Chương 1: TỔNG QUAN VỀ BIODIESEL 1. Diesel và động cơ diesel Dầu diesel là một loại nhiên liệu lỏng, sản phẩm tinh chế từ dầu mỏ có thành phần chưng cất nằm giữa dầu hoả (kesosene) và dầu bôi trơn (lubricating oil). Chúng thường có nhiệt độ bốc hơi từ 175oC đến 370oC. Các nhiên liệu Diesel nặng hơn, với nhiệt độ bốc hơi 315 đến 425 độ C còn gọi là dầu ma dút.
Dầu Diesel được đặt tên theo nhà sáng chế Rudolf Diesel, và có thể được dùng trong loại động cơ đốt trong mang cùng tên, động cơ Diesel [7].1 – Các thông số kỹ thuật của dầu Diesel Các chỉ tiêu chất lượng: - Tính tự cháy – tính chống kích nổ: Nếu dầu khó tự cháy sẽ gây cháy kích nổ, khó khởi động máy. Quá trình cháy có 2 trường hợp xảy ra: Cháy bình thường, cháy kích nổ. Nguyên nhân gây cháy kích nổ chính là do trong dầu có phân 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tử khó tự cháy (hoặc là phân tử có kích thước nhỏ hay phân tử có cấu trúc dày đặc). Chỉ tiêu đặc trưng cho tính chống kích nổ _ tính tự cháy của dầu là chỉ số xêtan C16H34.
Dầu có trị số xêtan càng cao thì càng dễ tự cháy có tính chống kích nổ càng cao. - Tính bay hơi thích hợp: Cũng giống như xăng, dầu DO chỉ có thể cháy khi đang ở dạng hơi. Bên cạnh đó sự cháy của dầu trong động cơ chỉ xảy ra dưới tác dụng của áp suất và nhiệt độ, cho nên dầu phải có tính bay hơi thích hợp. Dầu không loãng quá hay đặc quá - Độ nhớt thích hợp: Dầu DO sử dụng trong máy có 2 chức năng: đốt cháy sinh công và làm trơn bơm cao áp khi nó chảy bơm.
Do đó dầu phải có độ nhớt thích hợp để vừa dễ bay hơi, dễ tự cháy, cháy sinh nhiệt lượng cao và vừa bôi trơn bơm tốt. Độ nhớt thích hợp của dầu DO theo TCVN là 1,8 đến 5,0 cSt ở 20oC. - Nhiệt độ bắt cháy: Nhiệt độ bắt cháy là nhiệt độ cần thiết để hỗn hợp hơi nhiên liệu và không khí gặp tia lửa sẽ bùng cháy và tắt ngay. Nhiệt độ bắt cháy của dầu DO biểu thị khả năng bay hơi, khả năng gây cháy có thể xảy ra khi bảo quản, vận chuyển hoặc sử dụng nhiên liệu đó ở nơi kín gió.
Nhiệt độ bắt cháy của dầu DO thông thường không được nhỏ hơn 55-60oC, vì dễ đảm bảo trong khâu tồn trữ. - Không có tạp chất và nước: Cũng như xăng dầu là nhiên liệu cho động cơ đốt trong nên dầu không được phép có tạp chất cơ học và nước; hàm lượng keo nhựa và các chất gây ăn mòn (axit, lưu huỳnh) phải được khống chế trong phạm vi cho phép. Biodiesel – nhiên liệu sinh học Biodiesel còn được gọi là diesel sinh học bắt đầu được sản xuất khoảng giữa những năm 1800, trong thời điểm đó người ta chuyển hóa dầu thực vật để thu Glycerin ứng dụng làm xà phòng và thu được các phụ phẩm là metyl hoặc ethyl Este gọi chung là biodiessel [7,11, 25]. Dưới đây là sơ đồ phản ứng thu biodiesel: 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phản ứng trên được gọi là phản ứng chuyển vị este (transesterification).
Bản chất của phản ứng nằm ở chỗ “phá vỡ” cấu trúc cồng kềnh của triglyxerit và tạo thành este với kích thước nhỏ hơn nhiều lần. Do vậy biodiesel thu được sẽ có độ nhớt giảm và độ bền oxi hóa tăng so với dầu thực vật ban đầu. Như vậy ở đây chúng ta đề cập về bản chất biodiesel là một loại nhiên liệu có tính chất giống với dầu, là những metyl, ethyl este của những axit béo, nó có thể được sản xuất từ mỡ động vật, hoặc dầu thực vật, từ các lọai mỡ động vật hỏng, kém chất lượng, hoặc từ dầu ăn đã qua sử dụng. Ở Mỹ người ta sản xuất biodiesel từ dầu hạt đậu tương.
Người ta phân lọai biodiesel dựa vào thể tích của biodiesel nguyên chất pha vào diesel, nếu pha 2% biodiesel nguyên chất vào diesel, ta gọi là biodiesel B2, còn nếu hoàn toàn là biodiesel nguyên chất thì gọi là B100. Hiện nay trên thị trường có bán 2 lọai biodiesel phổ biến đó là B2 và B20 [9, 17, 36]. Mặt khác chúng không độc và dể phân giải trong tự nhiên nên Biodiesel được biết tới như nguồn năng lượng xanh, sạch chống lại ô nhiễm môi trường mà từ lâu các nhà khoa học đã nghiên cứu và nhất là trong lúc giá dầu đang ở mức cao thì việc tận dụng nguồn mỡ cá tra để sản xuất biodiesel cũng là một giải pháp hiệu quả. Các nguồn nguyên liệu để sản xuất biodiesel 1.
Dầu thực vật Nói chung, các hạt quả của thực vật đều chứa dầu, nhưng dầu thực vật chỉ dùng để chỉ dầu của các cây có dầu với hàm lượng lớn, như: đậu phộng, đậu nành, cải dầu, ô liu, hướng dương, dừa, cọ… Trong số các cây này, nhiều cây lấy dầu 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không dùng trong thực phẩm nên không ảnh hưởng đến an ninh lương thực, như: Jatropha, Karanja, kusum… (do cây chứa độc tố). Hàm lượng dầu trong các loại hạt cũng khác nhau, ngoài ra còn để giảm giá thành sản phẩm biodiesel và tăng sản lượng, việc lựa chọn nguồn nguyên liệu thô ở từng vùng là khác nhau [42].2 – Thành phần acid béo của một số loại dầu thực vật 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thành phần hóa học của dầu thực vật chủ yếu là các phân tử triglyceride, khác nhau ở cấu trúc và độ lớn của gốc axit béo. Bên cạnh đó trong dầu thực vật còn chứa một lượng nhỏ axit béo tự do, đặc trưng bởi chỉ số axit. Chỉ số axit càng cao thì hiệu suất phản ứng transester hóa trực tiếp càng thấp, sẽ khiến nhà sản xuất tốn kém thêm công đoạn ester hóa axit béo tự do.
Cuối cùng, là các thành phần phụ của dầu thực vật, bao gồm cả các thành phần chứa lưu huỳnh, photpho, nitơ… là các thành phần cần chú ý trong sản xuất để tránh gây ô nhiễm môi trường. Ưu điểm: Dầu thực vật là nguồn tái sinh được, hơn nữa các cây thực vật còn thân thiện với môi trường và các thông số về mặt năng lượng gần giống với nhiên liệu diesel, do đó động cơ không cần cải tiến vẫn có thể sử dụng nhiên liệu biodiesel trộn lẫn diesel thông thường. Nhược điểm: Do đặc thù sản phẩm thực vật có sản lượng và tính chất sản phẩm phụ thuộc địa lý tự nhiên, thời tiết, do đó sản lượng không được đảm bảo ổn định, giá thành cao do phải qua nhiều khâu sơ chế, chuyển đổi. Ngoài ra nhiên liệu biodiesel từ dầu thực vật còn có nhược điểm lớn nhất là độ nhớt cao, do đó ở nhiệt độ thấp sẽ khó sử dụng.
Việc bảo quản thành phẩm cũng gặp khó khăn do phản ứng của các mạch hydrocacbon chưa bão hòa. Mỡ động vật Mỡ động vật từ các ngành công nghiệp thực phẩm hiện nay là khá lơn, do một số loại mỡ không được khuyến khích sử dụng cho mục đích chế biến thực phẩm bởi khả năng gây bệnh của chúng. Mỡ động vật hiện tại chủ yếu là mỡ gia súc từ các lò giết mổ và mỡ cá từ các xưởng chế biến thủy hải sản. Các loại phế phẩm trong công nghiệp thực phẩm này gặp vấn đề trong xử lý tiêu hủy và tái chế, do đó việc sử dụng chúng vào sản xuất biodiesel đồng thời cũng có lợi với môi trường.
Tại Việt Nam đã có nhiều cơ sở sản xuất biodiesel từ mỡ cá basa công suất lớn, thậm chí còn xuất khẩu [28]. Thành phần hóa học của mỡ động vật tương tự dầu thực vật, tuy nhiên chỉ số axit của mỡ động vật là khá cao, ảnh hưởng nhiều đến hiệu suất transester hóa. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 – Thành phần axit béo của một số loại mỡ động vật Ưu điểm: không ảnh hưởng an ninh lương thực và giá thành nguyên liệu thô rẻ do sản phẩm dùng là phế phẩm của ngành công nghiệp thực phẩm. Ngoài ra sử dụng phế phẩm loại này còn có lợi cho môi trường.
Đây cũng là nguồn nguyên liệu tái sinh, sản phẩm không độc và phân giải được trong tự nhiên, hàm lượng các hợp chất thơm và lưu huỳnh thấp – thân thiện với môi trường. Không cần cải tiến động cơ vẫn có thể sử dụng nhiên liệu. Nhược điểm: độ nhớt sản phẩm cao, chứa nhiều mạch không no do đó thời tiết lạnh không sử dụng được. Việc bảo quản cũng gặp khó khăn.
Các khâu chế biến và lọc tạp chất còn chưa tìm được giải pháp tiết kiệm. Dầu mỡ thải trong công nghiệp thực phẩm Dầu mỡ thải thực chất là các loại dầu thực vật và mỡ động vật đã được sử dụng qua trong ngành công nghiệp thực phẩm. Sử dụng nhiều lần dầu mỡ sẽ sinh ra độc tố, do đó ngành công nghiệp thực phẩm mỗi năm thải ra một sản lượng rất lớn dầu mỡ đã qua sử dụng. Thành phần hóa học của dầu mỡ thải là gần tương tự dầu thực vật và mỡ động vật, tuy nhiên qua các quá trình sử dụng nhiệt, thậm chí là sử dụng nhiều lần một lượng dầu, tính chất của dầu mỡ đã thay đổi.
Độ nhớt nguyên liệu tăng, nhiệt dung riêng tăng, màu sắc thay đổi, giảm sức căng bề mặt, tạo các hợp chất dễ bay hơi và chứa nhiều không khí bão hòa trong sản phẩm. Qua các quá trình chiên rán, các phản ứng nhiệt phân (dưới tác dụng của nhiệt và không có oxy) tạo CO, CO2, các hợp chất dimer, kêtôn, ester,… và các hợp chất không no; các phản ứng oxy hóa 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com theo cơ chế gốc tự do tạo các hợp chất dimer và oligomer cồng kềnh; các phản ứng thủy phân tạo axit béo tự do, monoglyceride và diglyceride… Do các axit béo có thể mất đi trong quá trình chiên rán, do đó người ta không dùng chỉ số axit mà dùng hàm lượng chất phân cực để xác định chất lượng dầu mỡ thải, có thể xác định bằng HPSEC [10, 41]. Ưu điểm: nguồn nguyên liệu thô rất rẻ, không cạnh tranh nguyên liệu với ngành khác, thân thiện với môi trường, không độc hại và phân giải tự nhiên được, chỉ số xêtan của sản phẩm cao, hàm lượng các chất thơm và lưu huỳnh thấp, sử dụng được cho động cơ không cải tiến. Nhược điểm: giá thành sản phẩm cao do mất nhiều chi phí cho công đoạn thu hồi và tinh sạch sơ bộ; độ nhớt cao, nhiệt độ đông đặc thấp, nhiều cặn rắn có hại cho động cơ; dễ bị oxy hóa ngoài môi trường; chứa nhiều bọt khí và nước gây sủi bọt, khó khăn trong điều chế; sản phẩm biodiesel tạo nhiều NOx khi thử nghiệm.
Vi sinh vật và tảo biển TS.