôi khi được gọi là ca dao vì ca dao thường được sáng tác theo thể thơ này.